Jump to content


MỘT SỐ LOẠI ĐÁ QUÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỌC HỌC


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
29 replies to this topic

#1 AMETHYST

AMETHYST

    Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

  • Quản trị
  • 1,025 Bài viết:
  • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 22 October 2009 - 03:54 PM

    Kim cương (Diamond)



    Posted Image


    Kim cương lần đầu tiên được tìm thấy ở Ấn Độ hơn 4000 năm trước đây. Đó là những viên đá có vẻ đẹp óng ánh kỳ diệu trộn lẫn trong cát và sỏi ẩn dưới lớp phù sa ở lòng sông. Bao thế kỷ qua, nó được xem như chứa những quyền năng thiêng liêng vô biên vì niềm tin tôn giáo mà người ta quý trọng và thờ phụng nó. Kim cương là đá quý của những người sinh vào tháng 4.

    1. Khái quát chung

    Tên gọi kim cương trong nhiều ngôn ngữ châu Âu đến từ tiếng Hy Lạp adamas (αδάμας có nghĩa là “không thể phá hủy”). Trong tiếng Việt chữ "kim cương" có gốc Hán-Việt (金剛), có nghĩa là "kim loại cứng". Chúng đã được sưu tầm như một loại đá quý và sử dụng trên những biểu tượng tôn giáo của người Ấn Độ cổ cách đây ít nhất 2.500 năm. Người ta còn tìm thấy kim cương đầu mũi khoan, cũng là dụng cụ để khắc lên đá đối với người cổ đại. Một viên kim cương được đánh giá theo một hệ thống chất lượng 4C: "carat" (khối lượng), "clarity" (độ trong suốt), "color" (màu sắc) và "cut" (cách cắt) và hiện nay có khi người ta còn đánh giá theo tiêu chuẩn 6C, thêm "cost" (giá cả) và certification (giấy chứng nhận, kiểm định). Mặc dù kim cương nhân tạo được sản xuất với khối lượng gần gấp 4 lần so với kim cương tự nhiên nhưng phần lớn chúng được dùng vào mục đích công nghiệp vì hầu hết chúng là những viên kim cương nhỏ và không hoàn hảo tuy hiện điều này đã cải thiện rõ rệt với những công nghệ làm kim cương nhân tạo mới.

    Khoảng 49% kim cương được khai thác ở Trung Phi và Nam Phi, mặc dầu một số lượng lớn kim cương cũng được tìm thấy ở Canada, Ấn Độ, Nga, Brasil, Úc. Hầu hết chúng được khai thác ở những miệng núi lửa đã tắt, sâu trong lòng Trái Đất nơi mà áp suất và nhiệt độ cao làm thay đổi cấu trúc của các tinh thể.

    2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể

    2.1. Thành phần hoá học


    Trong tất cả các loại đá quý, kim cương là loại khoáng vật có thành phần hoá học đơn giản nhất, nó được cấu tạo duy nhất bởi nguyên tố cacbon. Kim cương và graphit là hai biến thể của cacbon nhưng lại hoàn toàn khác nhau về cấu trúc tinh thể và các tính chất khác.

    Trong tinh thể kim cương C tồn tại dưới hai dạng đồng vị 12C và 13C (được nghiên cứu và phát hiện đầu tiên vào năm 1953). Trong tinh thể kim cương không phụ thuộc vào các dạng hình thái của nó, thành phần của hai đồng vị tương đối gần nhau. Tỷ lệ 12C/ 13C biến thiên trong một khoảng hẹp từ 89,24 đến 89,78.

    Ở điều kiện nhiệt độ cao và áp suất lớn nguyên tử C ở trạng thái sp3 và tạo ra 4 mối liên kết với 4 nguyên tử C khác bằng mối liên kết đồng hoá trị, góc giữa chúng là 109,280. Trong tinh thể kim cương C chiếm tỉ lệ vào khoảng 96 - 99,8%, ngoài ra còn có mặt 25 nguyên tố tạp chất với một lượng rất nhỏ: H, B, N, O, Na, Mg, Al, P, Ca, Sc, Ti, Cr, Mn, Fe, Co, Cu,  Sr, Ba, Zn, La, Lu, Pt, Au, Ag và Pb.

    - Ni tơ là nguyên tố tạp chất chủ yếu trong kim cương, nó có ảnh hưởng rất lớn đến tính chất (màu sắc, khả năng phát quang, màu sắc phát quang dưới tia cực tím...) và cấu trúc tinh thể kim cương. Sự phân loại kim cương cũng dựa vào sự có mặt và hàm lượng của N.

    - Trong kim cương các nguyên tố tạp chất có mặt thường xuyên (cố định) là: Si, Al, Ca, Mg và Mn. Các nguyên tố thường phát hiện được là: Na, Ba, Cu, Fe, B,  Cr và Ti. Trong loại kim cương có vỏ bọc thường xuyên có mặt Fe và Ti (cùng với nhau), trong khi ở các dạng thông thường khác  Fe được nhận diện không thường xuyên còn Ti lại càng hiếm khi gặp. Các nguyên tố tạp chất còn lại như: Sr, Co, Zr, P, Sc, La, Lu, Pt, Ag, Au và Pb được phát hiện trong một số trường hợp.

    Posted Image

    Kim cương màu hồng và kim cương màu lục


    2.2. Cấu trúc tinh thể

    - Cấu trúc tinh thể

    Kim cương được kết tinh theo tính hệ lập phương, chủ yếu là bát diện cũng có thể là 12 mặt thoi. Mỗi nguyên tử C liên kết với 4 nguyên tử C liền kề nằm ở vị trí đỉnh của tứ diện đều. Khoảng cách giữa các nguyên tử liền kề là 0,154 nm. Kích thước không đổi của mạng tinh thể là 0,356 nm.

    Trong tất cả các đơn chất, kim cương có tối đa số lượng nguyên tử C nằm trong một đơn vị thể tích, tức là các nguyên tử C được sắp xếp một cách rất chặt xít. Từ 18 nguyên tử C, 8 nguyên tử được sắp xếp ở đỉnh của khối lập phương, 6 ở tâm các mặt của khối lập phương và 4 ở tâm của 4 trong 8 khối lập phương nhỏ.

    Posted Image

    Mô hình cấu trúc tinh thể kim cương


    - Các dạng tinh thể thường gặp

    Kim cương có thể tồn tại dưới dạng đơn tinh hay đa tinh. Tinh thể kim cương có hình dạng bát diện (khối tám mặt), khối 12 mặt và khối lập phương và các tinh thể có dạng phối hợp, các tinh thể có các cạnh lồi...

    Posted Image

    Tinh thể kim cương dạng bát diện trong đá gốc


    Các kết quả nghiên cứu đã cho thấy có sự khác biệt giữa các dạng tinh thể kim cương về hình dạng, cấu tạo bên trong... và tổ hợp các tính chất. Trong quá trình kết tinh các tinh thể có các mặt phẳng được tạo ra. Hình dáng nguyên thuỷ cũng như nhiều tính chất có khả năng bị biến đổi do quá trình hoà tan, ăn mòn, hình thành các đốm màu, biến dạng dẻo... và như vậy tạo ra các dạng khác nhau của tinh thể kim cương. Chúng không giống nhau về cấu tạo bên trong cũng như về hình dạng phát triển và các đặc điểm hình thái.

    2.3. Phân loại kim cương

    Kim cương được chia thành hai loại chính loại I và loại II dựa trên thành phần của các nguyên tố ngoại lai có mặt trong cấu trúc tinh thể.

    - Loại I: Chứa một tỷ lệ nhỏ N. Tinh thể có hình dạng 8 mặt rõ ràng (octahedral). Loại kim cương này thường không màu và được xếp hạng cao trong thang màu. Người ta chia ra loại Ia và loại Ib. Hầu như tất cả kim cương thiên nhiên thuộc loại Ia, hầu như tất cả kim cương nhân tạo thuộc loại Ib.

    - Loại II: Hầu như không chứa N (tỷ lệ N nhỏ hơn 0,001%). Màu sắc của nó thường là màu nâu nhạt tới nâu, rất hiếm khi không màu, trong trường hợp đặc biệt có màu xanh (khi có mặt B, đóng vai trò nguyên tố vết). Loại II được chia thành loại IIa và loại IIb. Loại IIa: lượng N trong nó không thấy rõ. Loại IIb có chứa B và có tính bán dẫn. Tất cả kim cương có màu xanh da trời đều thuộc loại IIb.
    - Loại III (Ionsdaleite): kim cương được tìm thấy trong các thiên thạch với cấu trúc sáu phương thay vì khối lập phương, kim cương nhân tạo.

    3. Các tính chất vật lý và quang học

    3.1. Tính chất vật lý


    - Độ cứng: Kim cương là khoáng vật cứng nhất trong tất cả các khoáng vật của tự nhiên (10 theo thang Mohs).

    - Cát khai: Kim cương thể hiện sự khát khai hoàn toàn theo mặt [111].

    - Vết vỡ phẳng, xếp lớp, vỏ sò.

    - Tỷ trọng: Tỷ trọng của tinh thể kim cương tinh khiết có cấu trúc tinh thể hoàn hảo hầu như không đổi và gần bằng 3,5 g/cm3 ± 0,01 - 0,02 g/cm3. Thực tế tỷ trọng của kim cương thiên nhiên biến thiên từ 3,1 - 3,6 g/cm3. Tỷ trọng của kim cương biến thiên không phải chỉ đối với loại đa tinh thể mà còn đối với cả loại đơn tinh thể có độ tinh khiết cao và còn liên quan đến màu sắc.

    + Không màu:          3,500

    + Xanh lá cây:          3,523

    + Xanh da trời:         3,525

    + Màu hồng:             3,531

    + Màu da cam:         3,550

    - Tính chất hoá học: Kim cương là một khoáng vật bền vững. ở nhiệt độ bình thường kim cương hoàn toàn trơ đối với a xít và kiềm, ngay cả những a xít mạnh nhất cũng không tác dụng đối với nó. Thậm chí HF hoặc nước cường toan (HNO3 và HCl) không tác dụng lên kim cương. Tuy nhiên ở điều kiện nhiệt độ cao và trong môi trường khác, kim cương lại thể hiện tính hoạt động hoá học:

    Kim cương bị ăn mòn ở nhiệt độ cao trong môi trường một số loại khí: O, CO, CO2, H, hơi nước, Cl.

    Kim cương bị cháy trong luồng ô xy ở nhiệt độ 7200C.
    C ------O2-----> CO2 , 720 - 800 doC


    Trong không khí kim cương cháy ở nhiệt độ 8500C
    C------Không khí-------> CO2, 850 - 1000 doC


    Trong môi trường không có ô xy ở nhiệt độ 20000C - 30000C kim cương bị graphit hoá.

    Trong môi trường có bảo vệ (trong N, các khí trơ, chân không, hidro) kim cương không bị graphit hoá ngay cả ở nhiệt độ 1150 - 1200 doC.

    - Các tính chất khác:

    + Tính dẫn nhiệt: Kim cương thể hiện tính dẫn nhiệt cao. Ở trong các điều kiện nhiệt độ khác nhau, kim cương thể hiện tính dẫn nhiệt khác nhau.

    Các tinh thể có khuyết tật có thể bị nổ khi nung nóng. Nhưng tinh thể kim cương hoàn hảo có thể nung đến nhiệt độ 1800 - 18500C và hạ nhiệt nhanh mà không bị phát huỷ.

    + Tính dẫn điện: Trong thực tế ở điều kiện nhiệt độ bình thường kim cương là một chất cách điện, nhưng nó cũng có thể được nhìn nhận là một chất bán dẫn trong vùng cấm rộng DE = 5,7 ev. Các tạp chất làm giảm giá trị điện trở riêng.
    3.2. Tính chất quang học:

    - Chiết suất, tán sắc, ánh: Kim cương kết tinh theo hệ lập phương, đơn chiết. Chỉ số khúc xạ trung bình của kim cương (trong ánh sáng vàng natri): 2,4175  ± 0,0003. Khi lượng bao thể trong kim cương tăng lên, chỉ số khúc xạ cũng tăng lên đến giá trị cao nhất là 2,421. Đối với kim cương có màu phớt vàng chỉ số khúc xạ có thể biến thiên trong khoảng 2,419 - 2,421 và thông thường là 2,417.

    Đối với các tia màu sắc khác nhau, chỉ số khúc xạ của kim cương cũng khác nhau:

    + Đối với tia màu đỏ :               2,402

    + Đối với tia màu vàng :             2,417

    + Đối với tia màu xanh lá cây :    2,427

    + Đối với tia màu tím :              2,465

    Như vậy chỉ số khúc xạ của kim cương thay đổi rất lớn phụ thuộc vào độ dài bước sóng. Độ tán sắc của kim cương rất lớn bằng 0,065 (chiết xuất của tia đỏ 687,6 nm = 2,4077, chiết xuất của tia tím 430,8 nm = 2,4512), nB - nG = 0,044. Hiệu ứng này trong kim cương tạo ra sắc óng ánh cho viên đá và được gọi là “ánh lửa”.

    - Hiện tượng giải dị hướng ở kim cương: Tinh thể kim cương thuộc hệ lập phương, như vậy phải thể hiện đẳng hướng về mặt quang học, tuy nhiên ở nó người ta thường quan sát thấy hiện tượng giả dị hướng. Hiện tượng giả dị hướng được tạo ra bởi ứng suất bên trong do nhiều nguyên nhân. Hiện tượng giả dị hướng có những dạng sau: dạng sao, dạng dải, dạng lưới...

    - Phổ hấp thụ: Phổ hấp thụ của hầu hết kim cương có thể chia ra thành hai nhóm chính:

    + Nhóm I: Là nhóm màu của nó từ không màu tới màu vàng, phát quang có màu xanh da trời. Đối với nhóm này vạch hấp thụ rõ nét nhất ở vị trí 4155 l trong vùng màu tím của dải phổ. Vạch này rõ nét đối với những màu đậm nhưng hầu như có mặt thậm chí ở kim cương không màu. Các vạch phổ khác đi cùng với nó là: 4785, 4650, 4520, 4350 và 4230. Tất cả các vạch này đều năm ở vùng màu tím. Trong tất cả các vạch này thực tế có thể nhìn thấy là vạch 4785.

    + Nhóm II: bao gồm kim cương có màu nâu, màu vàng phớt xanh hoặc màu xanh và những loại thể hiện màu xanh rực rỡ dưới tia cực tím. Kim cương trong nhóm này quan sát thạy vạch rõ và hẹp ở vị trí 5040 A0 ở vùng màu xanh của dải phổ. Các vạch yếu khác là: 5370 A0 và 4980 A0 có thể có mặt.

    Cũng có loại kim cương không màu, màu vàng sáng và màu vàng nâu có phát quang màu vàng rực rỡ dưới tia cực tím. Ở những chủng loại này không quan sát được những dải hấp thụ riêng biệt ngoài một vạch yếu ở 4155 A0. Kim cương màu xanh (loại IIb) không qua sát thấy phổ hấp thụ.

