Jump to content


Đặc điểm địa chất tỉnh An Giang


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
2 replies to this topic

#1 chuayeulannao

chuayeulannao

    Super Member

  • Thành viên
  • PipPipPipPipPip
  • 511 Bài viết:
  • Joined 30-May 06
  • Reputation: 75
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐHKHTN TPHCM

    Posted 07 January 2008 - 01:02 PM

    Đồi Núi An Giang

    An Giang là 1 trong 2 tỉnh ĐBSCL có đồi núi, hầu hết đều tập trung ở phía Tây Bắc của tỉnh, thuộc 2 huyện Tịnh Biên và Tri Tôn. Đây là cụm núi cuối cùng của dãy Trường Sơn , nên đặc điểm địa chất cũng có những nét tương đồng với vùng Nam Trường Sơn, bao gồm các thành tạo trầm tích và magma.

    Các thành tạo magma :

    Trên địa bàn An Giang, loại đá núi lửa có tuổi Jura thượng lộ ra ở phía Đông núi Dài, phía tây vồ Bồ Hong của núi Cấm, phía Nam núi Phú Cường (Tà Péc), phía Bắc đồi Sà Lôn. Thành phần chủ yếu của loại đá này là andesit và những mảnh vỡ được kết dính lại. Đá andesit có màu xám đen, xám xanh đôi khi phối lục. Đá có cấu tạo dòng chảy, đôi khi có cấu tạo hạt nhân được lấp đầy bởi carbonat và thạch anh thứ sinh. Khoáng vật phụ trong đá có apatit và ít quặng. Về thành phần thạch học, đá có hàm lượng oxit silic (SiO2) là 57-78% , độ kiềm trung bình nhưng thường tăng cao dọc theo ranh giới tiếp xúc với các đá xung quanh.

    - Loại đá granitoit tuổi Jura thượng :

    Các hoạt động mạnh mẽ của vỏ trái đất trong thời kỳ tạo sơn đã hình thành nên khối núi Cô Tô, bao gồm 2 pha. Pha đầu là nhóm đá có thành phần thạch học: diorit, diorit-pyrocene. Pha 2 có các loại đá granite màu xám trắng, chứa nhiều mica và horblem, đặc biệt trong đá này chứa nhiều khoáng vật biotite có màu đen tuyền khi bị phong hóa sẽ chuyển sang thành plogopite (mica vàng) có màu vàng lấp lánh.

    Mõ đá Núi Sập

    - Loại đá granite hồng tuổi Créta :

    Đây là pha xâm nhập được xếp vào phức hệ Đèo Cả có tuổi địa chất là Créta. Chúng được chia thành 3 pha xâm nhập khác nhau .

    Pha 1 có diện tích lộ hẹp, hình thành từng dải có chiều ngang từ 700m đến 800m, phân bổ ở sườn phía Đông của núi Cấm, từ khu Lâm Viên đến tiếp giáp với phía Bắc núi Nam Qui. Đá có màu phớt hồng.

    Pha 2 xâm nhập chính ở khu vực núi Dài, phía tây Bắc núi Cấm, núi Tượng và các khối núi nhỏ như núi Két , Trà Sư , Ba Thê , Bà Đội. Đá có màu hồng.

    Pha 3 phân bổ ở các khối núi nhỏ cô lập như núi Sập , thành phần chủ yếu là granite hạt nhỏ chứa biotite.

    Pha đá mạch, thường gặp là ở các mạch aplite, pecmatite có kích thước nhỏ với bề ngang từ vài cm đến vài mét phân bổ rải rác xen kẹp trong các núi Bà Đội , Bà Khẹt, đặc biệt có mạch aplite ở núi Két có bề rộng đến vài mươi mét và là nguồn cung cấp nguyên liệu quan trọng cho kỹ nghệ gạch ceramic.

    - Loại đá micro-granite tuổi Créta :

    Các loại đá này được xếp vào phức hệ Cà Ná, phân bổ chủ yếu ở các núi cô lập như núi Sam, núi Trà Sư , núi Nổi. Đá có màu xám sáng, hạt nhỏ. Nhiều nơi tập trung thành mỏ như mỏ molipdenite ở núi Sam.

