Jump to content


Lý luận văn hóa


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
1 reply to this topic

#1 ThanhdcB

ThanhdcB

    Super Member

  • Thành viên
  • PipPipPipPipPip
  • 585 Bài viết:
  • Joined 06-November 08
  • Reputation: 143
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:MDA
    • Interests:Film, Sports, Music...
      http://www.facebook.com/Thanhdcb

    Posted 30 May 2011 - 10:01 AM

    Attached File  STT.doc   35K   16 downloadsAttached File  STT.doc   35K   16 downloadsAttached File  STT.doc   35K   16 downloadsBÀI TIỂU LUẬN MÔN : LÝ LUẬN VĂN HOÁ

    STT

    MỤC NỘI DUNG TRANG
    1 Phần mở đầu
    2
    2 Chương I Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về bản sắc dân tộc của văn hoá
    3
    3 1.1 Những quan niệm khác nhau về văn hoá
    3
    4 1.2 Những quan niệm khác nhau về bản sắc dân tộc của văn hoá
    5
    5 1.3 Vấn đề thực tiễn về văn hoá và bản sắc dân tộc của văn hoá
    10
    6 1.4 Đánh giá những thành tựu cơ bản của lĩnh vực văn hoá
    14
    7 Chương II Đê xuất , kiến nghị

    17
    8 Chương III Kết luận 18
    9 Danh mục tham khảo
    19
    MỤC LỤC

    PHẦN MỞ ĐẦU

    Vào những năm đầu của thế kỷ 21 cùng với sự giao lưu quốc tế tăng lên, những nền văn hoá của các nước không khép kín mà trao đổi ảnh hưởng lẫn nhau.Những nguyên tắc cấu tạo nội dung,những thành tố hình thức mang đậm tính quốc tế.Sự tác động của những điều kiện mới vào nền văn hoá làm cho văn hoá có những biến đổi. Sự biến đổi ấy xảy ra theo 2 chiều hướng hoặc tích cực hoặc tiêu cực Song dù có thế nào đi chăng nữa cũng làm mai một đi những giá trị văn hoá mang đậm nét truyền thống dân tộc.
    Nhân loại ngày nay là sự hợp thành của nhiều dân tộc tồn tại hàng mấy nghìn năm.Mỗi dân tộc tồn tại và phát triển đều có những bản sắc riêng.Bản sắc dân tộc thể hiện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước.Người ta dựa vào văn hoá để dánh giá một quốc gia, dân tộc.Vì vậy, ý thức về bảo vệ và giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hoá là điều cần thiêt.Bởi trong xu thế quốc tế hoá và toàn cầu hoá, mọi thứ đều có thể thay đổi.Bởi vậy việc làm này là hết sức cấp bách và không dễ dàng.Cùng với sự mở rộng thị trường và giao lưu buôn bán quốc tế, trào lưu văn hoá ngoại lâìo ạt tấn công vào văn hoá các dân tộc.Điều này làm cho văn hoá tiếp thu và học hỏi được nhiều kinh nghiệm. Nhưng cũng có thể đây là nguyên nhân làm cho văn hoá của dân tộc mất đi bản sắc riêng. Trong khi đó, văn hoá được coi là “chìa khoá của xã hội”. Để bước vào cánh cửa của xã hội thì văn hoá là điểm trọng yếu. Vậy chúng ta sẽ giữ gìn bản sắc dân tộc của văn hoá như thế nào?Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh có những nhận định gì cho văn hoá Việt Nam.?
    Xét thấy tầm quan trọng của vấn đề trên, nên trong bài tiểu luận này tôi đã mạnh dạn chọn đề tài này cho môn học Lí luận. Bằng những kiến thức đã được học và thực tiễn cuộc sống, tôI mong hoàn thành bài tiểu luận một cách hàm xúc và khái quát nhất. Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu vấn đề này để đưa ra một cái nhìn đúng đắn về bản sắc văn hoá của dân tộc.

    CHƯƠNG I: MỘT THỰC SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ TIỄN
    VỀ BẢN SẮC DÂN TỘC CỦA VĂN HOÁ

    Mỗi quốc gia dân tộc trên thế giới có một nền văn hoá khác nhau. Từ những nước xa xôi có nền kinh tế phát triển đến những vùng hẻo lánh nghèo nàn , lạc hậu.Để nhìn nhận một đất nước, người ta không chú ý tới yếu tố kinh tế mà cái họ cần là đánh giá về mặt văn hoá.Khi bị pha trộn các dân tộc,nếu anh không có nét riêng về văn hoá thì chắc chắn sẽ bị lệ thuộcvà bị đồng hoá.Chính vì thế,mỗi quốc gia đang cố gắng xây dựng cho mình một nền văn hoá tiên tiến mang sắc thái riêng biệt.Để xây dựng một nền văn hoá trước hết cần phải hiểu bản chất của văn hoá là gì?Trên thực tế, từ khi 2 chữ văn hoá ra đời, trên thế giới cũng có không ít những cách hiểu và quan niệm về nó khác nhau.

    1.1 Những quan niệm khác nhau về văn hoá

    Trong đời sống hằng ngày, văn hoá được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Nó có thể là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Cũng có khi dược hiểu là nghệ thuật ,là trình độ học vấn, là hành vi ứng xử ,là nếp sống là đạo đức xã hội.
    Có rất nhiều quan niệm về văn hoá. Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu ,phương pháp nghiên cứu của từng tác giả mà văn hoá được định nghĩa rất khác nhau.
    Theo PGS-TS Hoàng Vinh trong cuốn “ Mấy vấn đề lý luận và xây dựng văn hoá ở nước ta” ,ông định nghĩa:
    “Văn hoá là toàn bộ sáng tạo của con người ,tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn xã hội được đúc kết thành hệ giá trị và hệ ứng xử văn hoá cộng đồng nguời .Hệ giá trị xã hội là thành tố cốt lõi làm nên bản sắc riêng của một cộng đồng xã hội. Nó có khả năng chi phối đời sống tâm lý và hoạt động của những con người sống trong cộng đồng xã hội ấy”.
    Từ khi sinh ra mỗi người đều được gia đình ,nhà trường ,xã hội giáo dục phải có lòng yêu nước “thương người như thể thương thân, lòng tự trọng giữ gìn nhân phẩm trong mọi cảnh ngộ nghèo khó “đói cho sạch rách cho thơm”, biết coi trọng thực tiễn trăm hay không bằng tay quen” . Trong giao tiếp xử thế phép lịch sự khôn ngoan nhưng vẵn thật thà trung thực .”Tiến chào cao hơn mâm cỗ, lời nói không mất tiền mua …” .Phải chăng tất cả những điều chúng ta học được là những giá trị văn hoá , những gì ông cha ta đã đúc kết lại trong quá trình lao động, thực tiễn để truyền lại cho thế hệ sau. Tất cả những gì đã làm thành hệ tư tưởng, hệ giá trị thì những ai đi ngược lại đều được coi là không có văn hoá.
    Đứng ở một góc độ khác của văn hoá, ông Trần Ngọc Thêm trong cuốn “ Cơ sở văn hoá VN” cũng đưa ra quan niệm :
    “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ có cả giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với tự nhiên và xã hội của mình”.
    Từ đó ông đã cho rằng: văn hoá có 4 đặc trưng :tính hệ thống, tính giá trị, tính lịch sử và tính nhân sinh. Theo ông văn hoá không phải là một sự vật hiện tượng hay một lĩnh vực chuyên biệt nào cả, mà đó là tất cả các lĩnh vực của đời sống , chúng bao hàm gói trọn trong hau để cùng thực hiện những chức năng xã hội . Và hơn thế văn hoá đẹp bởi nó mang tính lịch sử và vì con người.
    Gần với quan niệm của Trần Ngọc Thêm ,ông F.Mayơ-tổng giám đốc UNESCO nêu ra quan điểm của mình về văn hoá như sau:
    “Văn hoá là một bộ phận không thể tách rời cuộc sống và nhận thức- một cách hữu thức cung như vô thức- của các cá nhân và cộng đồng. Văn hoá là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ cũng như trong hiện tại. Qua các thế kỷ , hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị , các truyền thống và các thi hiệu- các yếu tố xác định đặc tính riêng của một dân tộc. Vì vậy văn hoá nhất định sẽ ghi dấu ấn của mình lên hoạt động kinh tế của con người và xác định những mặt yếu riêng của các quá trình sản xuất trong một xã hội”.
    Văn hoá luôn gắn liền với cuộc sống và con người. Nó chính là mặt nội dung của cá nhân cũng như cộng đồng người. Văn hoá sắc nét, sẽ làm cho kinh tế thêm phần gia trị .Văn hoá chẳng những là cái làm nên bản sắc của mỗi cộng đồng mà còn có vai trò liên kết xã hội ,bằng sức mạnh liên kết đó hệ giá trị có khả năng chi phối ,điều tiết mọi hành sử của nững thành viên sông trong cộng đồng xã hội ấy.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hoá :
    “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức , pháp luật khoa học tôn giáo,văn học nghệ thuật, phong tục tập quán…những công cụ sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở, và những phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá,Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt ấy với biểu hiện sống và đòi hỏi của sự sinh tôn.”
    -Hồ Chí Minh toàn tập-