    Posted Image

    Dải phổ hấp thụ của kim cương tự nhiên


    - Tính phát quang: Màu sắc phát quang của kim cương rất khác nhau và phụ thuộc vào phương pháp kích thích. Như một số tinh thể kim cương phát quang màu xanh da trời, một số khác phát màu vàng hay màu xanh lá cây.

    Posted Image

    Phát quang màu xanh lơ dưới tia cực tím sóng dài


    - Màu sắc: Kim cương có đủ các loại màu. Kim cương hoàn toàn không màu rất hiếm, chủ yếu từ không màu tới có sắc màu vàng nhạt hoặc nâu nhạt. Bên cạnh loại không màu như trên cũng gặp những tinh thể có màu nhạt nhưng thể hiện rõ ràng cũng như các màu đậm: vàng, xanh lá cây, nâu, hồng, tím phớt hồng, xanh cửu long, trắng sữa, xám và cả màu đen.

    + Kim cương màu vàng bao gồm loại có pha chút sắc vàng đến loại có màu vàng và vàng rơm tương đối phổ biến hơn so với các loại kim cương có màu khác.

    + Kim cương màu xanh lá cây.

    + Kim cương màu xanh da trời: trong thiên nhiên loại kim cương có màu xanh cửu long hoặc màu xanh da trời rất hiếm, nó thuộc loại IIb tức là loại không chứa N. Tất cả các dạng này thể hiện tính dẫn điện (chất bán dẫn), phát lân quang sau khi chiếu tia cực tím. Người ta cho rằng kim cương loại này chứa B.

    + Kim cương màu hồng hoa huệ và màu nâu ám khói liên quan với các sai hỏng tại các mặt trượt do biến dạng dẻo sau kết tinh. Các sai lệch xuất hiện ở các mặt trượt gây nên sự hấp thụ ánh sáng và tạo nên màu.

    + Kim cương màu trắng sữa, màu xám và màu đen: các vân đục do các sai lệch rất nhỏ trong cấu trúc tinh thể, màu xám và màu đen phụ thuộc vào số lượng các bao thể màu đen.

    Việc phân cấp màu sắc kim cương nhóm “không màu” được tiến hành theo các quy định chặt chẽ (sẽ được giới thiệu trong phần phân cấp chất lượng và định giá).

    4. Nguồn gốc và phân bố

    Kim cương được tạo thành từ những khoáng vật có chứa cacbon dưới nhiệt độ và áp suất rất cao. Trên Trái Đất, mọi nơi đều có thể có kim cương bởi vì ở một độ sâu nào đó thì sẽ tồn tại nhiệt độ đủ cao và áp suất đủ lớn để tạo thành kim cương. Trong những lục địa, kim cương bắt đầu hình thành ở độ sâu khoảng 150 km (90 dặm), nơi có áp suất khoảng 5 gigapascal và nhiệt độ khoảng 1200 độ Celsius (2200 độ Fahrenheit). Trong đại dương, quá trình này xảy ra ở các vùng sâu hơn do nhiệt độ cần cao hơn nên cần áp suất cũng cao hơn. Khi những áp suất và nhiệt độ dần giảm xuống thì viên kim cương cũng theo đó mà lớn dần lên.

    Qua những nghiên cứu tỉ lệ các đồng vị (giống như phương pháp xác định niên đại lịch sử bằng C-14) ngoại trừ việc sử dụng những đồng vị bền như C-12 và C-13, carbon trong kim cương được đến từ cả những nguồn hữu cơ và vô cơ. Các nguồn vô cơ có sẵn ở lớp trung gian của Quả Đất còn các nguồn hữu cơ chính là các loại cây đã chết chìm xuống dưới mặt đất trước khi biến thành kim cương. Cả hai nguồn này có tỉ lệ 13C:12C khác nhau rất lớn. Kim cương được cho rằng đã hình thành trên mặt đất trước đây rất lâu, khoảng 1 tỉ năm đến 3,3 tỉ năm.

    Ngoài ra kim cương còn có thể được hình thành trong những hiện tượng có áp suất và nhiệt độ cao khác. Người ta có tìm thấy trong tâm thiên thạch những tinh thể kim cương có kích thước cực kì nhỏ sau khi chúng rơi xuống đất tạo nên một vùng có áp suất và nhiệt độ cao để phản ứng tạo kim cương xảy ra. Những hạt bụi kim cương được dùng trong khoa học hiện đại để xác định những nơi đã có thiên thạch rơi xuống.

    Posted Image

    Mô hình các ống nổ chứa kim cương


    Những đá gốc mang kim cương bị kéo lại gần đến nơi núi lửa phun do áp suất. Khi núi lửa phun, nham thạch phải đi qua vùng tạo ra kim cương 90 dặm (150 km). Điều đó rất hiếm khi xảy ra. Ở dưới có những mạch nham thạch ngầm vận chuyển nham thạch và lưu giữ ở đó nhưng sẽ không trào ra khi núi lửa hoạt động. Những mạch chứa kim cương thường được tìm thấy ở những lục địa cổ bởi vì chúng chứa những mạch nham thạch cổ lâu nhất.

    Các nhà địa chất học sử dụng các dấu hiệu sau để tìm những vùng có kim cương: những khoáng vật ở vùng đó thường chứa nhiều crôm hay titan, cũng rất thông dụng trong những mỏ đá quý có màu sáng.

    Khi kim cương được các ống nham thạch đưa gần lên mặt đất, chúng có thể bị "rò rỉ" qua một khu vực lớn xung quanh. Một ống nham thạch được đánh giá là nguồn kim cương chính. Ngoài ra còn có thể kể đến một số viên kim cương rải rác do các nhân tố bên ngoài (môi trường, nguồn nước). Tuy nhiên, số lượng này cũng không lớn.

    Kim cương còn có thể bị đưa lên mặt đất khi có sự đứt gãy các lục địa mặc dù điều này vẫn chưa được hiểu rõ ràng và hiếm xảy ra.

    Posted Image

    Sự phân bố các mỏ kim cương ở lục địa châu Phi


    5. Đặc điểm bao thể

    Các bao thể thường gặp trong kim cương bao gồm: bao thể kim cương, granat, olivin, enstatit, diopxit và cromdiopxit, cromspinen, rutin, manhetit, graphit.

    Ngoài các bao thể rắn trong kim cương cũng phát hiện thấy các bao thể khí lỏng nhưng rất ít gặp.

    Các bao thể trong kim cương còn bao gồm các khe nứt, các đường sinh trường, đường song tinh, phân đới màu ...

    Phân cấp chất lượng kim cương theo mức độ chứa các bao thể được tuân theo các quy định chặt chẽ (sẽ được giới thiệu trong phần phân cấp chất lượng và định giá).

    Posted Image


    Một số bao thể tự nhiên trong kim cương


    Posted Image

    Các bao thể nhóm granat


    Posted Image

    Bao thể olivin


    6. Chế tác

    - Các hình dạng chế tác phổ biến của kim cương: hình tròn briliant, ovan, quả lê, hạt thóc, kiểu emơrôt, hình trái tim, hình tấm, tròn đơn và các kiểu “Fancy cut”.

    - Kiểu tròn brilliant :

    Các phần và sự sắp xếp các mặt giác trong viên kim cương tròn kiểu briliant.


    Tên gọi các mặt giác - Số lượng

    a. Mặt bàn- 1

    b. Mặt chính trên (mặt vát)- 8

    c. Mặt sao - 8

    d. Mặt trên thắt lưng - 16

    e. Mặt chính dưới (mặt chính phần đáy) - 8

    f. Mặt dưới thắt lưng - 16

    g. Đỉnh chóp - 0 hoặc 1

    Tổng số mặt - 57 hoặc 58

    Posted Image

    Các bộ phân của một viên kim cương đã chế tác chuẩn


    Kĩ thuật cắt kim cương vừa là một môn khoa học vừa là một nghệ thuật. Nó miêu tả quá trình viên kim cương được thành hình và đánh bóng từ dạng viên đá đầu tiên đến một viên ngọc sáng ngời.

    Có rất nhiều công trình nghiên cứu toán học được nghiên cứu nhằm làm cho lượng ánh sáng mà nó phản xạ được là nhiều nhất. Một trong số đó là công trình của nhà toán học yêu thích khoáng vật Marcel Tolkowsky. Ông là người nghĩ ra cách cắt hình tròn và đã đề ra các tỉ lệ thích hợp cho nó. Một viên kim cương được cắt theo kiểu hình tròn hiện đại trên bề mặt có tất cả 57 mặt. Trong đó, phần trên có 33 mặt và phần dưới có 24 mặt. Phần trên có nhiệm vụ tán xạ ánh sáng thành nhiều mằu sắc khác nhau trong khi phần bên có nhiệm vụ phản xạ ánh sáng.

    Tolowsky đã đưa ra các tỉ lệ sau

    - Tỉ lệ giữa đường kính mặt trên cùng và đường kính mặt giữa: 53%

    - Tỉ lệ giữa độ sâu và đường kính mặt giữa: 59,3%

    - Góc giữa mặt dưới và phương ngang: 40,75°

    - Góc giữa mặt trên và phương ngang: 34,5°

    - Tỉ lệ giữa độ sâu phần dưới và đường kính mặt giữa: 43,1%

    - Tỉ lệ giữa độ sâu phần trên và đường kính mặt trên: 16,2%

    Ngoài ra ở chóp dưới viên kim cương phải nhọn, nếu không thì ánh sáng sẽ đi qua dễ dàng. Thế nhưng trong thực tế thì người ta thường làm với đường kính bằng 1-2% đường kính mặt giữa.

    7. Các nhận biết kim cương

    7.1. Những dấu hiệu nhận biết kim cương bằng mắt thường:


    - Ánh: đặc điểm đặc trưng của kim cương là có ánh kim cương, được tạo bởi độ cứng có một không hai của nó, hệ số khúc xạ cao, độ tán sắc lớn và bàn tay điêu luyện của người thợ mài.

    - Độ cứng là 10 theo thang Mohs tạo cho sản phẩm kim cương sau khi chế tác một bề mặt rất phẳng và bóng với những cạnh giữa các mặt thẳng và sắc nét.

    - Kim cương được chế tác hoàn hảo, trên thực tế tất cả ánh sáng vào viên kim cương qua mặt trên của viên đá được phản xạ toàn phần bởi những mặt facet đáy, không có phần ánh sáng nào qua viên kim cương được. Như vậy khi quan sát viên kim cương từ dưới lên ta chỉ nhìn thấy một chấm sáng rất nhỏ ngoài ra không nhìn thấy gì khác mặc dù viên kim cương là trong suốt.

    - Chiết xuất, độ tán sắc của kim cương lớn hơn hẳn các loại đá khác (ngoại trừ fabulit 0,190 và rutin nhân tạo có độ tán sắc cao hơn, nhưng rutin lại có khúc xạ kép và fabulit có độ cứng thấp hơn nhiều).

    - Phần sót của các mặt tự nhiên ở phần thắt lưng. Ngoài các tam giác mọc trên rìa còn thấy phần rìa rất thô sơ với các loại đá khác.

    - Ái lực cao với dầu mỡ: nếu mặt viên kim cương đã chế tác bị sờ tay vào sẽ có một lớp váng dầu mỏng ở bề mặt.

    7.2. Xác định kim cương bằng các thiết bị

    - Chiết suất: +  Trong các đá tự nhiên chỉ có zircon (n = 1,926 - 1,985), demantoid (n = 1,89) và sfen (n = 1,9 - 2,03) có chiết xuất gần giống kim cương. Trong đó chỉ có zircon là không màu và chỉ có demantoid là đẳng hướng. Zircon và sfen quan sát dưới kíp lúp sẽ thấy các cạnh đáy bị nhân đôi, còn demantoid sẽ thấy bao thể “đuôi ngựa” đặc trưng.

    - Trong số các đá nhân tạo có rutin (n = 2,62 - 2,90) và titanat stronxi (fabulit n = 2,41) có chiết suất gần giống với kim cương và fabulit lại là đẳng hướng. Rutin có thể nhận thấy ngay bởi hiện tượng khúc xạ kép rất rõ, nó có ánh rất mạnh (gần như opan lửa) có sắc vàng rất rõ. Fabulit có ánh lửa hơn hẳn kim cương, nhưng fabulit lại có độ cứng rất thấp.

    - Đối với các loại đá nhân tạo không màu như saphia và spinen có thể phân biệt bằng chiết suất hoặc nhúng vào iodua metylen.

    - Tính phát quang: Ngoại trừ dùng tia X có thể phân biệt được kim cương, còn tính phát quang nói chung của kim cương không phải là tính chất giám định vì kim cương phát quang rất khác nhau. Tuy nhiên đây cũng là tính chất có tác dụng hỗ trợ.

    - Phổ hấp thụ: Hầu hết kim cương đều có dải hấp thụ ở vùng tím sẫm (415 nm). Tốt nhất là dùng lọc mầu lam, nhìn song song với mặt phẳng thắt lưng. Khi thấy vạch hấp thụ này thì chắc chắn đó là kim cương. Trong loại kim cương “cape” ngoài vạch này còn nhìn thấy vạch ở vùng xanh tím 478 nm.

    - Các đặc điểm bên trong: Các bao thể trong kim cương khá đặc trưng có thể quan sát dưới kính hiển vi hay kính lúp: các đường song tinh, đường sinh trưởng, vết cát khai và những bao thể của các khoáng vật khác như: manhetit, graphit, spinen, pirop, dipxit và enstatit, kim cương ...

    - Hiện tưởng giả dị hướng: Cũng là dấu hiệu khá đặc trưng của kim cương. Khi quan sát ở dưới hai nicon vuông góc với nhau ta quan sát thấy các tối luân phiên với các đốm màu.

    - Độ cứng: Kim cương cứng hơn hẳn tất cả các loại đá khác do vậy bằng phương pháp thử độ cứng dễ dàng nhận biết kim cương.

    - Tỷ trọng: Có thể dùng phương pháp cân tỷ trọng và sử dụng dung dịch tỷ trọng. Ngoài ra vì kim cương được chế tác chuẩn (kiểu briliant) nên giữa khối lượng và kích thước của nó có một tỷ lệ không đổi, như vậy có thể ước lượng được khối lượng của nó từ kích thước đường kính của viên đá. Những vật liệu có khối lượng riêng khác với kim cương sẽ không đúng với tỷ lệ này.

    - Độ dẫn nhiệt: Dùng bút thử kim cương, độ dẫn nhiệt của kim cương phụ thuộc vào tỷ lệ N trong kim cương, kích thước của nó và nhiệt độ môi trường bên ngoài. Có một loại đá thay thế kim cương là mosanit cũng có độ dẫn nhiệt cao hơn kim cương và không thể phân biệt bằng phương pháp này.

    Dựa vào sức hút bề mặt người ta chế tạo ra bút thử kim cương dùng loại mực đặc biệt, khi vẽ lên kim cương sẽ cho đường liền nét, còn trên các khoáng vật khác sẽ có đường đứt đoạn.