    Các thành tạo trầm tích :

    Ở tỉnh An Giang được phân chia thành các phân vị địa tầng sau:

    - Loại trầm tích có tuổi Trias-hệ tầng Dầu Tiếng :

    Nó lộ ra ở địa hình đồi núi thấp như các núi Nam Qui, Tà Pạ, Phú Cường với thành phần từ dưới lên trên gồm :

    Phần dưới chủ yếu là cát kết thạch anh, màu xám hoặc đỏ, phân lớp dày.

    Phần trên cát kết hạt vừa và hạt thô, thành phần đa khoáng, đôi khi chứa cuội với các thấu kính cuội kết.

    - Loại trầm tích có tuổi Créta-hệ tầng Phú Quốc :

    Các loại này xuất hiện ở Tri Tôn, phần cao của núi Nam Qui. Thành phần chủ yếu của hệ tầng là cát kết thạch anh –fenspath màu trắng, đôi khi phớt hồng, phân lớp trung bình đến dày, xen kẽ với những cuội kết .

    - Loại trầm tích có tuổi Pleistocene :

    Trên diện tích tỉnh An Giang được chia thành các phân vị địa tầng:

    l Pleistocene thượng có nguồn gốc trầm tích biển, tồn tại 2 kiểu mặt cắt như sau :

    Kiểu mặt cắt thềm biển cổ: tồn tại dưới dạng dải hẹp (chiều ngang từ 1m-2m) viền quanh các khối núi thuộc các xã An Cư, Thới Sơn (huyện Tịnh Biên). Thành phần trầm tích chủ yếu là cát hạt thô có độ lựa chọn kém lẫn ít bột và tảng lăn đá gốc.

    Kiểu mặt cắt trầm tích biển nông ven bờ: lộ trên mặt dọc kênh Vĩnh Tế, từ An Phú đến Lạc Quới. Thành phần trầm tích chủ yếu là bột, sét và 1 ít sạn sỏi ở phần giáp đáy.

    - Loại trầm tích có tuổiHolocene:

    l Holocene trung có nguồn gốc trầm tích biển:

    Địa bàn An Giang, các trầm tích xếp vào phân vị này lộ trên mặt dưới dạng các dải thềm hẹp với bề ngang thay đổi từ 1-2km đến 4-5km viền quanh các khối núi ở khu vực Tri Tôn , Ba Thê , núi Sập. Chúng được chia thành 2 kiểu mặt cắt như sau:

    Mặt cắt kiểu thềm biển có thành phần chủ yếu là cát hạt trung-mịn lẫn bột sét và chứa ít sỏi sạn.

    Mặt cắt kiểu trầm tích biển nông, cửa sông, vũng vịnh chỉ gặp trong các lỗ khoan độ sâu từ 2-3m và thay đổi từ 2-3m đến hơn 10m. Trầm tích chủ yếu là bột, cát, sét, mịn, không nhiều sỏi, sạn ở đáy, có nơi vỏ sò tập trung dạng dải (ám tiêu) như ở khu vực Vọng Thê (huyện Thoại Sơn).

    l Holocene trung có nguồn gốc trầm tích sông - biển:

    Nhóm trầm tích này thường lộ ra rộng rãi trên mặt, chiếm phần lớn diện tích tỉnh An Giang dưới dạng đồng bằng. Trầm tích này có quan hệ chuyển tiếp với các trầm tích biển tuổi Holocene giữa , thành phần chủ yếu là sét, sét bột, bột có màu xám xanh đến nâu , vàng…

    l Holocene trung-thượng phần dưới có nguồn gốc trầm tích biển:

    Nó lộ ra ở khu vực Ba Chúc, Vĩnh Gia ở dạng đồng bằng thấp (có độ cao 1,5-2m) tạo thành dãy uốn lượn kéo dài theo hướng Tây Bắc-Tây Nam. Thành phần trầm tích gồm sét, cát mịn và không nhiều sạn, sỏi ở đáy.

    l Holocene trung-thượng phần trên có nguồn gốc trầm tích sông- đầm lầy:

    Nhóm này phân bố dạng dải trũng thấp, kéo dài theo hướng gần Bắc-Nam từ núi Sam tới Cô Tô, với bề ngang thay đổi từ 4-5km đến cả chục km. Ngoài ra, chúng còn có mặt không nhiều ở Ba Chúc và Lương Phi. Thành phần trầm tích gồm sét, bột, mùn thực vật phân hủy kém, than bùn.