    Ngoài những quan niệm của một số cá nhân những nhà lí luận, tổ chức UNESCO cũng đưa ra quan niệm về văn hoá rất chi tiết và cụ thể:
    “Văn hoá là những gì sâu sác nhất tiêu biểu cho một cộng đồng người, một dân tộc, một quốc gia.. được các thành viên trong cộng đồng chấp nhận là những gì có giá trị nhấtbao gồm cả văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, văn hoá sinh hoạt , văn hoá danh lam thắng cảnh. Văn hoá này có thể là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và cảm xúc quy định tính cách của một dân tộc, một xã hội, hoặc một nhóm người trong xã hội. Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục tín ngưỡng, văn hoá đem lại khả năng suy xet của bản thân. Chinh văn hoá làm cho chúng ta những sự vật đặc biệt nhân bản có lí tính có phê phán và dấn thân một cách đạo lý.Chính nhờ văn hoá con người tự thể hiện tự ý thức được bản thân minh, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thiện, đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt mỏi những ý nghĩ mới mẻ và sáng tạo ra những công trình vượt trội lên bản thân.”
    UNESCO đưa ra quan niệm văn hoá trên phương diện tìm hiểu về phạm vi cũng như kết quả mà văn hoá đem lại.
    Mỗi quan niệm văn hoá trên là cách đánh giá mỗi cá nhân, tác giả về văn hoá xét theo mỗi lĩnh vực mỗi khía cạnh khác nhau.Vấn đề đặt ra là, tại sao chỉ với 2 chữ văn hoá lại phải làm người ta suy ngẫm và tốn nhiều giấy mực đến thế.Văn hoá là mối quan tâm của tất cả các quốc gia và tất cả loài người.Vai trò của nó trong xã hội là rất lớn.Văn hoá đã xây dựng mẫu người lý tưởng để làm đinh hướng cho cả dân tộc.Nó trang bị cho con người những tri thức cần thiết để lao động cảI tạo tự nhiên, biết làm chủ di sản văn hoá do chính băn thân con người làm ra.Có nhiều quan niệm văn hoá được đưa ra đơn giản vì văn hoá không chỉ có ở 1 lĩnh vực ở một bộ phận đơn lẻ của đời sống mà nò bao hàm rất nhiều lĩnh vực. Tuy vậy, trong những quan niệm trên chua quan niệm nào được coi là chính thống của văn hoá Việt Nam. Quan niệm văn hoá chính thống được sử dụng làm căn cứ phát lí, khoa học để xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiến đậm đà bản sắc dân tộc, là quan niệm văn hoá trong nghị quyết TW 5 khoá VIII của Đảng . Nội dung như sau:
    “ văn hoá Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần được cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước. Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kì bị đô hộ, dân tộc ta vẫn giữ vững và phát huy bản sắc dân tộc của mình, chẳng những không bị đồng hoá mà còn quật cường đứng dậy dành độc lập cho dân tộc, lấy sức mạnh ta mà giải phóng cho ta.”
    Quan niệm văn hoá trên được Đảng lấy từ thực tiễn của đất nước. Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, trên dải đất hình chữ S này có 54 dân tộc anh em cùng sinh sống. Tuy có những ngôn ngữ, phong tục khác nhau nhưng tát cả đều đang cố gắng xây dựng hình ảnh của Việt Nam trong lòng bạn bè thế giới. Chủ nghĩa yêu nước tạo thành bản sắc dân tộc độc đáo của Việt Nam. Lịch sử luôn luôn chứng minh sức mạnh của toàn dân với điều kiện khó khăn, từ thuở xa xưa chúng ta đã đánh bại những đạo quân xâm lược mạnh hơn nhiều lần từ Tần Thuỷ Hoàng đến Nguyên Mông , từ Minh-Thanh đến Pháp Mỹ. Để có được kết quả đó là do truyền thống yêu nước chảy trong mỗi con người Việt Nam.
    Quan niệm về văn hoá được định nghĩa rất nhiều, điều này chứng tỏ rằng: Vấn đề văn hoá là vấn đề cấp thiết đang được mọi cấp mọi ngành và tất cả người dân quan tâm.Bởi vì con người là sản phẩm của cộng đồng. M à văn hoá là 1 phần của xã hội. Vì thế. Con người nhập thân vào văn hoá cộng đồng nào là sản phẩm văn hoá của cộng đồng đó. Qúa trình văn hoá hoá con người thực chất là quá trình hình thành nhân cách con người thông qua quá trình lao động sáng tạo và tư duy.Trong quá trình phát triển mỗi con người đều có cái riêng của mìnhđồng thời cũng có cáI riêng của xã hội.Do đó vấn đề văn hoá tác động rất lớn đến mõi con người. Mỗi con người đều mang những giá trị văn hoá do chính họ sáng tạo ra. Nừu văn hoá được hiểu đúng nghĩa và theo chiều hướng tiến bộ sẽ làm cho con người có trình độ phát triển cao hơn, đời sống xã hội sung túc hơn cả về giá trị vật chất và tinh thần.
    Với những quan niệm khác nhau về văn hoá, ta thấy rằng mỗi người đều có những tư tưởng khác nhau. Bởi vì học đứng ở góc độ tư tưởng khác nhau. Nhưng đóng góp chung ngất của họ là đều có những hạt nhân đúng về văn hoá cụ thể là có công phát hiện ra bản sắc của văn hoá. Đó là quá trìnhlao động sáng tạo và rư duy của con người thể hiện ở trình độ phát triển, khả năng cảI tạo tự nhiên, xã hội bản thân con người theo chiều hướng tiến bộ.
    Hiện nay quan niệm văn hoá chính thống là quan niệm triết học Macxit về văn hoá:
    “ Văn hoá là một lĩnh vực thực tiễn của đời sống xã hội thể hiện trình độ phát triển của năng lực bản chất người trong quá trình chinh phục tự nhiên, cải tạo xã hội và hoàn thiện chính bản thân mình theo chiều hướng tiến bộ. Những năng lực bản chất người ấy phải được đối tượng hoá khách quan hoá và chuẩn mực tiên tiến hoá thành những giá trị vật chất và tinh thần, tồn tại dưới dạng trạng thái hoặc dưới dạng quá trìnhhợp thành những thành tựu do con người sáng tạo ra trong lịch sử.”
    -“Lĩnh vực thực tiễn của đời sống xã hội”:là lĩnh vực có thật, là bộ phận cấu thành nên xã hội nhưng không phải cái có thật nào cũng được xem là văn hoá. Văn hoá phải là những cái phát triển ở trình độ cao tiêu biểu cho một cộng đồng người ở một thời điểm nhất định nào đó thì được coi là văn hoá.
    -“Năng lực bản chất người”: là cái riêng có của con người qua quá trình lao động sáng tạo và tư duykhác với động vật chỉ có tập tính hành vi. Vì thế, con ngườitạo ra công trình văn hoá.
    -“Đối tượng hoá”:là một quá trình chuyển hoá từ những chỉnh thể có thật vốnchưa chịu sự tác động của con người trở thành đối tượng tác động của con người. Những chỉnh thể ấy chia làm 2 loại:chỉnh thể nằm ngoài con người nhưđất đai,nhà cửa, khí hậu…và chỉnh thể nằm trong con người như khả năng lao động, sáng tạo…tạo ra sản phẩm văn hoá vật chất và tinh thần.
    -“Khách quan hoá”:là quá trình chuyển hoá từ cá chủ quan nằm bên trong con người thành cái khách quan nằm đối lập trong con người. Những cái chủ quan trong con người được khai thác thành cái khách quan xã hộitạo ra sản phẩm văn hoá đối lập con người.
    -“Chuẩn mực tiên tiến hoá”:là quá trình chuyển hoá trên môtj trình độ tiêu biểu nhất cho một cộng đồng người nhất định và được cộng đồng chấp nhận.
    Văn hoá Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước.Nhờ nền tảng và sức mạnh văn hoá ấy mà dù có nhiều thời kỳ bị đô hộ , dân tộc ta vẵn giữ vững và phát huy bản sắc dân tộc mình chẳng những không bị đồng hoá mà còn quật cường đứng dậy dành độc lập cho dân tộc.