    7.3. Đá giả kim cương và phương pháp nhận biết

    KIM CƯƠNG VÀ ĐÁ THAY THẾ KIM CƯƠNG

    Posted Image


    - Mosanit (SiC - Carbid Silic): Là loại đá thay thế kim cương nhất, là loại gần giống với kim cương nhất trong các loại đá thay thế.


    Posted Image


    7.4. Kim cương có màu do xử lý, đặc điểm phân biệt

    Posted Image


    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image




    Kính mời các đồng nghiệp xa gần đóng góp cho cuộc thi Chất Động Pangaea lần thứ XIII - năm 2016 Thời gian bắt đầu cuộc thi: 06/03/2016

    Facebook Comments

    #2 nobita

    nobita

      Quản lý Box Dầu khí

    • Điều hành
    • 98 Bài viết:
    • Joined 07-April 08
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:06DC - Khoa Địa Chất - ĐH KHTN TPHCM
    • Interests:BÓNG ĐÁ.

    Posted 22 October 2009 - 10:44 PM

    bài viết chi tiết wa nhỉ? rất hay. cam ơn Amethyst. bạn có tài liệu về Emerald thì chia sẻ cho mình với nha.
    hihi. liên hệ trên lớp đi. :cuoinherang: :cuoinherang: :cuoinherang:

    Attached Files



    #3 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 22 October 2009 - 11:24 PM

    CONRUNDUM ( RUBY VÀ SAPHIR )


    Posted Image


    Ruby và saphia đã quá quen thuộc với giới ưa chuộng đồ trang sức ở Việt Nam, tuy nhiên những kiến thức về chúng thì không phải ai cũng có được và nhiều khi dẫn đến việc mất tiền mua những món hàng không đáng giá. Bài viết này sẽ giúp bạn đọc hiểu hơn về loại đá quý có giá trị này.


    1. Khái quát

    Từ “corundum” phát sinh từ tiếng Hy lạp “Kerand” hoặc “Kuruvinda”, sau này tên gọi corindon được người Ấn Độ miêu tả thành 2 thể loại, tuỳ theo màu sắc của nó: Ruby (rubinus) có nghĩa là màu đỏ và saphia (saphiarus) có nghĩa là màu lam.
    Mãi đến năm 1800 người ta mới biết rằng ruby và saphia cùng thuộc về một nhóm. Tên saphia cũng theo tiếng Hy lạp, saphiarus có nghĩa là màu xanh lam.

    Ngày nay chúng ta cũng quan niệm rằng loại có màu đỏ được gọi là ruby và màu lam gọi là saphia, còn những loại màu pha trộn khác gọi chung là corindon, hoặc saphia kèm theo tính từ chỉ màu sắc. Ví dụ: saphia lục, saphia vàng.

    Posted Image

    Corindon màu đỏ được gọi là ruby, corindon màu lam được gọi là saphia
    các màu khác được gọi là saphia màu


    2. Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể
    2.1. Thành phần hóa học


    Thành phần hóa học của corindon là alumin Al2O3. Khi nó tinh khiết là saphia không màu, kết quả màu sắc của ruby là do lượng rất nhỏ (vết) của oxit crôm, và màu xanh của saphia là do một lượng nhỏ của nguyên tố sắt và titan. Năm 1986 Heilmann và Henn đã phân tích thành phần hóa học của corindon bằng phương pháp hiện đại cho kết quả thay đổi như sau: Phần lớn các mẫu có hàm lượng Al2O3> 99,4%, SiO2 từ 0,03 - 0,06%; Na2O từ vết - 0,01; K2O từ vết - 0,02; MgO: từ vết - 0,05%; CaO: từ vết - 0,02; Fe từ 0,12 - 0,22; MnO từ vết - 0,03; TiO2 0,01 - 0,02.
    Thành phần hóa học của corindon ở các vùng khác nhau thì hàm lượng các nguyên tố tạo màu có khác nhau một chút.

    2.2. Cấu trúc tinh thể:

    Corindon nằm trong nhóm hematit (X2O3), cấu trúc của nhóm khoáng vật này dựa trên hình 6 phương khép kín của nguyên tử oxy với các cation trong khối tám mặt giữa chúng. Trên cơ sở hình chiếu của cấu trúc corindon chỉ ra rằng có 2/3 khoảng trống của tám mặt là được lấp bởi cation Al3+. Liên kết hóa trị tĩnh điện (ev) hoặc lực lượng liên kết của mối liên kết Al3+. Bởi vì ion Al3+ được bao quanh bởi 6 ion oxy, hóa trị tĩnh điệncủa mỗi sáu liên kết nguyên tử Al-O trong phân tử bằgn 1/2. Mỗi ion oxy được chia sẻ giữa 4 khối tám mặt, nghĩa là 4 liên kết nguyên tử trong phân tử điện hóa trị bằng 1/2 lượng tỏa ra từ một vị trí oxy. Trong mặt cơ sở (0001) điều này cho phép chỉ 2 cặp Al-O liên kết từ mỗi oxy, mà chỉ ra bởi hai khối tám mặt chung nhau một oxy ở góc.
    Mỗi khối tám mặt chung 1 mặt giữa 2 lớp kề cận theo chiều thẳng đứng của các chồng khối tám mặt (sắp xếp chồng lên nhau). Crôm tham gia vào mạng của corindon dưới dạng 1 ion hoá trị 3 (Cr+3) thay thế đồng hình ion Al3+.


    Posted Image

    Mô hình cấu trúc tinh thể của ruby, saphia


    Đặc tính tinh thể học của corindon: Corindon kết tinh trong biến thể ba phương của tinh hệ 6 phương, thuộc lớp 32/m với các yếu tố đối xứng sau:
    - Một trục đối xứng bậc ba, mà cũng tượng trưng cho 1 trục bậc 3 đảo.
    - Ba trục đối xứng bậc 2 vuông góc với trục bậc 3.
    - Ba mặt phẳng đối xứng vuông góc với trục bậc 2 và cắt nhau dọc theo trục có thứ tự cao.
    - Một tâm đối xứng.
    Corindon là một khoáng vật của nhôm: Al2O3, kết tinh ở hệ lục phương, có hình dạng thường gặp là lăng trụ, hình tấm 6 mặt, hai tháp 6 phương.


    Posted Image

    Tinh thể dạng lưỡng tháp sáu phương trong đá hoa Lục Yên


    - Al2O3 tam phương là một biến thể vững chắc nhất trong tự nhiên, thành tạo trong khoảng nhiệt độ 500 - 15000C.
    - Al2O3 lục phương vững bền ở nhiệt độ cao, sự chuyển  Al2O3 thành  Al2O3 thực hiện ở nhiệt độ 1500 - 18000C.
    - lập phương có kiến trúc tinh thể của spinen.

    3. Các tính chất vật lý và quang học
    3.1. Tính chất vật lý


    - Cát khai: Ruby, saphia không có cát khai, nhưng có thể tách theo một số hướng nhất định.
    - Vết vỡ: vỏ sò.
    - Độ cứng: Ruby, saphia có độ cứng tương đối là 9 (theo thang Mohs), chỉ đứng sau kim cương. Độ cứng của ruby, saphia cũng biến đổi theo các hướng khác nhau.
    - Màu vết vạch: trắng
    - Tỷ trọng: Ruby: 3,95 - 4,05, thường là 4,00
    Saphia: 3,95 - 4,03 , thường là 3,99.

    3.2. Tính chất quang học

    - Độ trong suốt: Từ trong suốt đến đục
    - Ánh: Mặt vỡ thường có ánh thuỷ tinh; mặt mài bóng thường có ánh từ thuỷ tinh đến gần ánh lửa.
    - Tính đa sắc: ruby: mạnh; đỏ phớt tía/ đỏ da cam
    Saphia: mạnh; lam phớt tím/ lam phớt lục
    Saphia vàng: yếu đến rõ; vàng/ vàng nhạt.
    Saphia lục: mạnh; lục/ vàng lục
    Saphia tím: mạnh; tím/ da cam
    - Chiết suất: 1,766 - 1,774
    - Lưỡng chiết suất: 0,008
    - Độ tán sắc: 0,018
    - Phổ hấp thụ: Ruby: 6942, 6928, 6680, 6592, 6100, 5000, 4765, 4750, 4685.
    Saphia lam: màulam của Sri Lanka: 4701, 4600, 4550, 4500, 3790.
    Saphia vàng: 4710, 4600, 4500, nhưng yếu hơn.
    Saphia lục: 4710, 4600, 4500, nhưng hơi mạnh hơn.
    Saphia tím: có thể có cả phổ của ruby (Cr) và saphia (Fe).


    Posted Image

    Phổ hấp thụ của ruby


    - Lọc Chelsea: Ruby: đỏ mạnh
    Saphia lục: màu lục
    Saphia lam : hơi đen
    Saphia tím và lam tím: có thể hơi đỏ.
    - Tính phát quang: Ruby : mạnh, đỏ phớt tím (huỳnh quang khác nhau theo những vùng mỏ). Saphia: Không có sự phát huỳnh quang đặc trưng cho mọi loại saphia, nó phụ thuộc vào màu sắc và xuất xứ của viên đá.


    Posted Image

    Ruby phát quang đỏ mạnh dưới tia cực tím, còn saphia thờng trơ


    - Các hiệu ứng quang học: Hiện tượng ánh sao là đặc trưng nhất, hiện tượng mắt mèo thì ít gặp hơn. Ngoài ra còn gặp hiệu ứng đổi màu (hiệu ứng Alexandrit), màu viên đá thay đổi từ lam đến tía hoặc hiếm hơn từ lục đến nâu phớt đỏ


    Posted Image

    Hiệu ứng "sao" của ruby và saphia


    4. Đặc điểm bao thể

    Trong ruby sự có mặt phổ biến các bao thể ở các dạng khác nhau. Điều đó giúp phân biệt giữa ruby tự nhiên và ruby nhân tạo.
    Nếu viên đá chứa bao thể rutin hình kim que với số lượng khá lớn thì viên đá có ánh bên trong mềm mại (gọi là ánh lụa), nếu ta cắt theo kiểu cabochon thì có thể được viên ruby có hiện tượng mắt mèo hoặc hình sao.
    Giống như các loại đá khác ruby cũng có nhiều loại bao thể như: lỏng, khí, bao thể “rắn” và “hỗn hợp”: rutin, granat, biotit, apatit, fenspat, canxit,…


    Các bao thể apatit, zircon, canxit, dolomit, rutin,...trong ruby Việt Nam
    (ảnh Luận án Tiến sĩ của Phạm Văn Long)



    Posted Image

    Các bao thể dạng lụa của rutin là nguyên nhân gây nên hiệu ứng "sao" trong ruby và saphia


    - Các hiệu ứng quang học: Hiện tượng ánh sao là đặc trưng nhất, hiện tượng mắt mèo thì ít gặp hơn. Ngoài ra còn gặp hiệu ứng đổi màu (hiệu ứng Alexandrit), màu viên đá thay đổi từ lam đến tía hoặc hiếm hơn từ lục đến nâu phớt đỏ.

    5. Các phương pháp xử lý
    5.1. Tác dụng của các tác nhân

    - Nhiệt độ: Dưới tác dụng của nhiệt độ, màu sắc và độ tinh khiết của ruby, saphia có thể có những biến đổi khác nhau.
    - Axit: Rất khó tác dụng. Các chất bột hàn và dung dịch muối dấm chứa Bo có thể hòa tan bề mặt của viên corindon.
    - Chiếu xạ: Có thể tạo màu vàng đến vàng nâu từ loại saphia vàng nhạt.

    5.2. Các phương pháp xử lý và tổng hợp

    - Xử lý nhiệt: Dưới tác dụng của nhiệt độ cao và môi trường xử lý thích hợp có thể làm tăng chất lượng của ruby, saphia. Tăng độ đồng đều của màu, giảm các hiệu ứng màng mây, màng sữa và làm tăng độ tinh khiết. Hiện nay trên thị trường thì hơn 95% ruby và saphia đều đã qua xử lý nhiệt và được thị trường chấp nhận coi như là ruby, saphia tự nhiên.
    - Các phương pháp xử lý khác: Ngoài ra chúng còn được xử lý bằng cách khuyếch tán nhiệt, sửa bề mặt, chiếu xạ, nhuộm màu và sơn dầu.
    - Tổng hợp: Ruby và saphia được tổng hợp bằng nhiều phương pháp khác nhau: nóng chảy trong ngọn lửa, chất trợ dung hoặc phương pháp nhiệt dịch


    Posted Image

    Corindon tổng hợp các màu khác nhau

    6. Nguồn gốc và phân bố
    - Nguồn gốc: Corindon có nguồn gốc chủ yếu là biến chất, skarn, nhiệt dịch và magma. Tuy nhiên loại có giá trị thương phẩm chủ yếu được khai thác trong các kiểu nguồn gốc biến chất và skarn.
    - Ngày nay trên thế giới đã có nhều vùng mỏ ruby, saphia được khai thác như: Miến Điện, Sri Lanka, Thái Lan, Nam Phi, Campuchia, Bắc Mỹ, Pakistan,…


    Posted Image

    Ruby, saphia Madagasca


    - Ở Việt nam, chúng ta cũng lần lượt khai thác ruby, saphia từ các vùng mỏ Quỳ Châu (Nghệ An), Tân Hương, Lục Yên (Yên Bái), miền nam Việt Nam (Bảo Lộc, Di Linh, Tiên Cô, Đá Bàn, Đak Nông,…).


    Posted Image

    Bản đồ phân bố các điểm mỏ ruby, saphia ở Việt Nam


    Posted Image

    Những khu vực khai thác ruby, saphia chủ yếu trên thế giới



    7. Chế tác

    Ruby cũng như saphia có thể cắt theo nhiều kiểu khác nhau, song phổ biến nhất là kiểu cắt hỗn hợp: Phần đỉnh cắt kiểu kim cương (brilliant), còn phần đáy cắt bậc, đối với viên ruby và saphia chất lượng hảo hạng, người ta cũng hay dùng kiểu cắt bậc vừa để đảm bảo trọng lượng vừa để duy trì được các hiệu ứng quang học.
    Còn các kiểu chế tác đáy tầng và kiểu kim cương cũng gặp nhưng hiếm hơn nhiều. Khi chế tác corindon ta cần phải lưu ý đến các đặc điểm sau:
    - Định hướng trục quang (cả đối với kiểu mài giác lẫn kiểu mài cabochon sao).
    - Tính phân bố màu sắc.
    - Độ đậm nhạt của màu (màu càng nhạt thì càng phải nhiều tầng, mỗi tầng càng phải nhiều giác và các giác càng phải nhỏ).
    - Đặc điểm phân bố khuyết tật v.v
    Nếu các viên đá có chất lượng kém hoặc nhiều khuyết tật thì người ta có thể cắt thành các hạt hình tròn, kiểu cabochon hoặc dùng để chạm khắc.
    Riêng viên đá có hiệu ứng sao được cắt theo kiểu cabochon để phô bày hiệu ứng quang học hấp dẫn đó.
    Ngoài ra, tùy hình dáng, kích thước người ta có thể cắt ruby, saphia thành các kiểu khác nhau tùy ý thích của người tiêu dùng nhằm giữ được trọng lượng tối đa như đối với kim cương: Đó là kiểu emơrôt, kiểu baguette, hình tim, hình tam giác, hình hạt dưa, hình thang, hình chữ nhật, v.v.