    l Holocene thượng được phân thành 2 dạng trầm tích khác nhau:

    Trầm tích sông-đầm lầy: Chủ yếu phân bổ ở Vĩnh Gia, Ba Chúc, An Tức, Tà Đảnh, trên độ cao địa hình 1-2m tạo thành các dải kéo dài theo hướng Tây Bắc-Đông Nam hoặc hướng kênh tuyến. Thành phần chủ yếu của tầng này là than bùn, xác thực vật, rất ít sét … lấp đầy lòng sông cổ.

    l Trầm tích sông:

    Trầm tích sông còn gọi là trầm tích phù sa mới. Chúng phân bố phổ biến dọc theo 2 bên bờ sông Tiền , sông Hậu và một số sông rạch khác. Dải bồi tích có bề rộng không đồng nhất mà thay đổi phụ thuộc vào sự uốn khúc của sông. Đặc biệt là những nơi dòng sông đang có sự dời lòng như ở các xã Phú Hữu, Vĩnh Trường , Vĩnh Hòa (Tân Châu), xã Đa Phước (An Phú), xã Khánh Hòa (Châu Phú) … Chúng tạo nên những bãi bồi được ngăn cách bằng những trũng nhỏ dưới dạng những con rạch (xép). Thành phần trầm tích chủ yếu là bột sét và cát mịn. Tùy thuộc vào điều kiện và môi trường thành lập mà chúng được chia thành các kiểu trầm tích :

    Trầm tích đê tự nhiên: Là dải đất khá cao, phát triển dọc 2 bên bờ sông, rạch lớn do vật liệu các trận lũ bồi đắp nên. Bề ngang các dải đê tự nhiên từ vài chục mét, có nơi đến vài km, do sự chuyển dịch liên tục của dòng sông như ở Thạnh Mỹ Tây (Châu Phú), rạch Cỏ Lau ở Vĩnh Hòa (Tân Châu). Đê tự nhiên trở thành đất thổ cư, khu đô thị , đường giao thông.

    Trầm tích bưng sau đê: Thường xuất hiện ngay sau đê hoặc giữa các đê tự nhiên, là nơi có địa hình hơi trũng, vật liệu trầm tích chủ yếu là sét , bột. Bưng sau đê thường được dùng cho trồng lúa; dễ bị lầy hóa, ngập úng.

    Trầm tích đồng lụt (hay là đồng phù sa): Đây là diện tích bị ngập lũ hàng năm. Do mặt đất trải rộng, thời gian ngập lũ lâu nên đồng lụt là một bồn khổng lồ để phù sa mịn hạt của sông trầm lắng. Càng xa sông, lớp phù sa trầm lắng càng mịn hạt và ít dần.


    Khai thác tài nguyên trên sông

    Trầm tích bưng lầy và trấp: Là các trũng nhỏ, dạng nằm cách xa sông, đất không có điều kiện thấm nước và thoát nước, nên độ ẩm duy trì suốt năm. Đây là nơi tiếp giáp giữa đồng lụt thấp và thềm bồi tích chân núi. Trầm tích chủ yếu là xác bã thực vật sinh sống trong môi trường đầm lầy, khi chết tạo thành lớp hữu cơ dày 1-2m, vượt quá 20% trong đất. Bưng lầy lúc đó gọi là đất trấp. Ở An Giang, bưng lầy và trấp phân bố thành đai kéo dài ở phía Đông của vùng Bảy Núi…

    Cồn sông (hay là cù lao sông), doi sông mới là phần đất phát triển ngang được nhô ra do dòng sông dịch chuyển hướng dòng chảy đi nơi khác, vật liệu thô thường được bẫy lại. Thành phần chủ yếu là cát thô và bột. Đây là phần trầm tích đáy của lòng sông Hậu và sông Tiền. Cồn sông có địa hình không bằng phẳng, nó được bao bọc bởi gờ cao chung quanh, ở giữa cồn thường có địa hình lồi lõm, dấu vết của quá trình gắn liền những cồn sông cổ lại với nhau. Nơi có cơ cấu cây trồng rất đặc biệt, gồm các loại cây ăn trái và màu.