    1.2 Những quan niệm khác nhau về bản sắc dân tộc của văn hoá

    Để hiểu rõ hơn về văn hoá,đã có rất nhiều những quan niệm, khái niệm khác nhau. Chính vì thế, để đi từ quan niệm văn hoá đến quan niệm bản sắc văn hoá cũng có không ít những ý kiến được đưa ra. Sự phân biệt giữa các nền văn hoá trong công đồng văn hoá nhân loại là sự phận biệt bản sắc dân tộc của văn hoá.Ta vẵn thường bắt gặp những từ như:bản chất dân tộc, đặc điểm dân tộc,tính chất dân tộc và tính dân tộc..Thực chất những cụm từ này có liên quan mật thiết với nhau thậm chí đan xen nhau.Vì thế tuỳ theo mỗi nội dung cần đề cậpvà phân tích mà mỗi tác giả có cách dùng khác nhau.
    Bản sắc là nội dung , là hình thức, cấu trúc, chất liệu, là phương tiện truyền tảI của các loại hình văn hoá.Bản sắc còn là sự lan toả tự nhiên trong sắc tháI tư duy, ngôn ngữ, trong tâm hồn trí tuệ,trong phong độ, cung cách ,hành vi,ứng xử, trong lề thói, tập tục văn chương…và trong toàn bộ các giá trị văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần của con người.Lịch sử hình thành dân tộc đã tạo ra bản sác dân tộc.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng đưa ra quan niệm về bản sắc dân tộc của văn hoá:”Bản sắc dân tộc của văn hoá là những yếu tố độc đáo, yếu tố đặc sắc của một nền văn hoá biểu hiện: “đặc tính dân tộc”, “cốt cách dân tộc”. Bản sắc dân tộc tthể hiện ở hệ giá trị dân tộc, ở truyền thống , bản lĩnh, tâm hồn,lối sống, cách cảm, cách nghĩ,…và cả ở trong biểu tượng của một dân tộc.Bản sắc dân tộc găbs với ý thức dân tộc tự khẳng định mình và đã được khẳng định qua thời gian.Trước kia ta không bị đồng hoá bởi văn hoá Hán vì tổ tiên ta đã biết xây dựng cho mình một nền văn hoá tự khẳng định truyền thống dân tộc.Sau này tuy trảI qua những thăng trầm và biến cố, văn hoá Việt Nam vẫn luôn tự khẳng định bản sắc dân tộc độc đáo của mình và phát triển không ngừng trong trường kỳ lịch sử.Nhưng dân tộc động chứ không tĩnh, cởi mử chứ không khép kín,qua giao lưu văn hoá mà mở rộng và biến đổi những yếu tố vốn cócủa bản sắc truyền thống.Mọi cáI biến đổi rồi cũng trở về với chính nó, bởi vì bản sắc là cáI cô đọng nhất, cáI tinh tuý nhất trong mọi cáI tinh tuý của dân tộc.
    PGS-TS Hoàng Vinh trong cuốn: “Mấy vấn đề về lí luận và xây dựng văn hoá ở nước ta” sau khi đưa ra quan niệm về văn hoá, ông cũng đưa ra quan niệm về bản sắc dân tộc. Theo ông: “Bản sắc dân tộc là một tổng thể những đặc điểm riêngcủa một cộng đồng dân cư, thể hiện ở cách nghĩ ,nếp sinh hoạt trong lịch sử, bao gồm các ý tưởng, quan niệm, thói quen, phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng, và các hình thức sinh hoạt tinh thần của cộng đồng dân tộc ấy.”
    Bản sắc văn hoá bao gồm tất cả những hoạt động đặc biệt của một dân tộc. Như đối với dân tộc Anh thì đó là ngày đua thuyền, đua ngựa…Còn đối với Việt Nam thì đó là những ngày lễ tết, những hội hè đình đám, những thú vui…Bản sắc bắt nguồn từ những cáI thân quen, đời thường, dân gian như: cà pháo,mắm tôm,…. Cho đến “những tà áo dài bay trên đường phố….Sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó, em ơi”
    Cũng bắt nguồn từ những yếu tố đómà trong Đại hội VIII năm 1996, Đảng ta đã đưa ra 2 luận điểm về thực chất bản sắc dân tộc của nền văn hoá Việt Nam và các thành tố cấu thành bản sắc dân tộc. Theo đó thì thực chát cấu thành bản sắc dân tộc văn hoá Việt Nam là bản sắc riêng của dân tộc Việt Nam . Đó là những giá trị trường tồn của dân tộc- những cáI chủ yếu nhất, nổi bật nhất là tinh hao của cộng đồng các dân tộc Việt Nam.Đó là lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết, ý chí tự cường dân tộc,tính cộng đồng gắn kết giữa các cá nhân,gia đình, làng nước…, đầu óc thực tế,tính cần cù trong lao động, tế nhị trong cư xử, thân áI bao dung trong nghĩa tình đạo lý, giản dị trong lối sống.Yếu tố bản sắc dân tộc không tách rờiyếu tố tiên tiến. Đó là một thể thống nhất trong nền văn hoá Việt Nam.
    Luận điểm thứ 2 là về các thành tố cấu thành bản sắc dân tộc của văn hoá. Nó bao gồm 3 thành tố:Một là tinh hoa văn hoá. Tinh hoa là phần tinh tuý nhất, tốt đẹp nhất. Tinh hoa quá khứ dân tộc phảI được hiện đại hoá nghĩa là những gì được gọi là tót đẹp trong quá khứ dân tộc phảI bảo tồn chuyển hoá về chất để nâng lên trình độ mới cho phù hợp với sự nghiệp đổi mới đất nước.Tinh thần yêu nước là nét đẹp của Việt Nam.Trong thời kì đất nước có giặc ngoại xâm, nó biểu hiện bằng việc cầm vũ khí đánh giặc. Sang thời kì đổi mới, nó chuyển thành việc hăng say lao động và học tập, xây dựng đất nước giàu mạnh.Hai là thành tựu của văn minh nhân loại phảI được Việt Nam hoá.Đảng muốn khẳng định bản sắc văn hoá dân tộc không chỉ được tạo nên bởi những gì đã có trong văn hoá của dân tộc mà còn được tạo nên bằng những giá trị văn hoá của các dân tộc khác nhau, không phân biệt chế độ chính trị khác nhau, tiếp thu có chon lọc ,có phê phán.Ngày nay chúng ta học được ở nước bạn những món ăn lạ, có cảI chế cho phù hợp với khẩu vị của người dân Việt, và những nguyên liệu sẵn có của Việt Nam. Ba là những giá trị văn hoá chưa từng ccó trong lịch sử dân tộc, lịch sử thế giới do người Việt Nam đương đại sáng tạo ra cũng là thành tố cấu thành bản sắc dân tộc.