    Posted Image

    Với ruby, saphia sao người ta thường chế tác kiểu cabochon



    8. Phân biệt
            Hiện nay 95% lượng ruby, saphia trên thị trường đã qua xử lý bằng các phương pháp khác nhau.

    - Nhận biết ruby, saphia xử lý nhiệt: Ruby, saphia có thể được xử lý nhiệt bằng phương pháp thông thường (chỉ dung nhiệt độ cao tác động lên viên đá làm thay đổi màu sắc và độ tinh khiết), hoặc xử lý nhiệt kèm lấp đầy khe nứt (dùng thuỷ tinh chì để lấp đầy vào các khe nứt trong quá trình xử lý nhiệt). Để nhận biết chúng phải quan sát các đặc điểm bên trong, các biến đổi của bao thể do tác động của nhiệt độ, phát hiện thuỷ tinh lấp đầy bằng các bọt khí,…



    Posted Image

    Một dấu hiệu của ruby xử lý nhiệt kèm lấp đầy khe nứt và các bọt khí trong ruby tổng hợp


    - Nhận biết ruby, saphia tổng hợp: Hiện nay, ngoài phương pháp nóng chảy trong ngọn lửa Verneuil, người ta còn sử dụng các phương pháp dùng chất trợ dung như: phương pháp Chatham, Kashan, Knischka, Ramaura, v.v. để sản xuất ruby, saphia tổng hợp. Tất cả các phương pháp này đều mô phỏng các quá trình thành tạo ruby, saphia trong tự nhiên do vậy chúng mang nhiều các đặc điểm giống với ruby, saphia tự nhiên. Để có thể phân biệt được chúng phải dựa vào các đặc điểm bên trong. Ví dụ: đường tăng trưởng, bọt khí, bao thể dạng vân tay, tinh thể platin, tinh thể âm v.v cùng với nhiều dấu vết khác.


    - Phân biệt ruby, saphia với các đá tương tự: Việc giám định ruby, saphia có khó khăn là có rất nhiều khoáng vật được sử dụng để thay thế và bắt chước chúng. Ruby có thể nhầm lẫn với spinen, granat, hoặc tuamalin màu đỏ, một vài loại topaz. Ruby khác tất cả các khoáng vật này ở độ cứng cao. Tính lưỡng chiết và đa sắc mạnh cũng là các dấu hiệu để phân biệt với spinen và granat. Ngoài ra ruby còn phát quang mạnh (đỏ tươi) dưới tia cực tím và màu đỏ dưới kính lọc Chelsea.
    Saphia có thể bị nhầm lẫn với nhiều loại đá khác như : benitoit, iolit, kyanit, spinen, topaz, tuamalin, zircon và thuỷ tinh màu lam.

    9. Chất lượng và giá trị


    Đối với ruby thì loại có màu đỏ, đỏ hơi phớt tím là có giá trị cao nhất. Ánh tím càng tăng và sự có mặt của sắc màu da cam sẽ làm giảm giá trị của viên đá xuống. Loại có sắc màu nâu có giá trị thấp nhất. Xét về độ sáng tối (ton) của màu thì những viên có tông màu tối vừa là có giá nhất, sau đó là tông sáng và tông tối. Màu không đều cũng làm giảm giá trị của viên đá.
    Giá trị của ruby, saphia còn chịu ảnh hưởng của các tì vết bên ngoài và các khuyết tật bên bên trong (rạn nứt, bao thể) song ở mức độ ít hơn nhiều so với màu sắc.

    Theo các số liệu của thập kỷ 90, giá của các loại ruby (tùy thuộc vào màu sắc, độ tinh khiết và chất lượng chế tác) như sau:

    - Ruby Thái lan: 500 - 3000 USD/ cts
    - Ruby Miến điện: cao hơn vài lần
    Còn trên thị trường bán buôn ở Mỹ thì giá những viên ruby nặng 1cara là:
    - Ruby Thái : 1200 - 3500 USD/cts
    - Saphia hồng: 500 USD/cts

    Đối với saphia, màu được ưa chuộng nhất là màu lam hơi phớt tím với tông màu tối vừa. Những viên có sắc màu lục và đa sắc mạnh (Australia, Kenya, miền Nam Việt nam) đều ít được ưa chuộng hơn. Giá bán buôn trên thị trường Mỹ đối với những viên 1ct như sau (loại từ màu lam đến lục):
    1500 - 2000 USD/cts (Miến điện)
    450 - 200 USD/cts (Sri Lanka)
    250 - 400 USD (Thái lan, Campuchia);
    Màu lục xám: 25USD/cts;
    Da cam (padparadscha): 250 - 1200/cts (loại chất lượng trung bình) và 2000USD/cts (chất lượng tốt);
    Màu vàng: viên từ 1- 5ct: 89 - 150 USD/cts.


    Posted Image

    Viên ruby "Ngôi sao Việt Nam" được định giá hàng chục triệu USD
    được khai thác tại mỏ Tân Hương năm 1997


                                                                                                      
    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #4 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 23 October 2009 - 03:56 PM

    EMERALD


    Posted Image

    Emerald với màu xanh lục thuần khiết

    Là một loại đá quý được xếp vào nhóm I chỉ đứng sau kim cương, ruby và saphia. Emerald tên tiếng Việt là emơrôt hay còn gọi là lục bảo ngọc. Với màu xanh lục tinh khiết emơrôt được coi là đại diện của mùa xuân và từ lâu người ta xem emerald là biểu tượng của tình yêu và sự tái sinh. Emơrôt đại diện cho những ai sinh vào tháng 5, truyền thuyết kể rằng ai sở hữu nó sẽ có tài hùng biện, trí thông minh và tình yêu mãnh liệt.

    1. Khái quát chung

    Tên gọi xuất xứ từ tiếng Hy Lạp "Smaragdos" có nghĩa là đá màu lục, và được người Ba tư và người Hindu cổ xưa sử dụng; ở thời kỳ cổ đại nó không những ám chỉ emơrôt mà còn là tên gọi cho phần lớn các đá màu lục khác.

    Loại đá này được sử dụng và ưa chuộng từ 4000 năm trước công nguyên (thời Babylon). Emơrôt là loại đá quý có tính thương mại đầu tiên của loài người, là biểu tượng của thần Venus, thời cổ nó cũng tượng trưng cho luật pháp, sức mạnh và tình yêu.

    Nơi tìm thấy emơrôt đầu tiên trên thế giới là ven biển Hồng Hải ở Ai cập, đó là mỏ Cleopatra. Mỏ này được khai thác suốt 200 năm trước công nguyên và phần lớn emơrôt sử dụng làm trang sức thời bấy giờ là do mỏ này cung cấp.

    Posted ImagePosted Image

    Tinh thể emơrôt trong đá gốc


    2. Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể
    2.1. Thành phần hóa học: Giống beril, nguyên tố tạo màu là Cr, đôi khi là V.

    2.2. Cấu trúc tinh thể: Giống beril

    3. Các tính chất vật lý và quang học
    3.1. Các tính chất vật lý


    - Tỷ trọng: 2,67 - 2,78.
    - Các tính chất khác giống beril

    3.2. Các tính chất quang học

    - Màu sắc: Emơrôt thường có màu lục tới lục đậm. Màu lục của emơrôt không gì sánh được vì thế được gọi riêng là "lục emơrôt". Nguyên nhân tạo màu lục là do Cr2O3, đôi khi là vanadi (Va). Màu sắc rất ổn định dưới tác dụng của ánh sáng và nhiệt, chỉ biến đổi nhiệt độ 700 - 8000C.

    Màu được ưa chuộng nhất là màu lục thắm, còn màu lục nhạt, vàng lục, lục tối ít chuộng hơn. Màu sắc trong viên đá thường phân bố không đều, mà tạo thành các sọc hoặc đám màu. Sắt cũng thường xuyên có mặt trong emơrôt và làm giảm sự phát quang của đá.

    Posted Image


    - Chỉ số chiết suất: 1,576 - 1,582.
    - Lưỡng chiết: 0,006.
    - Phổ hấp thụ: 6835, 6896, 6620, 6460, 6370, 6300, 5800, 4774, 4725.

    Posted Image

    Phổ hấp thụ của emơrôt tổng hợp (bên trên) và emơrôt tự nhiên (bên dưới)


    - Tính phát quang: Phát quang màu đỏ. Dưới kính lọc Chelsea cũng cho màu đỏ. Sự phát quang này có thể bị giảm đi khi có mặt củ Fe, và có thể không phát quang.
    - Đặc tính quang học: một trục âm.

    Posted Image

    Emơrôt Colombia


    4. Đặc điểm bao thể

    Thông thường emơrôt chứa các bao thể tự nhiên như: bao thể lỏng với bọt khí và các bao thể cứng khác. Những bao thể đó là chứng cứ cho nguồn gốc tự nhiên của viên đá so với loại tổng hợp và mô phỏng.

    Posted ImagePosted Image

    Bao thể 2 pha và 3 pha trong emơrot tự nhiên


    - Bao thể rắn trong emơrôt:pyrit, sylvin, parisit (một khoáng vật đất hiếm), bao thể tinh thể âm định hướng song song với trục của tinh thể. Đặc biệt trong emơrôt hay có các màng sương nên người ta có tên gọi cho loại này là "emơrôt vườn cảnh" .

    Posted ImagePosted Image

    Bao thể phenakit và bao thể dạng vân tay trong emơrôt tổng hợp


    5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp

    - Emơrôt được tổng hợp trong công nghiệp chủ yếu bằng phương pháp nhiệt dịch và ít hơn là phương pháp chất trợ dung “flux”.

    Posted Image

    Tinh thể emơrôt tổng hợp bằng phương pháp nhiệt dịch của hãng Gilson


    - Thông thường emơrôt thường chứa nhiều các bao thể, các khe nứt lấp đầy do vậy, các khe nứt phổ biến trong emerald và thường được lấp đầy bằng chất dầu hoặc thuỷ tinh màu để làm tăng độ tinh khiết. Cách xử lý này gọi là lấp đầy hoặc tẩm dầu khe nứt. Có thể cần tái lấp đầy emerald định kỳ để thay thế chất lấp đầy cũ đã bị biến đổi. Việc xử lý này được xem là không bền và có thể phát hiện được.

    6. Nguồn gốc và phân bố

    Các mỏ emơrôt chủ yếu gặp ở Colombia, Liên Xô cũ, Brazil, Pakistan, Zimbabwe, Indonexia, ở Úc và một vài nơi khác.

    Posted Image

    Các khu vực emơrôt chủ yếu trên thế giới


        Hiện tại Việt Nam chưa phát hiện được emơrôt, nhưng các dấu hiệu địa chất ở một số vùng có thể cho phép phát hiện emơrôt trong tương lai.

    7. Chế tác

    Emơrôt chất thường được mài cắt theo kiểu cắt bậc, vát bốn góc tạo nên hình đa giác 8 cạnh và kiểu này được gọi là kiểu "emơrôt". Kiểu chế tác này nhờ số lượng mặt facet ít tạo cho emơrôt thể hiện màu lục thắm một cách có hiệu quả nhất. Mặc dù trên thực tế có kiểu cắt hỗn hợp: trên là kiểu kim cương (brilliant), dưới là cắt bậc cũng dùng nhưng ít áp dụng vì nó làm cho viên đá quý trông giống như thuỷ tinh.

    Emơrôt có chất lượng kém hoặc nhiều khuyết tật được mài kiểu cabochon làm thành các chuỗi hạt hoặc chạm khắc.

    8. Đá giả, đá tương tự, đá nhân tạo và cách nhận biết.

    8.1. Các loại đá tương tự:


    Emơrôt có thể nhầm lẫn với các loại đá khác như demantoit (nhóm granat), peridot, tuamalin màu lục, uvarovit, diopxit, jadeit, saphia màu lục, fluorit. Đối với các đá tự nhiên trên, để phân biệt với emơrôt ta dựa vào tỷ trọng của chúng hoặc dựa vào chiết suất bởi vì tỷ trọng và chiết suất của các đá này cao hơn hẳn emơrôt.

    8.2. Đá giả:

    Đá ghép đôi giả emơrôt cũng có mặt trên thị trường, chủ yếu gồm hai mảnh đá tự nhiên nhạt màu (thạch anh, aquamarin, berin hoặc emơrôt màu nhạt) được gắn với nhau bằng loại nhựa có màu lục như "lục emơrôt". Cũng có loại emơrôt màu nhạt được sơn dưới đáy nhằm tăng cường độ màu, sẽ khó khăn khi giám định nếu chúng được gắn trên nhẫn, tuy nhiên dùng kính phóng đại sẽ dễ dàng nhận ra lớp lót.

    8.3. Đá tổng hợp:

    Emơrôt tổng hợp xuất hiện trên thị trường từ năm 1950. Ngày nay có rất nhiều loại emơrôt được tổng hợp theo những phương pháp khác nhau. Tuy nhiên để phân biệt với emơrôt tự nhiên ta dựa vào các đặc điểm bao thể.
                Các dạng bao thể đặc trưng cho emơrôt tổng hợp gồm các cấu trúc sinh trưởng dạng chữ “v”,  các bao thể tàn dư của chất trợ dung, các bao thể phenakit không màu dạng kim, các bao thể dạng vân tay,…

    Posted ImagePosted Image

    Bao thể phenakit trong emơrôt tổng hợp


    Posted Image

    Bao thể dạng vân tay trong emơrôt tổng hợp


    9. Bảo quản và làm sạch:

        Emơrôt là loại đá quý có độ cứng tương đối cao, có độ cứng đạt 7,5 đến 8 trên thang Mohs. Tuy nhiên vì có nhiều tạp chất nên xử lý phải hết sức cẩn thận và tránh những va chạm mạnh.
        Bạn không nên rửa emơrôt bằng nước xà phòng nóng hoặc bằng hơi nước sôi và không bao giờ được rửa nó với máy siêu âm vì vật liệu lấp đầy có thể bị đẩy ra khỏi viên đá hoặc bị biến đổi, làm lộ ra các khe nứt. Chỉ nên rửa với nước nguội và dùng bàn chải chà nhẹ để lấy đi chất dơ dính phía sau viên đá.

    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #5 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 26 October 2009 - 03:14 PM

    AQUAMARINE


    Posted Image


    Màu đặc trưng của aquamarin


    Aquamarin còn được gọi là ngọc của biển vì tên của nó bắt nguồn từ “nước biển”. Truyền thuyết cho rằng aquamarin là báu vật của nàng tiên cá, nó có quyền năng giúp cho các thủy thủ an toàn trên biển. Quyền năng của nó được tăng lên khi nhúng vào trong nước. Người ta cũng cho rằng aquamarin sẽ giúp đem lại sự bình an cho các đôi uyên ương. Vì năng lượng của nó bảo đảm cho một cuộc hôn nhân bền vững và hạnh phúc nên aquamarin đã trở thành một món quà cưới quý giá. Aquamarin là loại đá của người sinh vào tháng 3.