    Khoáng sản.

    Nhóm vật liệu xây dựng:


    Công trường sản xuất đá xây dựng
    - Đá xây dựng: có nhiều chủng loại, bao gồm các loại đá trầm tích và magma, phân bố tại các khu vực núi Tà Pạ, Nam Qui, Phú Cường, Cô Tô, Trà Sư… Phạm vi sử dụng cũng đa dạng như : đá trải đường, đá xây, đổ bêtông.

    l Loại đá granit ở An Giang có 2 nhóm:

    Khai thác đá Granit
    Nhóm sáng màu mịn hạt: phân bố ở núi Trà Sư, núi Két, núi Bà Đội (Tịnh Biên), núi Sập, núi Ba Thê nhỏ, núi Tượng, núi ***c, núi Trọi (Thoại Sơn).

    Nhóm sậm màu hạt thô: phân bố ở núi Cô Tô, núi Ba Thê.

    Trữ lượng dự báo ước tính khoảng 11 triệu m3.

    l Loại đá phun trào: ở khu vực phía Nam của núi Dài, núi Phú Cường, núi Sà Lôn và phía Nam núi Cấm. Đá có màu xanh đen, cường độ chịu lực không cao (700-1000kg/cm2) nhưng lại khó vỡ và sử dụng tốt cho các công trình dân dụng.

    - Cát xây dựng, có 2 nhóm:
    Khai thác cát trên sông Hậu
    l Cát núi: nằm theo triền hoặc trong các trũng giữa núi Cấm và núi Dài thuộc các xã An Cư, Thới Sơn, là sản phẩm trầm tích do dòng nước mang cát từ trên triền cao của các thềm cổ tích tụ mà thành. Thường có màu trắng tương đối thô hạt và độ chọn lựa yếu.


    l Cát sông: Cát vàng phục vụ cho xây dựng ở Tân Châu (sông Tiền) đã nổi tiếng. Những bãi cát sông có khả năng khai thác xuất hiện trên sông Tiền và sông Hậu với tổng lượng khai thác hàng năm gần 2 triệu khối. Trên sông Tiền có 4 khu vực và sông Hậu có 8 khu vực.

    - Đất sét gạch ngói:

    Phơi gạch

    Các vùng đất nông nghiệp ở Châu Thành , Châu Phú đều thích hợp cho sản xuất gạch ngói. Đất có nguồn gốc từ phù sa sông hiện tại. Chỉ cần khai thác ở lớp đất bề mặt dày 0,2 - 0,3m là có thể đủ để cung cấp cho hơn 400 nhà máy sản xuất gạch ngói lớn nhỏ trong toàn tỉnh. Sau đó, chỉ trong vòng 2 - 3 mùa ngập lũ phù sa lại lấp đầy như cũ. Sét gạch gốm ở An Giang dùng làm gạch ống, gạch thẻ, ngói lợp, gạch tàu.

    Nhóm vật liệu trang trí :

    Sản xuất đá ốp lát xuất Khẩu

    - Đá ốp lát : Ở An Giang chủ yếu là các nhóm đá granite, granodiorite, rhyolite có nhiều màu sắc rất được ưa chuộng trong trang trí cao cấp. Cụ thể có các loại đá ốp lát như: granite hồng xen đốm đen, hoa văn nhỏ, granodiorite con tằm có màu xám xanh, hoa văn dạng đốm lớn hình da báo, granite hồng ở khu mỏ Ô Mai… Ngoài ra, còn có đá phiến đen ở núi Phú Cường, núi Nam Qui. Những mỏ đá có thể khai thác làm đá ốp lát:

    l Mỏ đá núi Cấm, chủ yếu nằm trên sườn Đông Nam núi Cấm, xen giữa dãy núi Cấm và núi Nam Qui.

    l Mỏ đá Gập Ghềnh: ở phía Bắc núi Dài nhỏ và là 1 phần rất nhỏ khối granite thuộc pha 2 phức hệ Đèo Cả tuổi kareta thuộc xã An Phú (Tịnh Biên).