    Bản sắc dân tộc là thuộc tính cơ bản của văn hoá phản ánh mối quan hệ của văn hoá với dân tộc. Đó là bộ phận cấu thành bản chất nhất của văn hoá trong điều kiện dân tộc đã hình thành. Vì bản chất của văn hoá là mối liên hệ, là quan hệ vận động có tính sáng tạo giữa chủ thể văn hoá với tự nhiên, xã hội và con người vận động không ngừng trong lòng dân tộc, giữa lòng thời đại. Không có văn hoá nào đứng ngoài dân tộc cũng không có dân tộc nào đứng ngoài văn hoá.Do tác động của tính quy luật dân tộc mà văn hoá mang bản sắc dân tộc.
    Bản sắc đã được tinh lọc qua thời gian và trở thành sức sống tự nhiên trong dời sống của dân tộc và nền văn hoá dân tộc. Nhưng bản sắc cũng vận động như bất cứ một hiện tượng nào, nó không đứng yên mà sẽ bổ sung them những yếu tố làm phông phú bản sắc và làm rơI rụng một số yếu tố nào đó một cách tự nhiên.Nhưng như trên đã nói, mọi cáI biến đổi nào cũng trở lại với chính nó. Do đó ta bảo vệ bản sắc nhưng không bảo thủ với bản sắc, ta tiếp thu nhuẽng yếu tố phù hợp vớitâm hồn người Việt.
    Bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam hiện đại là khác với bản sắc văn háo dân tộc Việt Nam cổ truyền. Nền văn hoá Việt Nam cổ truyền có những niềm tin và tín ngưỡng, các phong tục tập quán với một phương thức lao động và tổ chức dân cư nhất định. Nền văn hoá Việt Nam cổ truyền có hệ tư tưởng đã dính kết các hoạt động sáng tạo và sinh hoạt của người Việt theo một hệ quy chiếu của hình tháI phong kiến. Còn nền văn hoá Việt Nam hiện đại có bản sắc riêng của mình. Nó có nhà văn hoá Hồ Chí Minh, có các tổ chức xã hội khác, có các phong tục tập quán mới và có hệ tư tưởng mới.
    Có lẽ tìm một định nghĩa chính xác cho bản sắc văn hoá dân tộc rất khó nên mỗi người quan niệm về nó một cách khác nhau, cho nên bản sắc dân tộc có đủ hình dung sắc thái. Tuy có nhiều quan niệm nhưng quan niệm chính thống về bản sắc dân tộc của văn hoá chỉ có một. Đó là quan niệm của Đảng trong nghị quyết TW V khóa VIII, Đảng ta quan niệm:
    “ Bản sắc dân tộc của văn hóa Việt Nam bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa được vun đắp lên qua lịch sử hàng nghàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước, tạo thành những nét đặc sắc của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự cường dân tộc, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng gắn kết cá nhân gia đình nhà nước, lòng nhân ái bao dung, trọng nghĩa tình đạo lý, đầu óc thực tế đức tính cần cù sáng tạo trong lao động, tế nhị trong cư xử, giản dị trong lối sống…Bản sắc dân tộc còn đậm nét trong các hình thức biểu hiện mang tính dân tộc độc đáo”.
    Khuynh hướng tìm về bản sắc dân tộc của văn hoá là một khuynh hướng quốc tế. Nó cũng manh như khuynh hướng quốc tế hoá nền văn hoá mỗi dân tộc. Nền văn hoá của tất cả các dân tộc đều có khuynh hướng bản sắc hoá. Các nếp cảm nếp nghĩ, tâm lý cộng đồng, các quan hệ giao tiếp và điều kiện tự nhiên, ngôn ngữ dân tộc…Luôn luôn tương tác thành diện mạo văn hoá của mỗi dân tộc. Các đặc điểm về truyền thống đạo đức, các quy chuẩn thẩm mỹ, mối cảm nghĩ làm thành những nét đặc thù trong văn hoá của mỗi một dân tộc.
    Nói tới văn hoá là nói tới cái đúng cái tốt và cái đẹp. Đó là các giá trị dân tộc và nhân loại. Bản sắc của mỗi nền văn hoá dân tộc được đúc kết từ những cái tốt cái đẹp, cáI đúng của hàng trăm thế hệ nối tiếp nhau trong lịch sử. Nó như các dòng phù sa hoá thân vào các cánh đồng màu mỡ. Nó như màu mỡ của đất kết tinh vào sức sống của cây hoa và trái. CáI đúng, cáI tốt và cáI đẹp của các dân tộc lại ảnh hưởng lẫn nhau trao giữ nhau, lai tạo thành những giá trị văn hoá mới của các dân tộc.
    Bản sắc dân tộc của văn hoá là những giá trị trường tồn, những nét chủ yếu, những nét nổi bật nhất. Bản sắc dân tộc không có nghĩa là mọi cáI phảI hoàn toàn độc đáo ngoài ta ra không dân tộc nào có cả. Bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ thể hiện ở nội dung mà còn trong cả hình thức, phương pháp tiến hành nghiên cứu…Yếu tố bản sắc dân tộc không tách rời yếu tố tiên tiến. Đó là một thêt thống nhất trong văn hoá Việt Nam.
    Vấn đề bản sắc dân tộc văn hoá là một vấn đề toàn cầu. Ngày nay nó không chỉ là vấn đề áp bức bóc lột dân tộc mà chủ yếu là vấn đề tự do dân tộc và tiến bộ xã hội. Mỗi dân tộc muốn tự chủ, tự quyết trong mọi hoạt động của mình. Tuy vậy trong tình hình hiện nay nó vẫn gắn với các quan hệ quốc tế. Bản sắc văn hoá mỗi dân tộc là theo dòng chảy của văn hoá quốc tế. Bản sắc văn hoá của mỗi dân tộc chỉ có giá trị khi nó tự hoàn thiện mình mà không làm mất sự hoàn thiện chung của các dân tộc khác và loài người. Sở dĩ văn hoá Việt Nam còn lưu tồn khá nhiều các đặc điểm cũ vì phương thức sản xuất ra của cảI vật chất xã hội chưa thay đổi được căn bản. Trong thời đại ta cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và cách mạng công nghệ đang ảnh hưởng mạnh mẽ đến nền văn hoá các dân tộc. Văn hoá của tất cả các dân tộc đều phảI gắn bó với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Trên cơ sở trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất, các dân tộc đều xác lập bản sắc dân tộc mới của văn hoá.