    1. Khái quát chung

    Aquamarin theo tiếng La tinh có nghĩa là màu xanh nước biển (tiếng Pháp - lau de mer) được Boece de Boot sử dụng vào năm 1604. Aquamarin cũng là bùa hộ mệnh đối với các thuỷ thủ xưa, và là quà cưới biểu hiện mối tình hạnh phúc bền lâu của đôi vợ chồng trẻ.

    2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể: xem

    Please Login or Register to see this Hidden Content



    Posted Image

    Posted Image

    Posted Image

    Dạng tinh thể đặc trưng của aquamarin


    3. Các tính chất vật lý và quang học

    - Tỷ trọng: 2.66-2.80

    - Chiết suất: 1.56-1.59

    - Lưỡng chiết: 0.007

    - Đa sắc: Lam/không màu

    - Màu sắc: aquamarin có màu xanh nước biển (màu lam sáng, lam, lam-lục), còn các thông số khác cũng giống như emơrôt.

    Posted Image


    Tinh thể aquamarrin trong đá gốc


    - Phổ hấp thụ: 5370 vạch này chỉ thấy theo phương bất đồng thường nằm giữa vùng lục, các vạch khác là  4560, 4270. Đối với aquamarin xử lý nhiệt không thấy những vạch này.

    Posted Image


    Phổ hấp thụ của berin


    - Tính phát quang: không

    4. Đặc điểm bao thể: xem

    Please Login or Register to see this Hidden Content



    Posted Image


    Một tinh thể aquamarin chứa các bao thể clorit


    5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp

                Aquamarin không được xử lý và ít được tổng hợp trong công nghiệp.

    6. Nguồn gốc và phân bố

                Cũng giống như berin, aquamarin có nguồn gốc pegmatit và nhiệt dịch là chủ yếu. Các tinh thể aquamarin có kích thước lớn thường được hình thành trong các quá trình pegmatit.

                Trên thế giới aquamarin chủ yếu có nguồn gốc từ Brasin, Kenya, Nigiêria, Zambia,…

    Posted Image

    Posted Image

    Aquamarin Brasil


    Posted Image

    Posted Image

    Aquamarin Pakistan


    Posted Image

    Posted Image

    Aquamarin Nam Phil


                Tại

    Please Login or Register to see this Hidden Content

    , aquamarin được phát hiện tại Xuân Lẹ (Thanh Hoá), Thạch Khoán (Vĩnh Phú) và một số nơi khác.

    Posted Image

    Các khu vực khai thác aquamarin chủ yếu trên thế giới

    7. Chế tác

    Đối với aquamarin người ta cũng áp dụng kiểu cắt bậc như emơrôt. Song chỉ khác một điều là hướng cắt được chọn khác đi. Mặt bàn (table) của emơrôt thường cắt vuông góc với trụ quang, còn aquamarin thì cắt song song với trục quang.

    8. Đá giả, đá tương tự, đá nhân tạo và cách nhận biết.

    Loại đá tự nhiên giống aquamarin là topaz, tuy nhiên chiết suất của nó là 1,610 - 1,620, cao hơn chiết suất của aquamarin (1,574 - 1,580).

    Đá spinen tổng hợp có màu lam nhạt do cobal, nhưng có tỷ trọng 3,63 và chiết suất 1,728. Đơn giản nhất dùng kính lọc màu Chelsea sẽ thấy spinen có màu đỏ còn aquamarin có màu lục.

    Thủy tinh màu lam nhạt giả aquamarin cũng dễ phân biệt vì thủy tinh đơn chiết và mềm hơn.

    Posted Image


    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #6 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 27 October 2009 - 11:27 AM

    BERYL



    Posted Image


    Berin (beryl)là một loại khoáng vật có rất nhiều màu sắc khác nhau đỏ, hồng, tím, vàng, lam,...và đặc biệt là biến thể màu lục với tên gọi emơrôt được xếp vào loại đá quý nhóm I cùng với kim cương, ruby và saphia.

    1. Khái quát chung

    Berin là tên gọi chung cho tinh tất cả các biến thể khác nhau của khoáng vật cùng nhóm, nó không có nghĩa là quý báu hay bán quý, cũng không phải có nghĩa là màu lục emơrôt, hay màu lam aquamarin. Nó xuất phát từ tiếng Hy Lạp “Berinlos”, tuy nhiên chưa thực sự chắc chắn. Theo tiếng Đức là “Brille” có nghĩa là kính mắt, bởi vì từ thời trung cổ, kính đeo mát được làm từ đá berin không màu. Trong thương mại berin được mang tên riêng theo màu sắc của nó.

    Bixbit: màu đỏ dâu tây.

    Posted Image


    Tinh thể bixbit


    Berin màu vàng: màu vàng chanh, vàng phớt xanh hoặc vàng tinh khiết.

    Gosenit (goshenite): là berin không màu.

    Heliodor (heliodore): màu vàng nâu tới vàng kim.

    Posted Image

    Beril với các màu khác nhau


    Posted Image------------Posted Image

          

    Morganit (morganite): màu hồng có sắc tím nhạt -------------  Morganit thô và đã được chế tác


    2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể

    2.1. Thành phần hoá học

    - Công thức hóa học: Al2Be3(Si6O18).

    2.2. Cấu trúc tinh thể

    - Tinh hệ: Lục phương

    Posted Image


    Mô hình cấu trúc tinh thể hệ lục phương


    - Dạng tinh thể: lăng trụ 6 phương kéo dài theo trục bậc 3.

    3. Các tính chất vật lý và quang học

    3.1. Các tính chất vật lý


    - Màu vết vạch: trắng

    - Độ cứng: 7,5 - 8

    - Tỷ trọng: 2,65 - 2,75/ 2,8.

    - Cát khai: có cát khai yếu theo mặt cơ sở.

    - Vết vỡ: vỏ sò

    3.2. Các tính chất quang học

    - Màu sắc: vàng kim, vàng lục, vàng lam, đỏ, hồng, không màu.

    Posted ImagePosted ImagePosted Image

    Posted ImagePosted Image


    Một số màu khác nhau của berin


    - Độ trong suốt: trong suốt đến đục.

    - Chiết suất: 1,57 - 1,60.

    - Độ tán sắc: 0,014

    - Tính đa sắc: berin vàng: yếu, vàng chanh/ vàng kim.

    Heliodor: yếu, vàng kim/ vàng lục.

    Morganit: rõ, vàng lục/ lam lục

    Berin lục: rõ, vàng lục/ lam lục

    - Phổ hấp thụ: không đặc trưng

    - Tính phát quang: morganit có màu tím, yếu.

    4. Đặc điểm bao thể:

    Các bao thể thường gặp trong berin là các bao thể dạng ống chứa các dung thể lỏng (đôi khi chứa cả pha khí) và thường phân bố theo chiều dài của tinh thể. Các bao thể dạng tinh thể âm “negative crystals” cùng thường gặp trong berin. Trong aquamarine ta có thể gặp một số bao thể khác như biotit, phlogopit, rutin, hematite, pyrite, hoặc ilmenit. Loại berin màu đỏ (bixbit) đôi khi chứa các bao thể hai pha, ba pha, hoặc bao thể thạch anh.

    5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp

    Berin ít được tổng hợp trong công nghiệp tuy nhiên chúng có thể được xử lý theo một số phương pháp khác nhau đó là xử lý nhiệt và chiếu xạ. Với aquamarin có màu nhạt ta có thể chiếu xạ để cho màu đậm hơn, màu chiếu xạ thường không ổn định và dễ bị nhạt đi theo thời gian hoặc để ánh mặt trời chiếu vào.

    Với loại aquamarin có màu lam phớt lục (do chứa một lượng Fe đáng kể), ta có thể loại bỏ màu lục bằng cách xử lý nhiệt ở nhiệt độ khoảng 400-450oC, khi đó ta sẽ được màu lam sáng và tinh khiết hơn.

    6. Nguồn gốc và phân bố

    Berin thường được thành tạo trong các đá granit, đặc biệt là granit pegmatit, hoặc đá phiến (với emơrôt); trong các đá biến chất từ đá vôi (emơrôt) hoặc trong các mạch nhiệt dịch.

    Gosenit: Khai thác nhiều ở Canada, Mỹ, Mehico, Brasil, Nga.

    Posted ImagePosted Image

    Gosenit Trung Quốc


    Posted Image]Posted Image]

    Morganit: Gặp nhiều ở Brasil, Mỹ, Madagasca.


    Morganit Brasil


    Heliodor: Gặp nhiều ở Madagasca, Namibia, Brasil.

    Bixbit: Khai thác nhiều ở vùng Utah (Mỹ).

    Tại Việt Nam, berin cũng được phát hiện tại Xuân Lẹ (Thanh Hoá), Thạch Khoán (Vĩnh Phú) và một số nơi khác.

    7. Chế tác

    Đối với berin người ta cũng áp dụng kiểu cất bậc như emơrôt. Song chỉ khác một điều là hướng cắt được chọn khác đi. Mặt bàn (table) của emơrôt thường cắt vuông góc với trụ quang, còn berin và aquamarin thì cắt song song với trục quang.

    8. Đá giả, đá tương tự, đá nhân tạo và cách nhận biết.

    - Loại đá tự nhiên giống aquamarin là topaz, tuy nhiên chiết suất của nó là 1,610 - 1,620, cao hơn chiết suất của aquamarin (1,574 - 1,580).

    - Đá spinen tổng hợp có màu lam nhạt do cobal, nhưng có tỷ trọng 3,63 và chiết suất 1,728. Đơn giản nhất dùng kính lọc màu Chelsea sẽ thấy spinen có màu đỏ còn aquamarin có màu lục.

    - Thủy tinh màu lam nhạt giả berin và aquamarin cũng dễ phân biệt vì thủy tinh đơn chiết và mềm hơn.

    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #7 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 27 October 2009 - 06:29 PM

    TOPAZ


    Posted Image


    Topaz còn gọi là hoàng ngọc. Người Ai Cập cổ đại cho là topaz màu vàng kim là của thần mặt trời Ra, giúp bảo vệ lòng trung thành. Đeo topaz để cầu được sáng mắt: truyền thuyết cho rằng topaz xua tan những u mê và giúp cải thiện thị lực. Người Hy Lạp cổ đại tin rằng topaz cho họ tăng thêm sức mạnh và giúp cho người đeo chúng trở nên vô hình. Topaz vàng theo truyền thống là đá mừng sinh nhật trong tháng 11.



    1. Khái quát chung

    Tên gọi của Topaz bắt nguồn từ chữ Hy Lạp là topazos có nghĩa là tìm kiếm, theo ngôn ngữ Sanskrit cổ topaz có nghĩa là lửa.

    Trước đây topaz đã được dùng cho một số loại đá quý có màu vàng, thậm chí cả những loại màu lục cũng được gọi là topaz.

    Lần đầu tiên topaz được sử dụng làm đá quý trong đồ trang sức năm 1737 do Henekel (khi ông mô tả mỏ Saxon) bởi lẽ topaz có độ cứng tương đối cao, ánh thuỷ tinh tương đối mạnh và đặc biệt là có màu sắc đa dạng.

    2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể

    2.1. Thành phần hoá học


    Công thức hoá học : Al2[SiO4](F,OH)2

    Thành phần hoá học : Al2O3 : 62-48%;  SiO2: 39,0 - 28,2%;  F: 13.20,4%;  H2O: 2,45%;  F & OH có thể thay thế cho nhau vì vậy topaz không có OH sẽ có công thức là Al2F2SiO4 không có F là topaz hydroxyl Al2(OH)2SiO4.


    2.2. Cấu trúc tinh thể

    - Tinh hệ: Topaz kết tinh ở tinh hệ trực thoi (tà phương) với các yếu tố đối xứng: 3L23PC.


    Posted Image

    Tinh hệ trực thoi



    - Dạng tinh thể thường gặp: Là lăng trụ có các khía sâu chạy song song với chiều dài tinh thể. Dạng tinh thể hoàn chỉnh 2 tháp hiếm gặp mà thường có một tháp dạng vòm còn đầu kia là mặt cát khai cơ sở do nó bị vỡ tách ra từ đá gốc. Các tinh thể đẹp chỉ thấy trong các hỗng, chúng có nhiều mặt hoàn hảo, kích thước lớn (có khi nặng tới 25 - 32 kg). Dạng phổ biến nhất là lăng trụ với các hình đơn [110]; [120]; [041] song diện [001], lưỡng tháp [111], [223] ...


    Posted Image



    Posted Image



    Posted Image



    Một số dạng tinh thể thường gặp của topaz



    3. Các tính chất vật lý và quang học

    3.1. Các tính chất vật lý


    - Độ cứng: 8 thang theo Mohs; độ cứng tuyệt đối:  1427 kg/mm2.

    - Tỷ trọng:  3,52 - 3,57 (trung bình 3,53 ± 0,04).

    - Cát khai, vết vỡ: Hoàn toàn theo mặt cơ sở [001], vết vỡ vỏ sò.

    Do tính cát khai hoàn toàn theo mặt cơ sở nên topaz được mài cắt có chiều dài của hình oval hoặc hình giọt nước chạy theo chiều dài tinh thể sẽ có khuynh hướng nứt đôi viên đá thậm chí bị vỡ làm 2 phần.

    3.2. Các tính chất quang học:

    - Màu sắc: Topaz thường không màu, màu lam, lam-lục giống màu aquamarin, màu vàng, còn hồng và đỏ thì hiếm.

    - Chiết suất: Np=1,607-1,629; Ng=1,610-1,638; Nm=1.61-1.649.

    - Lưỡng chiết: 0,008 - 0,01

    - Ánh: topaz có ánh thuỷ tinh và có đặc tính trơn, nhưng có một chút ánh lửa.

    - Độ tán sắc:  0,014.

    - Đặc tính quang học : hai trục, quang dương.

    - Topaz luôn luôn trong suốt, trừ những trường hợp có nhiều bao thể tạo hiện tượng đám mây.

    - Tính đa sắc : Rõ nhưng không mạnh, trừ tường hợp màu hồng có ánh lửa: màu hồng và không màu.

    Những viên màu đỏ vàng (màu Sherry) cho 3 màu: vàng mật ong, vàng đỏ, vàng hồng nhạt.

    Màu lam: màu lam, hồng nhạt, xanh lam.

    - Dưới kính lọc Chelsea những viên màu lam cho màu lam phớt lục.

    - Phổ hấp thụ: Phổ hấp thụ của topaz không thể quan sát để giám định trừ màu Sherry; màu này do nguyên tố Cr, nhưng nó không cho phổ hấp thụ. Tuy nhiên khi chúng được xử lý nhiệt sẽ có vạch kép tại 6828, và có thể nhìn thấy tốt hơn nếu ánh sáng đi vào viên đá được lọc bằng CuSO4.

    - Tính phát quang: Thay đổi tuỳ theo 2 loại giầu hydroxyl (OH) và loại giầu F: Topaz màu xanh lam và không màu phát quang màu vàng nhạt, lục nhạt yếu dưới sóng dài, còn dưới sóng ngắn thì cường độ yếu hơn nhiều.