    - Đá aplite:

    Đá aplite ở An Giang đã được khai thác cung cấp cho các nhà máy sản xuất gạch ceramic Đồng Tâm, An Giang và Thành phố HCM. Bên cạnh aplite, những mạch pecmatic chứa tràn kali và natri rất quí cho công nghiệp gốm sứ, sành sứ được tìm thấy ở núi Sập và khu vực Bảy Núi.

    Than bùn:

    Các mỏ than bùn ở An Giang được phân bố chủ yếu ở khu vực Bảy Núi thuộc 2 huyện Tịnh Biên, Tri Tôn. Trữ lượng dự báo của các mỏ than bùn của tỉnh khoảng 7.632.430 tấn (cấp A + B + C1) và tổng tiềm năng là 16.886.730 tấn. Hầu hết các mỏ đều có chất lượng than bùn tốt, đáp ứng được yêu cầu sản xuất phân hữu cơ vi sinh và acid humic.

    Có 2 loại than bùn khác biệt nhau: Than bùn dạng vỉa ở các mỏ Núi Tô, Tà Đảnh, Ba Chúc, và than bùn dạng dải theo các lòng sông cổ ở An Tức , Vĩnh Gia.

    Vỏ sò:

    Mỏ vỏ sò ở An Giang được hình thành trong vùng cửa sông, nằm trong cảnh quan chung miền Tây - Tây Nam sông Hậu và những khối vỏ sò nằm rải rác, kéo dài theo hướng Tây Nam - Đông Bắc. Khối lượng mỗi mảnh sò có thể là 0,2 - 0,5kg. Càng xuống sâu vỏ sò càng lớn. Chúng phân bố thành những khối với bề mặt đáy bằng phẳng, vách dốc. Chiều dày trung bình lớp phủ của các khối thay đổi từ 0,69 đến 1,55m , chiều dày trung bình của khối vỏ sò từ 6,83 đến 7,55m. Các di tích vỏ sò này được hình thành trong điều kiện cửa sông vào Holocene giữa muộn.

    Thành phần hóa học vỏ sò chủ yếu là oxyt canxi (CaO) chiếm 54,20 - 54,91% . Ngoài ra trong vỏ sò còn chứa 1 ít hàm lượng oxytmahe (MgO) và oxit silic (SiO2) , được sử dụng vào công nghệ sản xuất xi-măng trắng và làm phối liệu trong phân NPK.

    Đất sét:

    - Đất sét cao-lanh An Giang chủ yếu tập trung ở vùng Bảy Núi do quá trình phong hóa của các đá mang khoáng này ở núi Cấm, núi Dài, núi Cô Tô, núi Nam Qui, núi Tà Pạ… Đây là nguồn vật liệu làm sứ cách điện cao cấp.

    Cao-lanh ở đây có 2 nguồn gốc tạo thành:

    l Nguồn gốc phong hoá tại chỗ của các đá cát kết, bột kết giàu fenspath thuộc trầm tích Créta hệ tầng Phú Quốc và của granit sáng màu, giàu fenspath.

    l Nguồn gốc trầm tích: của các đá giàu fenspath bị phá hủy do các điều kiện lý hóa, rửa trôi và trầm tích trong các trũng giữa núi.

    Đất sét cao-lanh không chỉ dùng trong sản xuất sành sứ, mà còn nhiều công dụng như: làm khung xương gạch men cao cấp, tinh chế làm chất mang trong dược liệu, làm thủy tinh **c, bột sơn , chất mang của thuốc trừ sâu.

    - Đất sét bentonite : một loại đất chứa nhiều khoáng montmorillonite . Nguyên liệu rất thông dụng trong công nghiệp, đặc biệt dùng làm chất tẩy rửa và hút nhờn, nên chúng được sử dụng làm chất tẩy rửa dầu nhớt và làm dung dịch trong các giếng khoan dầu nhớt. Bentonite ở An Giang được tìm thấy tại xã Lê Trì huyện Tri Tôn, với trữ lượng khá lớn.

    Đá quí và ngọc:

    Ở núi Nam Qui và núi Tà Pạ, thỉnh thoảng người dân địa phương nhặt được những viên đá quí lộ ra ở những đoạn đường trải đá núi, đó là các loại mã não, các cây hóa thạch.