    1.3.Vấn đề thực tiễn về văn hoá và bản sắc dân tộc của văn hoá.

    Bàn về văn hoá và bản sắc văn hoá dân tộc không phải bây giờ người ta mới nhắc đến. Vấn đề này đã được Đảng và Bác đề cập ngay từ những buổi đầu của cách mạng. Tiền thân của đường lối văn hoá của Đảng Cộng Sản Việt Nam là tư tưởng văn hoá của Nguyễn ái Quốc. Nó được thể hiện ở các tác phẩm của người như: Đường cách mệnh, Bản án chế độ thực dân Pháp và những tham luận của Nguyễn áI Quốc tại Đại hội thành lập Đảng cộng sản Pháp. Ngoài ra, nó còn có ở các tác phẩm như: Con rồng tre, Vi hành…Và ở một chừng mực đó tiền thân của đường lối văn hoá của Đảng cộng sản Việt Nam còn được kể đến ở truyền thống nhân nghĩa, yêu nước, ý chí tự cường của dân tộc được in đậm trong văn hoá quá khứ của dân tộc.
    Vấn đề cốt lõi trong tư tưởng văn hoá của Nguyễn áI Quốc là bảo vệ văn hoá dân tộc, chống văn hoá phản động của thực dân, đế quốc, chống văn hoá hủ bại, chống chính sách ngu dân, tiếp thu tinh hoa của văn minh nhân loại. Văn hoá phảI phục vụ lợi ích của dân tộc, của nhân dân.
    Trong giai đoạn đầu, khi Đảng cộng sản Việt Nam chưa ra đời, tình hình trong nước còn rối ren, Nguyễn ái Quốc đã đưa ra những quan điểm của mình về nhiệm vụ của văn hoá: đó là chống chính sách văn hoá thực dân văn hoá phong kiến, đặc biệt là chống quan niêm tự ti đối với văn hoá dân tộc, chống mê tín dị đoan, bảo vệ và đề cao văn hoá dân tộc thông cảm với lỗi khổ nhục tinh thần của các dân tộc thuộc địa. Sau khi Đảng ra đời đã vận dụng lý luận văn hóa dựa trên nền tảng chủ nghĩa Mac-LêNin và tư tưởng Hố Chí Minh vào việc xây dựng đường lối phát triển của văn hoá Việt Nam. Trong luận cương chính trị năm 1930 đã phác thảo đường lối văn hoá của Đảng. Về cơ bản thì đường lối văn hoá thời kỳ này là chống văn hoá thực dân, phong kiến, bảo vệ và xây dựng văn hoá dân tộc, đánh giá ảnh hưởng của Đảng đối với thực trạng văn hoá Việt Nam giai đoạn 1930-1943. Luận cương đã mở đường cho văn hoá Việt Nam tiếp cận với hệ ý thức tiên tiến nhất thời đại đó là chủ nghĩa Mac-Lênin. Nhờ có cuộc đấu tranh “nghệ thuật vị nghệ thuật, nghệ thuật vị nhân sinh"mà văn hoá Việt Nam có những bước chuyển biến theo chiều hướng tích cực. Dưới sự ảnh hưởng của Đảng, các nhà lý luận đã tiếp thu quan điểm phi Macxit và khẳng định nghệ thuật phục vụ con người, phục vụ nhân dân lao động, đồng thời tạo nên điều kiện hình thành sản phẩm văn hoá mang tính chất giai cấp vô sản. Tiêu biểu là thơ ca Xô Viết Nghệ Tĩnh.
    Còn trong bản “ đề cương cách mạng văn hoá Việt Nam” 1943 do đồng chí Trường Chinh khởi thảo đã xác định phương hướng chung của cuộc cách mạng văn hoá Việt Nam , là : Tiến hành cách mạng văn hoá dân chủ và sau đó tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định : văn hoá là một trong ba mặt trận cách mạng KTCTVH đa Đảng lãnh đạo. Nhiệm vụ của các nhà văn hoá yêu nước và cách mạng là phải chống lại văn hoá nô dịch ,ngu dân của bọn phát xít và tay sai tiến tới xây dựng trong tương lai một nền văn hoá mới. Đồng thời Đảng cũng xác định đúng nhiệm vụ cơ bản của cách mạng văn hoá lúc này là xây dựng nền văn hoá có ba tính chất : dân tộc ,khoa học va đại chúng, xác định đúng phương châm của cuộc cách mạng dân chủ mới là: dân tộc hoá , khoa học hoá và đại chúng hoá.
    Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ từ 1930-1954 về phương hướng, mục tiêu của cuộc cách mạng văn hoá dân tộc dân chủ ở giai đoạn này là chông đé quốc ,thực dân, phong kiến, giành độc lầp dân tộc ,tự do cho nhân dân trên mọi lĩnh vực tưởng văn hoá . Nhiệm vụ quan trọng của đường lối văn hoá giai đoạn này là xây dựng nền văn hoá có ba tính chất : dân tộc ,khoa học, đại chúng. Đảng đã chỉ ra đợc thế nào là một nền văn hoá có tính khoa học ,dân tộc, đại chúng. Nền văn hoá có tính dân tộc là một nền văn hoá vận dụng ,phát tiển ,sáng tạo trong việc xử lý vấn đề dân tộc trong văn hoá , vừa đảm bảo điều kiện trong phong trào cộng sản và dân chủ quốc tế. Nhng lại vừa tránh đợc sai lầm trong chính sách văn hoá của Stalin và tư tưởng văn hoá nghệ thuật của Mao Trạch Đông , cùng các trường phái văn hoá lý luận văn hoá Âu Mỹ trong thời điểm đó. Tính khoa học của văn hoá lại được thể hiện ở sự vận dụng tính sáng tạo của Đảng trong việc tiếp xúc xác lập vị trí thống trị của chủ nghiã Mác –Lênin trong đời sống tư tuởng của xã hội. Bởi vì đó là ý thức hệ tiên tiến nhất đợc xác định trong đời sống tinh thần của cả dân tộc, là sự thống nhất về tư tưởng và chính trị xã hội , là thành quả quan trọng nhất của chủ nghiã xã hội . Nó dựa trên cơ sở sự thống nhất quyền lợi kinh tế và chính trị của giai cấp công nhân ,nông dân tập thể, trí thức nông dân. Hệ tư tưởng Mác –Lênin trở thành hệ tư tưởng độc quyền thống trị không phải đơn thuần do kết quả cải tạo kinh tế và xã hội chính trị mà là do sự cải tạo đó được kết hợp được kết hợp với công tác giáo dục ,tư tưởng rộng khắp Đảng Cộng Sản. Đảng đã ra nhiệm vụ giáo dục toàn dân theo tinh thần của chủ nghĩa cộng sản khoa học ,cốt để những người lao động hiểu sâu sắc diễn biến và phát triển thế giới , biết phân tích đúng đắn những sự kiện trong nước và quốc tế.Tính đại chúng của văn hoá thể hiện trong việc khẳng định vai trò của nông dân đối với tiến trình phát triển của văn hoá . Nông dân vừa là người trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo văn hoá , vừa là đối tượng tiêu thụ văn hoá. Nét tích cực nhất trong đường lối văn hoá của Đảng trong giai đoạn này là : nó trung thành với chủ nghĩa Mác –Lênin ,nó được vận dụng và phát triển một cách sáng tạo vào thực tiễn văn hoá Việt Nam từ năm 1930-1975 . Trong đó hạt nhân cơ bản là độc lập dân tộc và ch nghĩa xã hội được xuyên suốt trong đường lối văn hoá của Đảng ở từng thời kỳ cách mạng khác nhau . Đường lối này luôn mang tính sáng tạo và nhất quán, tính năng động phù hợp với cục diện chính trị trong và ngoài nước, cho nên nó giữ một vị trí quan trọng ,quyết định giải phóng văn hoá Việt Nam ra khỏi ách thống trị của thực dân đế quốc . Cũng nhờ đó mà ta hình thành được một lối sống mới ,một nền đạo đức mới, một nền nghệ thuật mới và một nền khoa học giáo dục mới.
    Tuy nhiên nhược điểm của đường lối văn hoá là cha quán triệt một cách triệt để các loại hình văn hoá ,có lúc ,có nơi còn ảnh hưởng tiêu cực công thức của Stalin ,tư tưởng văn hoá nghệ thuật của Mao Trạch Đông .Vì thế mà đôi lúc xã hội chủ nghĩa còn công thức , sơ lược mô tả trong văn hoá tình trạng sùng cổ , sùng ngoại , bài cổ, bài ngoại xuất hiện. Thậm chí văn học giai đoạn này còn phủ nhận thành tựu văn học thời kỳ kháng chiến .
    Sang giai đoạn 1954-1985 đường lối văn hoá của Đảng có nhiều thay đổi do hoàn cảnh và tình hình cụ thể của nước ta giai đoạn này có nhiều biến đổi . Đường lối văn hoá của của Đảng thời kỳ này còn gọi là đường lối cách mạng văn hoá xã hội chủ nghĩa . Đường lối này thể hiện từ cuối năm 1954 ở cả hai miền Nam và Bắc.