    Posted ImagePosted Image


    Topaz màu lam nhạt và màu hồng


    Posted Image

                                

    Tinh thể topaz (màu hồng) cộng sinh với thạch anh



    4. Đặc điểm bên trong:

    Đối với topaz không màu, màu lam, màu nâu loại giàu F thường có các bao thể hang hốc chứa 2 hoặc 3 pha. Các hang hốc thường có dạng giọt nước và dạng bóng, một trong chúng có thể là khí CO2.

    Ngoài ra còn có các bao thể rắn như: anbit dạng tấm, apatit, brucit, muscovit, fluorit, gơtit, granat, hematit ...

    5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp

    - Xử lý nhiệt: Topaz thường bị nhạt màu đi khi nung ở nhiệt độ cao. Topaz màu đỏ nâu của Brazil chuyển sang không màu ở nhiệt độ 4500C, nhưng khi nguội nó chuyển sang màu hồng cá hồi đến màu đỏ tím tuỳ theo màu sắc ban đầu và độ mạnh của nhiệt độ.


    Posted ImagePosted Image

    Topa được xử lý màu



    - Chiếu xạ: Topaz không màu khi chiếu xạ ở các điều kiện khác nhau sẽ chuyển sang màu lam. Tuỳ thuộc vào loại tia chiếu, cường độ tia và thời gian chiếu mà ta thu được các tông màu khác nhau. Màu lam nhạt (sky blue - nếu chiếu bằng tia X), màu lam trung bình (Swiss blue - nếu chiếu bằng tia X và tia điện tử), màu lam đậm (London blue - nếu chiếu bằng tia nơtron). Hiện nay hơn 99% lượng topaz lam trên thị trường là topaz do chiếu xạ.
    - Topaz ít được tổng hợp trong công nghiệp.

    6. Nguồn gốc và phân bố

    - Nguồn gốc: Topaz phổ biến trong các thành tạo pegmatit, cộng sinh với tuamalin, fluorit, thạch anh, berin, felspat. Đôi khi cũng gặp topaz trong các mạch nhiệt dịch.

    - Phân bố: Các mỏ nổi tiếng ở Brazil (bang Minas, Gerais); Mỏ Lapaz của Mehico có nguồn topaz màu vàng; ở Mỹ có mỏ topaz màu hồng, vàng và xanh lam rất đẹp. Một số nước khác cũng khai thác nhiều topaz như Úc, Myanma và đặc biệt là ở Nga khai thác nhiều topaz màu lam, màu lục ở vùng núi Ural.



    Posted Image


                

    Phân bố của các mỏ topa trên thế giới



    -  Việt Nam: Topaz gặp trong pegmatit ở Thạch Khoán, Vĩnh Phú, đi cùng với thạch anh, berin và một số khoáng vật khác.

    Topaz vùng Xuân Lệ, Thường Xuân, Thanh Hoá cũng có nguồn gốc pegmatit, cộng sinh với aquamarin và thạch anh.

    Topaz Lâm Đồng trong pegmatit cộng sinh với felspat, thạch anh.

    7. Phân biệt topaz với các đá tự nhiên và đá tổng hợp:

    7.1. Phân biệt với đá tự nhiên:

    - Thạch anh : Dùng chất lỏng bromofor: topaz chìm xuống còn thạch anh sẽ nổi lên.

    - Berin, octolaz và brazilianit cũng dùng phương pháp tỷ trọng và đo chiết suất (berin - 1,57; octolaz 1,53; brarilianit - 1,602 - 1,623).

    - Danburit, tuamalin và apatit: dùng khúc xạ kế hoặc chất lỏng Di-iodmetan (tỷ trọng 3,33). Mặt khác apatit cò cho phổ hấp thụ mạnh ở vùng lục tại 511, 490 và vùng da cam 631, 622; còn 5 hay có các bao thể và vết nứt trong khi topaz thường sạch hơn.

    - Corindon, cryzoberin và zircon: dùng khúc xạ kế là phân biệt được rõ ràng.

    7.2. Phân biệt với đá tổng hợp

    Topaz tổng hợp đã được làm để cho mục đích nghiên cứu lý thuyết chứ không phải để thăm dò thị trường. Quá trình đã được thực hiện do tác dụng của axit hydrofluosilic trên Si và Al với sự có mặt của H2O ở nhiệt độ 5000C.

    Loại đá mà được gọi là topaz tổng hợp chính là saphia tổng hợp có màu thích hợp với màu sắc của topaz.

    8. Mài cắt

    Hầu hết topaz được mài cắt theo kiểu hỗn hợp, và do hình dạng tinh thể kéo dài, nên viên đá được cắt theo kiểu oval dài hoặc hình giọt nước. Những viên có màu đậm trung bình được mài cắt kiểu emơrôt (cắt bậc).


    Nguồng :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #8 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 27 October 2009 - 07:10 PM

    THẠCH ANH ( QUARTZ )




    Posted Image


    Thạch anh là khoáng vật phổ biến nhất trong vỏ trái đất và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau điện tử, quang học,... và trong ngọc học. Với nhiều màu sắc, hình dạng và cấu trúc khác nhau, thạch anh ngày càng được ưa chuộng không những trong trang sức mà còn trong lĩnh vực trưng bày và phong thuỷ. Ametit (thạch anh màu tím) là đá quý biểu tượng cho những người sinh tháng 2.



    1. Khái quát chung

    Tên quartz được xuất xứ từ chữ Đức cổ và không rõ nghĩa và nó được sử dụng rộng rãi từ thế kỷ 16.

    Các tinh thể thạch anh trong suốt có màu sắc đa dạng: tím, hồng, đen, vàng... và được sử dụng làm đồ trang sức từ rất xa xưa.

    Ametit loại biến thể màu tím của thạch anh được coi là đá quý của tháng hai và là loại được ưa chuộng nhất của họ thạch anh.


    2. Thành chất hoá học và cấu trúc tinh thể:

    2.1. Thành phần hoá học
    : Các khoáng vật của nhóm thạch anh có công thức rất đơn giản SiO2, là một loạt biến thể đa hình gồm 3 biến thể độc lập: thạch anh, tridimit và cristobalit và chúng biến chuyển theo sơ đồ:



                            

    aThạch anh « bThạch anh « b Tridimit « b Cristobalit « nóng chảy


                                  

    573 độ <=  870 độ <=  1470 độ <=   1713 độ



    Ngoài ra đối với tridimit và cristobalit ở nhiệt độ thấp khi bị nguội đi đột ngột ta có các dạng song biến:



                      

    a tridimit  «  b tridimit      và         a cristobalit  «  b cristobalit


                              

    130      độ <=        180 - 270 độ



    Trong thành phần của thạch anh ngoài thành phần chính còn có thể chứa một số chất hơi, chất lỏng: CO2, H2O, NaCl, CaCO3...



    2.2. Cấu trúc tinh thể

    - Tinh hệ: Biến thể nhiệt độ cao của thạch anh kết tinh trong hệ lục phương, biến thể thạch anh vững bền ở nhiệt độ dưới 5730C kết tinh trong hệ tam phương.


    Posted Image


    Mô hình cấu trúc của tinh hệ sáu phương (bên trái) và ba phương (bên phải)



    - Dạng tinh thể: Thường hay gặp dạng lưỡng tháp lục phương với các mặt lăng trụ rất ngắn hoặc không có. Thạch anh chỉ thành những tinh thể đẹp trong các hỗng hoặc các môi trường hở, có trường hợp gặp các tinh thể nặng tới 1 vài tấn có khi tới 40 tấn. Dạng tinh thể của thạch anh khá đa dạng nhưng đặc trưng là thường gặp các mặt m [0111], và có vết khía ngang trên mặt, mặt khối thoi r [1011] và z [0111], lưỡng tháp phức tam phương s [1121], khối mặt thang x [5161] ...

    Posted Image

    Posted Image

    Posted Image

    Dạng tinh thể lý tưởng của thạch anh và các mặt của nó


    Dạng tinh thể lý tưởng của thạch anh là dạng tinh thể lăng trụ sáu phương với các mặt lưỡng tháp ở hai đầu. Tuy nhiên khi được thành tạo trong môi trường địa chất chúng thường gắn một đầu vào đá vây quanh do vậy chúng ta thường gặp hơn cả là dạng lăng trụ sáu phương với mặt tháp ở phía trên.


    Posted Image

    Các trục đối xứng của tinh thể thạch anh


    Ngoài hai biến thể kết tinh thạch anh còn có thứ ẩn tinh có kiến trúc tóc, canxedon và quartz khác nhau chỉ do quang tính.


    Posted Image

      

    Posted Image


    Các dạng tinh thể của thạch anh



    3. Các tính chất vật lý và quang học

    3.1. Các tính chất vật lý


    - Độ cứng :  7

    - Tỷ trọng : 2,5 - 2,8

    - Cát khai : Không có hoặc rất không hoàn toàn theo mặt thoi, vết vỡ vỏ sò.

    3.2. Tính chất quang học:


    - Chiết suất :  1,53 - 1,54

    - Lưỡng chiết suất : 0,009

    - Tính đa sắc : Thay đổi tuỳ thuộc vào màu của viên đá

    - Tính phát quang : Loại rose quartz phát qunag màu tím lam nhạt, các biến thể của thạch anh trơ dưới tia cực tím.

    - Màu : Màu sắc của thạch anh rất đa dạng nhưng phổ biến nhất là những thứ không màu, màu trắng sữa và màu xám và theo màu sắc thạch anh mang các tên khác nhau:

    + Pha lê: Là những tinh thể thạch anh không màu trong suốt.

    + Ametit: màu tím

    Posted Image

                  

    Posted Image


                    + Citrin: Màu vàng

    Posted Image


    + Smoky quartz: loại thạch anh có màu ám khói, khi rất tối gọi là “morion”.

    Posted Image


    Posted Image



    Tinh đám morion nặng hơn 20kg tại ldjewellery.com



    + Rose quartz : có màu đỏ, hồng

    Posted Image

    Posted Image




    + Aventurin quartz : có màu lục

    Posted Image

    Mắt hổ

                    
            

    Posted Image

                                              

    Aventurin




    + Dumortierit quartz: có màu lam đậm hoặc lam tím.

    + Milky quartz : có màu trắng tới màu xám.

    + Siderit hoặc sapphire quartz: rất ít gặp chúng thường có màu lam pha chàm.

    - Phổ hấp thụ :  Không đặc trưng

    - Các hiệu ứng quang học đặc biệt:

    + Hiệu ứng mắt hổ (tiger’s eye): Là một hiệu ứng đặc biệt thường thấy ở các biến thể của thạch anh và đặc trưng cho các biến thể có màu từ vàng nâu nhạt tới nâu và đỏ nhạt, lam nhạt hoặc thậm chí màu đỏ và ở các loại bán trong. Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự sắp xếp có định hướng của các bao thể dạng sợi trong lòng viên đá. Khi viên đá được mài cabochon sự phản xạ của ánh sáng trên bề mặt sẽ cho ta hiệu ứng “mắt hổ” rất đẹp.

    + Hiệu ứng mắt mèo “cat’s eye”: Cũng giống như hiệu ứng mắt hổ nhưng chúng thể hiện đẹp hơn và rõ nét hơn và thường gặp trong các biến thể bán trong và có màu trắng tới màu xám nâu vàng lục nhạt, đen hoặc màu lục oliu tối.

    + Hiệu ứng sao: Thạch anh hồng và một số biến thể màu xám hoặc màu sữa thường có hiện tượng sao 6 cánh giống như hiệu ứng sao trong ruby và saphia.


    Posted Image


    Hiệu ứng sao trong thạch anh hồng



    4. Đặc điểm bao thể:

    Các bao thể hay gặp nhất trong thạch anh là các bao thể khí lỏng tạo thành bao thể hai pha. Các bao thể rắn thường gặp nhất là các bao thể kim que của rutin tạo thành những đám bao thể dạng búi tóc hay dạng “tóc thần vệ nữ” . Loại thạch anh này được gọi là rutillated quartz. Ngoài ra ta cũng hay gặp các bao thể kim, que của một số khoáng vật khác như tuamalin, actinolit dạng sợi, clorit màu lục, gơtit, hematit màu nâu đỏ và màu cam và một số các bao thể khác nữa. Khi đó chúng được gọi là thạch anh tóc xanh, thạch anh tóc nâu, thạch anh tóc đỏ,...theo các màu tương ứng.

    Các bao thể rutil, anatas, brookit:

    Posted Image

    Thạch anh tóc vàng với các bao thể rutil


    Posted Image

    Posted Image

    Bao thể anatas và brookit trong thạch anh pha lê



    Posted Image

    Các bao thể nhóm amphibol (actinolit)



    Posted Image


    Posted Image


    Bao thể clorit (thạch anh tóc xanh)



    Posted Image

    Posted Image

    Các bao thể hay gặp khác trong thạch anh như granat, hematit,...



    Posted Image

    Posted Image

    Bao thể granat (bên trái) và bao thể hematit (bên phải)


    Posted Image

    Posted Image

    Bao thể tuamalin (bên trái) và bao thể dạng tinh thể âm chứa pha lỏng (bên phải)



    5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp


    - Xử lý nhiệt: Dưới tác dụng của nhiệt độ cao ametit, citrin, thạch anh ám khói và thạch anh hồng đều có khuynh hướng chuyển sang không màu. Bằng phương pháp xử lý nhiệt có thể chuyển các loại thạch anh có chất lượng thấp màu tím và ám khói sang loại có màu vàng nhạt hoặc cam đỏ nhạt với chất lượng cao hơn và được thị trường ưa chuộng hơn.

    + Đối với ametit dưới tác dụng của nhiệt độ chúng sẽ chuyển sang màu vàng phớt nâu.

    + Thạch anh ám khói khi nung ở nhiệt độ 572 - 7520C màu sẽ bị nhạt đi.

    + Ametit khi xử lý nhiệt ở nhiệt độ 878 - 13820C sẽ cho màu vàng sáng, nâu đỏ hoặc màu lục hoặc không màu. Một số loại ametit bị mất màu ở ánh sáng bình thường và màu sẽ khôi phục khi chiếu xạ tia X.

    + Citrin tự nhiên khá hiếm trên thương trường và lượng chủ yếu citrin là do ametit hoặc thạch anh ám khói bị xử lý nhiệt. Ametit chuyển sang vàng nhạt ở nhiệt độ 4700C và màu vàng tối tới màu nâu nhạt ở nhiệt độ 550 - 5600C. Thạch anh ám khói chuyển sang màu vàng sớm hơn ở nhiệt độ khoảng 300 - 4000C. Đa số citrin tự nhiên có màu vàng rất nhạt và khi bị xử lý sẽ không còn tính đa sắc, trong khi đó citrin tự nhiên có tính đa sắc yếu.

    - Chiếu xạ: Bằng phương pháp chiếu xạ có thể chuyển loại thạch anh không màu sang có màu.

    - Tổng hợp: Thạch anh cũng được tổng hợp trong công nghiệp với các tinh thể lớn dùng trong công nghiệp, và một số biến thể hiếm gặp trong tự nhiên như ametrin (có hai màu của ametit và citrin), hoặc thạch anh màu lam.