    Một số vùng rìa tiếp xúc giữa đá granit với đá xung quanh phát sinh 1 số loại đá quí khác như hồng ngọc . Một số loại thạch anh ám khói, thạch anh tím được tìm thấy trong các mạch pecmatic ở Ba Thê, núi Két…

    Quặng kim loại:

    - Quặng molipden: Đã được người Nhật khai thác từ hơn 40 năm trước mà miệng hầm mỏ vẫn còn ở núi Sam. Mạch quặng molipdenit có màu xám đen đi kèm với đá pecmatic. Ngoài ra, molipden còn được phát hiện trong 1 số mạch đá ở núi Trà Sư, núi Két nhưng không nhiều.

    - Quặng mangan: Là lớp bột màu tím đỏ hoặc tím đen (MnO2), phân bố ở Tà Lọt . Loại khoáng này đã được khai thác từ năm 1936. Quặng mangan thường đi kèm với sắt ở trong đá trầm tích bị biến chất.

    Nước khoáng thiên nhiên:

    Ở An Giang, đặc biệt là ở vùng Bảy Núi, các khu mội nước khoáng thường tìm thấy dọc theo các đới đứt gãy tân kiến tạo.

    - Dọc theo trục đứt gãy phân cắt núi Phú Cường và núi Dài, núi Cấm và núi Dài hình thành nơi thung lũng Ô Tà Sóc (Tri Tôn) có 6 điểm lộ nước khoáng : núi Cậu, An Cư-nằm về phía Bắc núi Phú Cường, Soài Chết, Suối Vàng, Sà Lôn và Tà Pạ. Tại các điểm này, nước có tổng độ khoáng hóa từ 500mg/l đến 2.750mg/l.

    - Hệ thống thứ hai nằm dọc theo trục đứt gãy chia cắt núi Két và núi Dài (dọc theo trục tỉnh lộ Nhà Bàn-Tri Tôn) gồm các điểm lộ:

    l Điểm lộ Nhà Bàn, xuất hiện phía dưới Bắc núi Két.

    l Điểm lộ Vĩnh Trung, xuất hiện nhiều giếng đào chứa nước khoáng .

    l Điểm lộ Chi Lăng, nước khoáng xuất hiện trong nhiều giếng cạn ở trung tâm thị trấn Chi Lăng.

    l Khu mội Tri Tôn, xuất hiện phía Bắc thị trấn Tri Tôn.

    l Khu mội Cô Tô, không tìm thấy điểm lộ thiên nhưng qua các giếng khoan đã tìm ra nước khoáng ở độ sâu 123m.

    Diatomite:

    Ở An Giang, diatomite được phát hiện ở Lê Trì (Tri Tôn) nằm cách mặt đất từ 1,8-2,2m. Bề dày bình quân khoảng 1,7-2m, trữ lượng dự báo khoảng từ 800.000 đến 1.000.000 tấn. Các loại diatomite có ở đây đều lẫn sắt hoặc chất hữu cơ rất cao, nên thường có màu xám đen hoặc vàng. Do vậy, màu trắng và tính ròng của diatomite An Giang là vô cùng đặc sắc ; có thể sử dụng rộng rãi trong công nghiệp lọc hoạt tính, đặc biệt là lọc bia, rượu, dầu ăn.



    Kính mời các đồng nghiệp xa gần đóng góp cho cuộc thi Chất Động Pangaea lần thứ XIII - năm 2016 Thời gian bắt đầu cuộc thi: 06/03/2016

    Facebook Comments

    #2 tocoda

    tocoda

      Newbie

    • Thành viên
    • Pip
    • 2 Bài viết:
    • Joined 12-April 08
  • Reputation: 0

    Posted 12 April 2008 - 10:51 PM

    Không biết có ai có chỉ tiêu cơ lý của đất khu vực miền tây không? Mình ở Trà vinh

    #3 doanhung

    doanhung

      Newbie

    • Thành viên
    • Pip
    • 3 Bài viết:
    • Joined 22-December 09
  • Reputation: 0

    Posted 19 August 2010 - 10:24 AM

    View Posttocoda, on 12 April 2008 - 10:51 PM, said:

    Không biết có ai có chỉ tiêu cơ lý của đất khu vực miền tây không? Mình ở Trà vinh

    Ban can khu vuc nao minh co the giup ban



    Bài viết tương tự Collapse