    Giai đoạn này ,đường lối văn hoá của Đảng được chia làm hai giai đoạn. Giai đoạn 1954-1975, là thời kỳ cách mạng XHCN trong điều kiện đất nước tạm thời bị chia cắt thành 2 miền. Miền Bắc xây dựng XHCN và là hầu phương cho miền Nam , làm nhiệm vụ quốc tế chi viện cho Lào – Campuchia. Đến thời kỳ 1975-1985 ,đây là thời kỳ cách mạng xã hội trong điều kiện đất nước hoàn toàn thống nhất,đi lên xây dựng từ một nước nông nghiệp lạc hậu và giải quyết hậu quả chiến tranh. Cho nên phương hướng ,mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa đặt ra khác nhau. Bởi vậy mà cách mạng văn hoá XHCN cũng mang nhiều nội dung khác nhau. Thực chất của đờng lối văn hoá trong giaiđoạn này là biến đổi tận gốc toàn bộ đời sống tư tưởng của xã hội ,trong đó Đảng xác định rõ cách mạng tư tưởng văn hoá là một bộ phận của cách mạng xã hội chủ nghĩa.
    Về phương hướng, mục tiêu của đường lối cách mạng văn hoá XHCN là xây dựng nền văn hoá làm chủ tập thể có nội dung xã hội chủ nghĩa ,có tính dân tộc, tính Đảng và tính nhân dân sâu sắc. Nhiệm vụ căn bản của nó là xây dựng nền văn hoá làm chủ tập thể XHCN ,chống lại chủ nghĩa cá nhân, xây dựng nền văn hóa mới . Đường lối văn hoá của Đảng ở giai đoạn này là trung thành với chủ nghĩa Mác –Lênin, mang tính tự chủ mềm dẻo ,linh hoạt để phù hợp với từng thời kỳ khác nhau. Tuy nhiên do mang tính chủ quan ,tư tưởng duy ý chí nên dẫn đến sự tuyệt đối hoá tinh thần làm chủ tập thể ,xác lập mô hình XHCN quá hoàn thiện mà không xuất phát từ thực tiễn ,dẫn đến tình trạng tô hồng hiện thực , minh hoạ chính trị giản đơn ,máy móc ,giáo điều. Có lúc có nơi sùng ngoại ,sùng cổ ,bài cổ, lệ cổ, thậm chí tuyệt đối hoá tính Đảng , dẫn đến phương thức lao động và quản lý thiếu tinh thần dân chủ , không phù hợp với đặc thù loại hình văn hoá . Vì thế mà đã hạn chế một phần tiềm năng sáng tạo của văn nghệ sĩ, ảnh hưởng đến sự tổ chức văn hoá của quần chúng lao động.
    Đường lối văn háo của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới , hội nhập công nghiệp hoá ,hiện đại hoá đất nớc từ 1986 đến nay có những bước tiến quan trọnh và sâu sắc. Đại hội VI được tiến hành vào năm 1986 có một vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử Đảng và dân tộc ta. Nó đánh dấu bước ngoặt căn bản trong quá trình xây dựng CNXH trong giai đoạn mới. Đại hội được tiến hành vào cuối những năm 70, đầu 80, lúc mà tình hình thế giới có nhiều biến động phức tạp. Trước tình hình đó Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo toàn dân tích cực đổi mới với tinh thần triệt để ,toàn diện và sâu sắc , trong đó văn hoá có những bước đi quan trọng . Thực chất của việc “đổi mới” đường lối văn hoá của Đảng đó là quá trình tiến hành cách mạng văn hoá XHCN trong điều kiện mới của dân tộcvà thế giới. “Đổi mới” tức là kiên trì bảo vệ những cái đã có phù hợp với hiện tại và tơng lai nh việc bảo vệ chủ nghĩa Mác- Lênin ,tư tưởng Hồ Chí Minh vì nó là nền tảng tinh thần của xã hội. Hay “đổi mới” là điều chỉnh ,bổ sung những cái đã có và đang có thể làm cho nó trở thành phù hợp với thời kỳ đổi mới của đất nước, là kết quả bài trừ cáI cũ , cáI lỗi thời không còn phù hợp và sáng tạo những cáI mới cha từng có trong lịch sử dân tộc nhưng phải phù hợp với sự nghiệp đổi mới của đất nớc. Nh trong kết luận của hội nghị TW X khoá IX (tháng7/2004) đã bổ sung vào nghị quyết TW V khoá VIII về vấn đề đầu tư và phát triển văn hoá trong thế hội nhập hay sự thay đổi lí luận văn hoá của Đảng , làm cho diện mạo văn hoá của đất nước thay đổi cả về hình thức lẫn tư duy.
    Trong đại hội VI (1986) , Đảng đã đề ra những nội dung đổi mới căn bản trong đường lối văn hoá của mình .Sự đổi mới đầu tiên mà Đảng đa ra đó là sự đổi mơis về t duy văn hoá ,hay chính là đổi mới về nhận thức lý luận văn hóa . Nó bao gồm nhữnh vấn đề về: đổi mới quan niệm về bản chất của văn hoá , vị trí, vai trò của văn hoá trong sự phát triển của đất nước về mọi mặt như kinh tế , văn hoá , xã hội ; đổi mới vị trí vai trò của giới trí thức văn hoá ; và những hoạt động thực tiễn của văn hoá , đổi mới về vấn đề tổ chức cán bộ , đặc biệt là sự đổi mới phương thức lao động của Đảng ,phương thức quản lý nhà nước về văn hoá.
    Với quan niệm về bản chất của văn hoá ,đại hội VI đã khẳng định : bản chất của văn hoá chính là năng lực bản chất người mà cốt lõi chính là lao động ,sáng tạo và tư duy. Đảng cũng khẳng định văn hoá là lĩnh vực sản xuất tinh thần của xã hội , là nhu cầu bức thiết của quần chúng lao động.
    Trong đờng lối văn hoá của Đảng thời kỳ công nghiệp hoá ,hiện đại hoá có những bước phát triển mới . Đó là bước phát triển trong lý luận về hạt nhân của nền văn hoá mới . Tại đại hội VI (1986) Đảng khẳng định, tính Đảng là nguyên tắc tối cao và là tiêu chuẩn của nền văn hoá mới . Nguyên tắc này được Đảng trành bày ở phương hướng mục tiêu, nhiệm vụ của cuộc cách mạng văn hoá ; xây dựng nền văn hoá VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc trong đó nền văn hoá đảm bảo 5 đặc trưng là: yêu nước, tiên bộ , có tính nhân văn tất cả vì con ngời , cốt lõi là độc lập dân tộc, hình thức phong phú cơ sở vật chất hiện đại. Tính độc lập là yếu tố cấu thành bản sắc nhất của văn hoá cho nên phương hướng , mục tiêu ,nhiệm vụ của đại hội đặt ra là xây dựng nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là những bước phát triển mang tính lịch sử trong tư duy của Đảng. Nó đáp ứng những nhu cầu mà cuộc sống hiện đại cần đến .Bước đột phá thứ hai trong lý luận của Đảng đã xây dựng đã xây dựng được hình ảnh của con người mới với 5 đặc tính là:
    ã Có tinh thần yêu nước ,tự cường dân tộc , phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ,có ý chí vươn lên đa đất nước thoát khỏi nghèo nàn ,lạc hậu. Đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình ,độc lập dân tộc,dân chủ và CNXH.
    ã Có ý thức tập thể , đoàn kết , phấn đấu vì lợi ích chung.
    ã Có lối sống lành mạnh ,nếp sống văn minh, cần kiệm trung thực , nhân nghĩa ,tôn trọng kỷ luật kỷ cương phép nước ,quy ước cộng đồng ,ý thức cảI thiện và bảo vệ môI trường.
    ã Lao động chăm chỉ, với lương tâm nghề nghiệp ,có kỹ thuật ,sáng tạo, năng suất cao, vì lợi ích bản thân ,gia đình, tập thể , xã hội.
    ã Thường xuyên học tập nâng cao hiểu biết ,trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực.
    Con người mới của ta là con người chủ động ,có niềm tin vào khoa học ,vào Đảng ,biết làm chủ tập thể, con người của thế kỷ hiện đại, mọi người VN phấn đấu vì sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh đều tham gia vào sự nghiệp xây dựng và phát triển nền văn hoá nước nhà.