    [centerPosted ImagePosted Image[/center

                                [center]Ametrin (bên trái) và thạch anh màu lam (bên phải) là hai loại[/center]

    thường được tổng hợp trong công nghiệp



    6. Nguồn gốc và phân bố

    6.1. Đặc điểm nguồn gốc


    Thạch anh là khoáng vật rất phổ biến trong tự nhiên và là thành phần của rất nhiều loại đá và khoáng sàng quặng.

    - Thạch anh thành phần chính của nhiều loại đá macma axit xâm nhập và phún xuất.

    - Các tinh thể lớn của thạch anh thường gặp trong các hỗng pecmatit cộng sinh với fenpat, muscovit, topaz, beryn, tuamalin và một số khoáng vật khác.

    - Thạch anh cũng là khoáng vật phổ biến trong các khoáng sàng nhiệt dịch.

    - Mã não và onyx thành hình hạnh nhân rất phổ biến trong nhiều đá phún xuất.

    - Trong các quá trình ngoại sinh thạch anh và canxedon thành tạo do sự khử nước và tái kết tinh của keo silic, khi đó chúng tạo thành các tinh hốc với kích thước nhiều khi tới vài tấn.




    Posted Image


    Posted Image

      

       Tinh hốc ametit nặng hơn 2500kg               Tinh hốc ametit tại ldjewellery.com




    - Trong các quá trình biến chất thạch anh hình thành do sự khử nước của các đá trầm tích chưa opal để thành tạo ngọc bích.



    6.2. Phân bố trên thế giới và Việt Nam


    Posted Image

    Các khu vực khai thác ametit chủ yếu trên thế giới




    Citrin được khai thác chủ yếu ở Braxin (Minas Gerais), Mỹ (Colorado), Nga (Ural), Pháp và Scotlen.

    Ametit được khai thác chủ yếu ở Braxin, Urugoay...

    Ở Việt Nam thạch anh tinh thể đẹp gặp rất nhiều ở nam Thanh Hoá, Pia oắc, miền sông Đà ở Vạn Yên có những tinh thể lặng trụ rất dài, thạch anh tím (ametit) được khai thác nhiều ở Kontum, thạch anh tinh thể, pha lê gặp nhiều ở Bảo Lộc, Gia Nghĩa...



    7. Mài cắt

    Thạch anh có thể được mài cắt ở các dạng khác nhau từ những dạng nguyên thuỷ nhất cho tới những dạng mới nhất hiện nay. Citrin và ametit thường được mài ở dạng bậc, kiểu kim cương hay kiểu hỗn hợp khi đó màu của viên đá có xu hướng trở nên đậm hơn.

    Kiểu cabochon thường dùng cho aventurin, rose quartz, mắt hổ và mắt mèo. Thạch anh mắt hổ cũng thường được chạm khắc ở dạng “cameo”.

    Đối với ametit màu của chúng thường không đều do vậy trong quá trình mài ta phải chú ý định hướng sao cho phần màu đẹp nhất nằm tại pavilion gần culet.



    8. Một số công dụng của đá họ thạch anh


    - Thạch anh tóc và tác dụng của nó.

    - Tác dụng của các đá họ thạch anh.



    9. Các đá giống thạch anh và phương pháp nhận biết:

    Với giá trị chiết suất dao động trong khoảng 1,54 - 1,55 và tỷ trọng 2,65 - 2,66 thạch anh rất dễ phân biệt với các loại đá quý khác.

    + Để phân biệt với canxedon ta dùng dung dịch tỷ trọng 2,62 khi đó canxedon sẽ nổi còn thạch anh chìm.

    + Phân biệt với topaz và saphia bởi giá trị chiết suất. Phân biệt với thuỷ tinh bởi đặc tính quang học.

    + Aventurin màu lục thường nhầm với nefrit hoặc jadeit nhưng chúng có tỷ trọng và giá trị chiết suất thấp hơn.

    Trong chiến tranh thế giới thứ 2 khi ruby và saphia tổng hợp mới xuất hiện trên thị trường và đang còn khan hiếm người ta thường dùng thạch anh để làm giả chúng khi đó thạch anh thường được xử lý để cho màu lam đậm và giả hình dạng của saphia, đối với loại này bằng việc xác định chiết suất và giám định dưới kính ta sẽ phân biệt được chúng.

    + Ametit rất dễ nhầm với berin, fluorit, thuỷ tinh, corindon tổng hợp, kunzit, spinen, topaz và tuamalin. Ametit tổng hợp cũng được sản xuất nhưng không phục vụ cho ngành trang sức.

    + Thạch anh ám khói rất dễ nhầm với anduluzit, sanidin, tuamalin.

    + Citrin rất dễ nhầm với berin màu vàng, octoclas, topa vàng và tuamalin vàng.




    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #9 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 29 October 2009 - 01:01 PM

    ZIRCON



    Posted Image



    Zircon được biết đến như những khoáng vật quý, được sử dụng trên các đồ trang sức với nhiều màu sắc khác nhau, từ không màu tới màu vàng đỏ, da cam và nâu, lục nâu, lục sáng tời màu xanh da trời. Loại không màu; nâu vàng (vàng rơm) và xanh da trời là loại mới chỉ nói đến gần đây. Đó là những màu do xử lý nhiệt của zircon. Cùng với ánh kim cương nó có tầm quan trọng đáng kể trong ngành trang sức.



    1. Khái quát chung

    Tên gọi zircon được bắt nguồn từ các từ biệt ngữ, theo tiếng A Rập có nghĩa là màu đỏ son, và theo tiếng Iran là màu vàng. Cho đến nay zircon được biết nhiều tên khác nhau như “zargoon” hoặc “cerkonier”; tên đầu được bắt nguồn từ chữ gaicon tiếng Italian, có lẽ là biến tướng của biệt ngữ.


    2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể

    2.1. Thành phần hoá học


    Thành phần hoá học của zircon là silicát của zirconni (ZrSiO4). Thường xuyên có một ít Fe trong thành phần dưới dạng tạp chất và thay thế một phần Zr với hàm lượng thay đổi khoảng 0,5 - 4%.

    Đôi khi chứa Al2O3 bao giờ cũng chứa Hafini (HFO2) cuối cùng, thành phần zircon rất giàu chất phóng xạ Thorium và uranium.

    2.2. Cấu trúc tinh thể

    Zircon kết tinh trong hệ tứ phương, dạng đối xứng lưỡng tháp tứ phương. Hình dạng tinh thể thường là do sự kết hợp của lăng trụ vuông với tháp vuông ở hai đầu. hoặc kết hợp với những lăng trụ có độ nghiêng khác nhau ở hai đầu. Nếu phần lăng trụ nhỏ có thể dễ nhầm với hình 8 mặt.



    Posted Image

    Mô hình cấu trúc của tinh thể zircon



    Posted Image

    Các dạng quen của zircon và tinh thể thực



    3. Các tính chất vật lý và quang học

    3.1. Các tính chất vật lý


    - Độ cứng thay đổi từ 7 tới 7,5 theo độ cứng Mohs và không đồng nhất trong toàn viên đá, yếu tố này gây khó khăn cho việc đánh bóng.

    - Cát khai không đáng kể hoặc rất không hoàn toàn.

    - Vết vỡ dạng vỏ sò, tương đối giòn.

    - Tỉ trọng của zircon có sự thay đổi đặc biệt, do trên thực tế không chỉ có một loại zircon mà là hai loại: zircon cao và zircon thấp; có nhiều tài liệu nói đến 3 loại, những loại trung gian thực ra cũng cùng một pha biến đổi với một trong hai loại kia.

    + Loại zircon cao được kết tinh đầy đủ và có tỉ trọng thay đổi từ 4,67 tới 4,70.

    + Loại zircon thứ hai gọi là loại thấp có tỉ trọng khoảng 4,0 (3,95 - 4,1) nó là kết quả từ những đá có nguồn gốc từ loại cao trong đó cấu trúc mạng tinh thể bị phá vỡ, vì vậy chúng chứa ít nhiều silic và zircon dạng vô định hình.

    Sự phá vỡ cấu trúc mạng này do hiện tượng phá huỷ của các hạt X (hạt nhân của nguyên tố He) do các nguyên tố phóng xạ tỏng zircon. Đó có thể là do uranium hoặc thorinium, chúng có dấu vết như nhau trong zircon.

    Chúng ta hiểu rằng sự phá vỡ mạng tinh thể zircon diễn ra không phải ngay lập tức, do vậy những viên zircon loại này là sản phẩm phân huỷ không toàn toàn, chỉ một phần hoàn toàn phân huỷ hoặc mới chỉ bắt đầu bằng phân huỷ.

    Do vậy, zircon có nhiều tỉ trọng trong khoảng của loại cao và loại thấp. Những đã bị phân huỷ một phần này có thể gọi là loại chuyển tiếp.



    Posted Image

    Tinh thể zircon


    3.2. Các tính chất quang học:

    - Chiết suất : Giá trị chiết suất của zircon thay đổi đáng kể loại “cao” có giá trị chiết suất 1,92 đối với tia thường và 1,98 đối với tia bất thường, lưỡng chiết suất 0,059.

    Chiết suất và lưỡng chiết suất giảm dần từ loại “cao” đến loại “thấp” giảm tới giá trị chiết suất 1,78. Những loại đặc biệt có tính đẳng hướng, có giá trị chiết suất đơn, và chúng có độ cứng thấp (6,5).

    -  Tính đa sắc và độ tán sắc: Mặc dù zircon có khúc xạ kép rõ ràng, thông thường không thấy hiện tượng lưỡng sắc. Trừ loại màu xanh do xử lý nhiệt, nhưng đá này trên thực tế có lưỡng sắc mạnh; màu kép trong chúng là màu xanh da trời đậm theo phương bình thường và không màu theo phương bất thường.

    - Phổ hấp thụ: Quang phổ được quan sát được ở zircon là những dải hẹp rất mạnh và những đường mịn từ đầu đến cuối quang phổ do phógn xạ uranium trong zircon có thể quan sát được.

    Loại nâu phớt lục ở Buma biểu hiện quang phổ rất giàu, có thể thấy ở một viên đá hơn 40 vạch.

    + Loại zircon màu trắng và da cam từ Uran chỉ quan sát thấy vài dải.

    + Loại màu zircon đỏ của Pháp thường trống các dải.

    + Loại không màu, xanh da trời và vàng rơm đã xử lý nhiệt từ Đông Nam á cho thấy quang phổ cực kỳ yếu. Thường chỉ thấy mỗi đường mạnh là 6535 A0 là có thể nhìn thấy.

    Các dải quang phổ chính của zircon là: 6910, 6830, 6625, 6605, 6535 (mạnh nhất) 6210, 6150, 5895, 5375... 4327 Ao.

    Quang phổ của loại zircon “thấp” mà một phần vô định hình thì kém rõ ràng hơn, chỉ thấy một vạch ở dải sóng dài 6535A0.


    Phổ hấp thụ là một đặc tính đặc trưng của zircon


    - Tính phát quang : zircon phát quang dưới đèn cực tím cả sóng dài và sóng ngắn rất khác nhau.

    Trên thực tế một số trơ và số khác phát quang rất mạnh. Màu phát quang thường là màu vàng có cường độ thay đổi.

    Dưới tác dụng của tia X tính phát quang của zircon không những thay đổi về cường độ mà cả về màu sắc. Đa số các đá thấy màu hơi trắng hoặc xanh tím, nhưng vài loại khác thấy phớt lục hoặc lục sáng. Những loại đá đã qua xử lý nhiệt dưới bức xạ của một số tia sau thời gian dài sẽ trở về màu nâu gốc (màu ban đầu).



    4. Đặc điểm bao thể:

    Nhiều loại zircon, đặc biệt là loại zircon thấp có màu sắc tự nhiên, có bao thể dạng “sương mù” (khi kiểm tra viên đá trông như khói). Một số bao thể khoáng vật hay gặp như apatit, diopsit,...

    Bao thể trong zircon rất ít đặc trưng, trừ loại zircon thấp thường có các vạch đới màu thẳng gấp góc, nhưng không hoàn toàn giống như đới màu trong saphia. Đôi khi zircon cho hiệu ứng mắt mèo.


    Posted Image


    Posted Image

    Bao thể apatit (bên phải) và bao thể diopsit (bên trái) trong zircon



    5. Các phương pháp xử lý

    Một điều thú vị là ảnh hưởng của nhiệt với các loại zircon khác nhau, đối với loại zircon “thấp”, loại “cao” và loại chuyển tiếp giữa chúng. Nếu nung đến 14500C sẽ có xu hướng tăng tỉ trọng từ giá trị trung bình tới gần 4,7 cùng với giá trị chiết suất trung bình và tăng độ rõ của vạch quang phổ.

    - Khi nung silic và Zr bị phân chia đã kết hợp lại như sự kết tinh zircon. Tổng lượng nhiệt cần thiết để đưa loại thấp quay về loại cao phụ thuộc hoàn toàn vào sự phân chia gốc.

    Những loại zircon màu nâu, nâu phớt đỏ ở Đông Nam Á sau khi nung thành không màu, xanh da trời và màu vàng đều là những màu được ưa thích trên thị trường thế giới.



    Posted Image

            

    Zircon Việt Nam trước và sau xử lý


    6. Nguồn gốc và phân bố

    Zircon phân bố rộng rãi trên thế giới, thông thường nó là khoáng vật phụ của đá macma, nhưng loại đạt chất lượng ngọc thì được tìm thấy trong các vùng lân cận.

    Một nguồn quan trọng nhất của zircon là khu vực Đông Nam Á. Đó là các mỏ ở Sri - Lanka, Champasac (Lào - Campuchia) và Pailin (Campuchia). Ở Việt Nam có khu vực Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Thuận.

    Posted Image

    Tinh thể zircon trong đá gốc




    7. Phân biệt zircon với các đá tự nhiên và đá tổng hợp khác:

    7.1. Phân biệt với các đá tự nhiên:


    Trước hết do nó có chiết suất cao và ánh đặc biệt, một phần có ánh mỡ và ánh nhựa do vài phản ứng đặc biệt với quá trình đánh bóng, thêm vào đó màu sắc vừa phải rõ ràng thường làm cho có thể nhận ra ngay khi mới nhìn.

    - Dùng kính lúp quan sát gần sẽ nhận thấy những vết vỡ vụn ở cạnh faxet và dấu hiệu khúc xạ kép của cạnh đáy khi nhìn qua kính lúc từ trên mặt viên đá.

    - Các đá tự nhiên có khúc xạ kép có thể nhầm với zircon là sphen, sinhalit, casiterit và peridot, nhưng sphen có độ lưỡng chiết lớn gấp 2 lần, độ cứng và tỉ trọng thấp hơn zircon còn sinhalit và peridot có chiết suất thấp hơn. Ngoài ra loại dematoit màu lục có ánh cao cũng có thể nhầm với zircon, tuy nhiên nó chỉ có chiết suất đơn.