    Trong thời kỳ mở cửa hội nhập văn hoá phải được đặt trong xu thế giao lưu với các dân tộc khác. Bằng con đường giao lưu mỗi cộng đồng có thêm khả năng làm phong phú thêm vốn liếng văn hoá sao cho có thể thích ứng ngày càng nhiều ,tốt hơn với điều kiện sinh tồn và là tiền đề cho dân tộc tiếp thu những tinh hoa văn hoá từ nhân loại. Giao lưu văn hoá là một trong những yếu tố làm nên lẽ sống của mọi cộng đồng người. Dòng chảy văn hoá từ bên ngoài truyền vào không chỉ bao gồm những giá trị tinh tuý ,hữu ích nó còn đem theo cả những sản phẩm phản giá trị không hữu ích thậm chí còn kéo theo cả nguy cơ phá vỡ nền tảng văn hoá dân tộc . Do đó giao lưu văn hoá hội nhập bao giờ cũng phải đặt trong tương quan với giữ gìn. phát huy bản sắc dân tộc ,nên “ hoà nhập chứ không hoà tan”

    1.4 Đánh giá những thành tựu cơ bản của lĩnh vực văn hoá

    Để có những bước đột phá,những chỉ thị đúng đắn về văn hoá , Đảng ta đã lấy chủ nghĩa Mac-Lênin ,tư tương HCM làm kim chỉ nam soi rọi vào thực trạng văn hoá VN .Nhờ đó mà văn hoá của ta đã đạt được một số thành tựu đáng kể . Tư tưởng ,đạo đức và lối sống là những lĩnh vực then chốt của văn hoá đã có những chuyển biến quan trọng. ý thức phấn đấu cho độc lập dân tộc và CNXH ,tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức thực tiễn của cán bộ đảng viên được nâng lên một bước. Nhiều nét mới trong giá trị văn hoá và chuẩn mực đạo đức từng bước hình thành. Tính năng động và tích cực công dân được phát huy ,sở trường và năng lực cá nhân được khuyến khích. Không khí dân chủ trong xã hội tăng lên. Thế hệ trẻ tiếp thu nhanh những kiến thức mới có ý chí vươn lên lập thân ,lập nghiệp, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những việc làm thiết thực hướng về cội nguồn ,về cách mạng và kháng chiến, tưởng nhớ các anh hùng dân tộc, quý trọng các danh nhân văn hoá , đền ơn đáp nghĩa những người có công ,giúp đỡ những người hoạn nạn… trở thành phong trào quần chúng . Tự do tín ngưỡng , không tín ngưỡng được tôn trọng. Sự nghiệp giáo dục, khoa học thu những thành tựu quan trọng góp phần nâng cao dân trí ,trình độ học vấn của nhân dân, làm tăng thêm sức mạnh nội sinh.(Khi vừa thắng lợi đã xác lập mô hình XHCN thì cho là nó quá hoàn thiện . Do chưa xuất phát từ điều kiện thực tế lúc bấy giờ là hàn gắn vết thương chiến tranh nên đã mắc vào tư tưởng : tô hồng hiện thực ,minh hoạ chính trị giản đơn ,máy móc giáo điều. Tuyệt đối hoá tính Đảng nên phương thức lãnh đạo ,quản lý văn hoá thiếu tính dân chủ ,không phù hợp với các loại hình văn hoá. Vì thế mà nó đã hạn chế tính sáng tạo của văn nghệ sĩ , ảnh hưởng tới sự đam mê của quần chúng lao động. Trên lĩnh vực văn học ,nghệ thuật, các hoạt động sáng tạo có bớc phát triển mới. Nhiều bộ môn nghệ thuật mới được giữ gìn. Có thêm nhiều tác phẩm có giá trị về đề tài cách mạng và kháng chiến, công cuộc đổi mới. Về thông tin đại chúng phát triển nhanh về số lượng và quy mô, về nội dung và hình thức ,về in ,phát hành , truyền dẫn , ngày càng phát huy vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của xã hội. Giao lưu với nước ngoài từng bước mở rộng . Chúng ta có dịp tiếp xúc rộng rãi với thành tựu văn hoá nhân loại. Hệ thống thể chế văn hoá được xây dựng tuy cha hoàn chỉnh nhưng về căn bản bảo đảm được sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của nhà nước. Thể chế văn hoá mới khuyến khích nhân dân lao động tham gia dự nghiệp xây dựng văn hoá trên cả hai mặt sáng tạo và hưởng thụ.
    Bên cạnh những thành tựu đạt được ,văn hoá của ta cũng còn gặp một số hạn chế . Nổi lên trên hết là ở nhận thức tư tưởng trong đạo đức và lối sống. Trước những biến động chính trị phức tạp trên thế giới một số người dao động, thiếu niềm tin , nghi ngờ về con đường XHCN ,phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta : phủ nhận lịch sử cách mạng VN dưới sự lãnh đạo của Đảng. Không ít người còn bàng quan,mơ hồ hoặc mất cảnh giác trước những luận điệu thù địch , xuyên tạc bôI nhọ chế độ ta.
    Nhờ có đường lối cách mạngVN ,chúng ta đã kế thừa ,bảo vệ và phát huy những tinh hoa văn hoá ,truyền thống của đân tộc, tiếp thu và phát triển tinh hoa văn hoá từ bên ngoài…
    Tệ sùng bái nước ngoài coi thường những giá trị văn hoá dân tộc, chạy theo những lối sống thực dụng cá nhân ,vị kỷ… đang gây hại đến thuần phong mỹ tục của dân tộc. Không ít trường hợp vì đồng tiền và danh vị mà chà đạp lên tình nghĩa gia đình ,quan hệ thầy trò, đồng chí, đồng nghiệp. Buôn lậu, tham nhũng phát triển. Ma tuý ,mại dâm, và các tệ nạn xã hội khác gia tăng. Nạn mê tín dị đoan khá phổ biến, nhiều hủ tục cũ và mới lan tràn nhất là trong việc cưới, tang lễ, lễ hội…
    Tạo được nhiều sản phẩm có giá trị văn hoá cao cả về tư tưởng và nghệ thuật để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân , tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân hưởng thụ ,hoạt động và sáng tạo văn hoá.
    Nghiêm trọng hơn là sự suy thoái về đạo đức ,lối sống thực dụng, chủ nghĩa cơ hội ở bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên ,trong đó có cán bộ có chức, có quyền về cuộc sống thực dụng và chủ nghĩa cơ hội. Nạn tham nhũng, dung tiền của nhà nước tiêu xài phung phí, ăn chơi xa đoạ không được ngăn chặn có hiệu quả.Hiện tượng quan liêu,cửa quyền, sách nhiễu nhân dân ,kèn cựa địa vị, cục bộ, địa phương, bè phái mất đoàn kết khá phổ biến. Những tệ nạn đó gây bất bình trong nhân dân ,làm tổn thương uy tín của Đảng, của nhà nước. Trong lĩnh vực giáo dục, đào tao gây cho xã hội nhiều lo lắng như sự suy thoáI trong quan hệ thầy trò,bạn bè, môI trường sư phạm xuống cấp, lối sống thiếu lý tưởng hoài bão, ăn chơI, nghiện ma tuý… ở một số bộ phận học sinh, sinh viên. Về thông tin đại chúng còn nhiều sản phẩm chất lượng thấp, cha kịp thờiphát hiện và lý giảI những vấn đề lớn do cuộc sống đặt ra. Không ít trường hợp thông tin thiếu chính xác ,gây tác động xấu đến d luận xã hội, nhưng chưa được sử lý kịp thời theo pháp luật. Giao lưu văn hoá với nước ngoài cha tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số văn hoá phẩm độc hại ,phản động xâm nhập vào nước ta còn quá lớn, trong ki đó số tác phẩm có giá trị của ta đa ra bên ngoài còn quá ít. Việc xây dựng thể chế văn hoá còn chậm và nhiều thiếu sót. Công tác đào tạo đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý văn hoá cha đáp ứng yêu cầu, còn bị hẫng hụt cán bộ văn hoá ở các vị trí quan trọng. ở nhiều vùng nông thôn nhất là vùng sâu vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng,kháng chiến trước đây,đời sống văn hoá còn quá nghèo nàn.
    Đảng đã nhận ra điều hạn chế trong đường lối của mình nên cũng đang từng bước đa ra những đổi mới. Tất cả mọi việc đều được quyết định bởi con người. Văn hoá còn hay mất là phụ thuộc vào mỗi cá nhân trong cộng đồng.

    CHƯƠNG II : ĐỀ XUẤT , KIẾN NGHỊ

    Là một người công dân của đất nước ,hơn nữa lại là thế hệ trẻ , lứa tuổi dễ có những biến đổi trong suy nghĩ ,em nhận thấy rõ tầm quan trọng của văn hoá và vấn đề bảo vệ ,gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc. Vì kiến thức ,tầm hiểu biết còn nhiều hạn chế nên sau đây em chỉ dám đa ra một số ý kiến chủ quan của mình với Đảng và nhà nước:
    1. Chúng ta cần tổng kết lại những giá trị văn hoá, bản sắc dân tộc một cách có hệ thống . Từ đó đề ra những biện pháp đúng đắn cho việc bảo vệ và giữ gìn nền văn hoá VN tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
    2. Có nhiều đổi mới trên lĩnh vực văn hoá ,tiếp thu văn hoá thế giới có chọn lọc và biến đổi.
    3. Nghiêm trị đối với các hành vi băng hoại đạo đức nh : mại dâm, buôn bán trẻ em ,phụ nữ qua biên giới…
    4. Đào tạo cán bộ văn hoá từ cấp cơ sở đến TW. Đào tạo những người vừa có đức vừa có tài, bởi vì họ là những người đi truyền bá văn hoá cho cả cộng đồng.
    5. Đảng và nhà nước thường xuyên lấy ý kiến của dân để đổi mới phù hợp, đảm bảo cho mỗi người dân có quyền tự do sáng tạo và hưởng thụ giá trị văn hoá.
    6. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với văn hoá phảI dân chủ hơn ,tạo điều kiện cơ sở vật chất và tinh thần cho mọi tiềm năng sáng tạo truyền bá tiếp những giá trị văn hoá .Qua đó phát huy vai trò của các đoàn thể ,các tổ chức văn hoá nghệ thuật.
    7. Hỗ trợ và giảI quyêt kịp thời những khó khăn vướng mắc của các ngành văn hoá: tài chính…
    8. Có chính sách trọng dụng người tài như TQ vạch ra quy hoạch tập trung người tài để phát triển. Đổi mới cán bộ kém về trình độ và đào tạo từ cấp cơ sở ( địa phương) tới TW .Đào tạo đội ngũ cán bộ theo đúng quy chuẩn văn hoá để họ có đầy đủ năng lực phẩm chất phục vụ sự nghiệp văn hoá. Kiên quyết loại bỏ những cán bộ thoáI hoá, biến chất.
    9. Mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở giao lưu văn hoá chứ không đồng hoá hoặc hoà tan văn hoá dân tộc mình.
    10. Cần tạo môI trường văn háo lành mạnh ,xây dựng phải đi đôi với bảo vệ mà xây dựng là biện pháp cơ bản ,chống là nhiệm vụ cấp thiết có tính giai đoạn chống lại những hiện tượng tiêu cực trong hoạt động sản xuất , dịch vụ và hoạt động văn hoá.
    11. Mở rộng hành lang pháp lý để nhân dân có thể tham gia các hoạt động văn hoá.
    12. Cần có chính sách đãi ngộ thoả đáng cho hoạt động văn hoá.



    CHƯƠNG III : KẾT LUẬN

    Có thể nói rằng ,dân tộc VN có một lịch sử ,có bản sắc riêng và đã chứng tỏ với thời đại sức sống của mình. Tất cả mọi mưu mô , chước quỷ nhằm đồng hoá , đô hộ, khuất phục ngời VN của các siêu cường đều đã thất bại. Niềm tin ,sức sống ,tâm hồn lạc quan và khí phách anh hùng của truyền thống người việt sẽ là hạt nhân quan trọng để cúng ta xây dựng bản sắc dân tộc của văn hoá Việt Nam trong thời kỳ này.
    Trong thời đại ta,bản sắc dân tộc của nền văn hoá gắn liền với tiến bộ kĩ thuật. Hướng tiến lên của nền văn hoá VN là nền văn minh công nghiệp và tin học. Công nghiệp và tin học phát triển trong truyền thống văn hoá VN sẽ có diện mạo và tính chất mới mẻ . Nó sẽ làm thức dậy các “ giấc ngủ” của văn hoá truyền thống. Nó tăng trưởng “thức ăn mới” cho cơ thể văn hoá Việt Nam vươn mình nở hoa kết trái.
    Thành tựu của công cuộc đổi mới đã tạo ra thế và lực cùng nhiều tiền đề cần thiết cho sự nghiệp xây dựng nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc. Quan hệ mở rộng của nước ta với các nước khác giúp chúng ta tăng cường cơ sở vật chất ,chọn lọc, tiếp thu những tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới, làm phong phú đời sống tinh thần người dân ,giàu thêm vốn văn hoá nước nhà. Trong quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài chúng ta đã từng trảI, tích luỹ nhiều bài học kinh nghiệm trong việc bảo vệ và xây dựng nền văn hoá dân tộc.
    Văn hoá nước ta đang đứng trước nhiều thời cơ thuận lợi lớn song cũng gặp phảI những khó khăn ,thách thức lớn . Trước mắt đó là những tác động phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp gay go trên phạm vi thế giới trong cảnh CNXH đang nỗ lực vươn lên bứt khỏi khủng hoảng của công cuộc xây dựng đất nước trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đa phương hoá , đa dạng hoá quan hệ đối ngoại mà mặt tráI của nền kinh tế thị trường và việc mở rộng quan hệ đối ngoại chứa đựng không ít yếu tố phản văn hoá . Sự tấn công về tu tưởng văn hoá của các thế lực thù địch,sự tác động của các yếu tố tiêu cực trong điều kiện lịch sử mới của công cuộc đấu tranh xây dựng XHCN diễn ra bề ngoài tưởng như bình yên nhưng lại vô cùng gay gắt quyêt liệt. Trước tình hình đó chúng ta phảI tỉnh táo kiên quyết đấu tranh chống âm mưu diễn biến của các thế lực thù địch, ngăn ngừa loại văn hoá độc hại xâm nhập vào VN để văn hoá phải phát triển phù hợp với sự vận động của XH và quy luật của đời sống đảm bảo giữ gìn và phát huy được bản sắc dân tộc, giữ vững định hướng XHCN đa văn hoá Việt Nam vươn lên tầm cao mới.
    Những vấn đề em trình bày trên đây là những suy nghĩ ,tìm tòi của cá nhân nên chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Tự thấy ,việc nghiên cứu ,tìm hiểu còn hời hợt ,chưa sâu ,chưa làm rõ được vấn đề mà đề tài nên ra, nhiều chỗ viết còn lan man ,khó hiểu không đúng trọng tâm. Chính vì thế em mong nhận được sự đóng góp của thầy cô để bài viết của em đúng và đủ hơn.

    Em xin chân thành cảm ơn!

    DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1 Mấy vấn đề về lý luận và thực tiễn xây dựng văn hoá ở nước ta GS-PTS Hoàng Vịnh
    2 Xây dựng và phát triển nền văn hoá tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc Nguyễn Khao Điềm (chủ biên)
    3 Xây dựng nền văn hoá -văn nghệ ngang tầm vóc dân tộc ta, thời đại ta Phạm Văn Đồng
    4 Văn kiện hội nghị lần thứ 5 của ban chấp hành TW khoá VIII
    5 Giáo trình lịch sử Đảng Cộng Sản VN

    6 Giáo trình tư tưởng Hồ Chí Minh

    7 Tạp chí cộng sản

    8 Tạp chí thanh niên

    9 Những vấn đề văn hoá VN hiện đại
    Lê Quang Trang - Nguyễn Trọng Hoàn
    10 Tìm hiểu bản sắc văn hoá Việt Nam
    PGS-ViệnSỹ Trần Ngọc Thêm

    SINH VIÊN THỰC HIỆN : ĐOÀN THỊ THU HUYỀN LỚP DU LỊCH 13C
    Attached File  in trang bay.doc   119.5K   10 downloads
    Attached File  STT.doc   35K   16 downloads
    Posted Image



    Kính mời các đồng nghiệp xa gần đóng góp cho cuộc thi Chất Động Pangaea lần thứ XIII - năm 2016 Thời gian bắt đầu cuộc thi: 06/03/2016

    Facebook Comments

    #2 zinzin

    zinzin

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 22 Bài viết:
    • Joined 05-June 11
  • Reputation: 0
    • Đến từ:Đại học giao thông vận tải

    Posted 05 June 2011 - 04:15 PM

    cái này có giá trị với các bạn bên xã hội đây



    Bài viết tương tự Collapse