    7.2. Phân biệt với các đá nhân tạo:

    - CZ (cubic zircon- zircon lập phương): CZ là oxit zirconi (ZrO2) được tổng hợp ở nhiệt độ cao với một lượng cân đối của ôxit CaO hoặc Y2O3.

    Tính chất của CZ biến đổi một chút tuỳ theo loại oxit được dùng:

    + Nếu chất ổn định là CaO thì nó có độ cứng là 8, tỷ trọng 5,65; chiết suất đơn 2,15 và độ tán sắc 0,06.

    + Nếu chất ổn định là Y2O3 thì tỉ trọng là 5,95.

    Như vậy dựa vào chiết suất đơn và tỉ trọng lớn hơn là phân biệt được. Loại CZ không màu và tinh khiết là vật liệu thay thế kim cương có hiệu quả.

    - Rutin tổng hợp: Là loại đá giống với zircon nhưng có chiết suất cao hơn (2,62 - 2,9) có khúc xạ kép lớn hơn và màu tán sắc quá mức.

    - Spinen tổng hợp màu xanh lam: Không có khúc xạ kép, qua kính Chelsea có màu đỏ và phổ hấp thụ của coban.



    8. Chế tác:

    Thường được mài cắt kiểu brilliant có mặt faxet thứ 2 ở phần đáy. Đối với loại màu xanh và màu vàng, kiểu cắt 8 cạnh và cắt hộp bốn bên đang được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên các loại zircon tự nhiên có màu thường mài cắt kiểu hỗn hợp.


    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #10 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 04 November 2009 - 01:40 PM

    OPAL



    Posted Image

    Trang sức gắn đá opal tại ldjewellery



    Opal được biết đến từ rất lâu do có hiệu ứng màu sặc sỡ (màu cầu vồng) nên viên đá opal có các màu của những loại đá quý khác gộp lại. Opal bắt nguồn từ tiếng La Mã opalus, diễn tả một vẻ đẹp đặc biệt của loại đá quý này: có màu sặc sỡ. Thời Trung Cổ và người Hy Lạp gọi opal là ophthalmios, nghĩa là đá mắt, do nhiều người tin rằng đá này giúp tăng thị lực. Một số khác lại nghĩ rằng opal giúp cho người đeo nó có thể trở nên vô hình. Có người còn cho là opal giúp giữ tóc màu vàng không bị bạc.


    1. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể:

    1.1. Thành phần hoá học
    : Với công thức hoá học SiO2.nH2O, opal có thành phần hoá học không cố định. Nó chứa nước từ 1% tới 5% và nhiều khi tới 34%. Loại opal quý thường chứa khoảng 6 - 10% nước. Nước trong opal rất dễ mất khi ta nung nóng khi đó kèm với quá trình mất nước viên đá sẽ bị nứt vỡ, làm mất màu và làm giảm độ tinh khiết.

    1.2. Cấu trúc tinh thể: Thường thấy thành khối đặc xít giống thuỷ tinh, bề ngoài như thạch nhũ. Nó là thành phần chính của một vài cơ thể như xác diatomê, gai của hải miên, bộ xương của phóng xạ trùng, các giống này ăn các dung dịch keo silit. Nhờ có bộ xương silit các sinh vật đó được bảo tồn thành hoá thạch rất nhiều, ngay trong các lớp đọng thời cổ nhất.

    Thường tạo thành các mạch nhỏ nhiều khi tới 10 cm hoặc hơn dạng nodule bên trong các lỗ trống hoặc khe nứt trong các đá giàu silicat. Cũng thường gặp opal ở dạng giả hình của các khoáng vật khác.




    Posted Image

    Cấu trúc phóng đại của opal



    Dưới kính hiển vi điện tử cấu trúc của opal bao gồm các vi tinh SiO2 ở dạng hình cầu nằm chồng khít lên nhau và sắp xếp thep từng lớp. Sự giao thoa và nhiễu xạ của ánh sáng trên bề mặt các lớp vi cầu này đã làm cho opal có hiện tượng (opalesence). Phụ thuộc vào kích thước của các vi cầu mà chúng sẽ cho các màu khác nhau.




    Posted Image

    Posted Image

    Cấu trúc của opal dưới kính hiển vi điện tử và màu của nó



    2. Các tính chất vật lý và quang học

    2.1. Các tính chất vật lý


    - Độ cứng : 5 - 5,5

    - Tỷ trọng : 1,9 - 2,5 loại opal quý thường có tỷ trọng trong khoảng 2,1 - 2,2 (tỷ trọng của opal thay đổi tuỳ thuộc vào lượng nước trong thành phần).

    - Cát khai : Không

    - Vết vỡ : Vỏ sò

    2.2. Tính chất quang học:

    - Chiết suất :  1,4 - 1,46

    - Lưỡng chiết suất : Không

    - Tính đa sắc : Không

    - Độ tán sắc :  Không

    - Phổ hấp thụ : Không đặc trưng

    - Màu sắc : Opal là khoáng vật có màu tự sắc, bình thường chúng không màu nhưng do lẫn các tạp chất mang màu nhất là Fe và một số tạp chất mang màu khác chúng có các màu khác nhau vàng, nâu, đỏ, lục và đen, opal quý thường có màu sặc sỡ như cầu vồng.

    - ánh: Thuỷ tinh tới bán thuỷ tinh, loại opal thường, thường có ánh nhựa.


    3. Nguồn gốc và phân bố


    Opal nhiều khi đọng trong các suối nhiệt dịch và suối phun ở các khu vực núi lửa (tup silit, greyserit...), đôi khi thành những thạch nhũ trắng, trong suốt, có quang thái ngọc. Opal cũng thường liên quan tới các loại đá macma phun trào như ryolit, andezit và trachit trong đó opal thường được lắng đọng trong các lỗ hổng ở nhiệt độ thấp. Ở Australia thường gặp opal liên quan tới phun trào trachit và bazan, trong cát kết silic ở đó opal được tái lắng đọng.




    Posted Image


    Các khu vực khai thác opan chủ yếu trên thế giới và


    Posted Image


    cảnh khai thác opal tại Australia


    4. Phân loại

    Người ta phân loại opal ra làm 2 loại dựa vào đặc điểm của chúng là opal quý và opal thường.

    4.1. Opal quý :

    Đặc trưng nổi bật của loại opal này là hiệu ứng opal (opalescence) tức là khi ta quan sát viên đá ở các hướng khác nhau sẽ thấy hiện tượng như cầu vồng xuất hiện trên bề mặt viên đá.

    Mãi cho tới những năm 1960 người ta vẫn cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này là do sự khúc xạ ánh sáng trên các lớp bề mặt rất mỏng của viên đá. Tuy nhiên gần đây bằng việc nghiên cứu cấu trúc của opal dưới kính hiển vi điện tử ở độ phóng đại đến 20.000 lần cho thấy opal được cấu tạo bởi các hình cầu SiO2 rất nhỏ sắp xếp thành các lớp cực kỳ đều đặn. Màu của opal sẽ xuất hiện khi đường kính của các quả cầu này nhỏ hơn các bước sóng khả kiến. Điều kiện dễ nhiễu xạ có màu là khi khoảng cách giữa các lớp xấp xỉ bằng bước sóng của màu đó chia cho hệ số phản xạ của hình cầu. Hệ quả là bước sóng nhiễu xạ sẽ tỷ lệ thuận với kích thước của các hạt. Ví dụ, màu đỏ đậm tạo bởi các hạt kích thước 250 nm, các màu khác tạo ra bởi cá hạt nhỏ hơn với đường kính cỡ 140 nm. Khi khoảng cách giữa các hàng cầu quá lớn thì hiệu ứng tán sắc sẽ không còn nữa khi đó chúng trở thành loại opal thường.



    Posted Image

    Posted Image

    Opal đen có nhiều màu là do hiện tượng opalesence



    - Nguồn gốc : Opal quý được khai thác nhiều ở Australia ở các vùng New South Wales và Queensland, một số khác cũng được khai thác ở Braxil, Nhật Bản...


    Posted Image

    Posted Image

    Opal quý trong hoá thạch và gắn liền với đá gốc



    - Để phân biệt opal quý người ta chia ra làm 3 loại là opal đen, opal lửa và opal trắng.


    Posted Image

    Posted Image

    Opal lửa (trái) và opal thường (bên phải)



    - Dấu hiệu nhận biết: Rất dễ nhận biết bởi hiệu ứng opalescence.

    - Giả và tổng hợp: Khó có loại đá nào làm giả opal quý. Tuy vậy đôi khi cũng gặp một số loại thuỷ tinh được làm giả opal và khá giống với tự nhiên. Do được ưa chuộng nên opal quý thường gặp ở dạng ghép đôi (doublet) và ghép 3 (triplet). Ở dạng ghép đôi phần trên thường là một tấm mỏng opal quý còn phần dưới là opal thường hoặc onix. Ở dạng ghép 3 thì lớp trên mặt thường là thạch anh pha lê. Hiện nay opal cũng đã được tổng hợp trong công nghiệp bởi một số nhà sản xuất, tuy nhiên dấu hiệu để nhận biết opal tổng hợp cũng không khó lắm.


    Posted Image

    Opal tổng hợp của hãng Gilson (Pháp)


    4.2. Opal thường:

    Là loại opal khá phổ biến và không có các hiệu ứng màu như ở opal quý và chúng mang một số loại tên khác nhau trên thương trường như: agat, hyalit (không màu, trong), opal mật ong (honey opal) khi chúng có màu vàng mật ong, opal sữa (bán trong màu trắng, ánh ngọc), chrysopa (đục, xanh táo), ...

    Các đặc tính của opal cơ lý và ngọc học của opal thường cũng tương tự như opal quý.

    5. Xử lý:

        Các phương pháp xử lý opal được dùng nhiều nhất là làm tối đá màu nhạt để cho giống opal đen. Phương pháp nhuộm là làm cho màu nhuộm thấm vào trong cấu trúc rỗng để đá có được màu mong muốn. Do opal có độ cứng thấp nên để bảo vệ opal người ta thường phải được dán thành hai hay ba lớp giống như bánh sandwich. Đá 2 lớp gồm đáy là vật liệu màu đen, phía trên là opal mỏng. Đá 3 lớp gồm 2 lớp kể trên, phần trên cùng là lớp thạch anh hay plastic không màu, dạng vòm. Dĩ nhiên là đá ghép này rẻ hơn đá opal nguyên. Chúng được bán theo từng viên và giá có thể lên đến hàng trăm lần nếu viên đá quá đặc biệt.

    6. Bảo quản:

        Opal có độ cứng 6 trên thang Mohs, mềm hơn nhiều loại đá quý khác, do đó nên giữ gìn cẩn thận để tránh bị làm trầy xước bởi những nữ trang khác. Nếu để đá rơi, phần nào lộ ra sẽ dễ bị bể. Không được để opal tiếp xúc với nhiệt hay axit. Tránh nguồn nhiệt cao nếu không opal sẽ bị mất nước và bị nứt vỡ.


    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #11 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 04 November 2009 - 02:02 PM

    CANXEDON ( Chalcedony )



    Posted Image

    Canxedon với các màu khác nhau


    Là tên dùng để chỉ loại biến thể vi tinh của thạch anh và đã được sử dụng từ rất xa xưa bởi có màu sắc hấp dẫn, độ cứng khá lớn được dùng để trang trí và trạm khắc. Tên canxedon có lẽ được bắt nguồn từ chữ calxedon hoặc calchedon một cảng biển cổ vùng Marmara, ở đây đầu tiên người ta khai thác canxedon và dùng cho mục đích trang trí và đã từng là trung tâm buôn bán đá quý thời đó.



    1. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể

    - Tinh hệ : Sáu phương giống thạch anh nhưng thường ở dạng ẩn tinh.

    - Thành phần hoá học: SiO2.

    2. Các tính chất vật lý và quang học

    2.1. Các tính chất vật lý


    - Độ cứng : 6,5 - 7

    - Tỷ trọng : 2,58 - 2,64

    - Cát khai : Không

    - Vết vỡ: Không bằng phẳng, dạng vỏ sò.

    2.2. Tính chất quang học:

    - Màu sắc:  Màu sắc đặc trưng là lam xám trắng và màu này thường bao phủ toàn bộ viên đá giống như của jasper. Các loại màu có giá trị và được ưa chuộng hơn là vàng nâu nhạt (sard), đỏ (carnelian), đen và lục (chrysopas), trắng và đen hoặc trắng và xám (onyx) với độ trong suốt từ bán trong tới đục.

    - Chiết suất :  1,530 - 1,539

    - Độ tán sắc : Không

    - Tính đa sắc : Không

    - Phát quang : Xanh lơ

    - Phổ hấp thụ : Loại nhuộm màu xanh thường có phổ tại 6270, 6600 - 6900.

    3. Đặc điểm một số biến thể chính:

    - Carnelian: Là biến thể màu đỏ của canxedon, đôi khi chúng có màu đỏ nâu hoặc màu cam đậm. Nguyên tố tạo màu thường là sắt (Fe3+), màu của carnelian có thể được xử lý nhiệt. Các khu vực khai thác chủ yếu là Brasil, Ấn Độ và Uruguay. Đa số carnelian trên thị trường hiện nay là loại agat nhuộm màu sau đó được xử lý nhiệt. Loại carnelian tự nhiên thường có màu đỏ với các đám mây của màu.


    Posted Image

    Carnelian


    - Sard: Cũng là biến thể màu nâu đỏ tới nâu của canxedon (nhưng so với carnelian thì màu của sard thường đậm hơn và nâu hơn). Loại tự nhiên cũng thường hiếm, đa số sard trên thị trường hiện nay là do nhuộm màu.
    - Chrysopas: Là loại canxedon có màu lục. Nguên tố tạo màu thường là niken (Ni). Ngoài cấu trúc ẩn itnh, đôi khi chrysopas có cấu trục sợi. Khi bị đốt nóng màu của chrysopas sẽ bị nhạt đi nhưng sau đó có thể tự hồi phục ở điều kiện nhiệt độ bình thường. Các khu vực khai thác chủ yếu là Australia, Brasil, Ấn Độ, Madagasca, Nam Phi,...


    Posted Image

    Chrysopas


    - Bloodstone (Đá máu): Là loại canxedon có màu lục với các đốm và sọc dải màu đỏ. Màu lục thường là do các bao thể clorit hoặc các bao thể thuộc nhóm horblen. Màu đỏ được tạo ra do sắt. Các khu vực khai thác chủ yếu là Ấn Độ, Brasil, Trung Quốc,...



    - Agat: Agat là tên gọi loại canxedon có cấu trúc màu dạng dải, sọc. Tên agat có xuất xứ từ tên sông Archtes vùng Sicily (Italia). Trong cấu trúc của agat, đôi khi một số phần đã chuyển sang opan. Trong cấu trúc của agat ta thường quan sát được các vi tinh của thạch anh mọc vuông góc với cấu trúc dạng lớp của agat. Agat thường bán đục, tuy nhiên ở dạng các lớp mỏng ta có thể thấy chúng bán trong. Màu của agat tự nhiên thường mờ, ranh giới giữa các màu thường không rõ rang và người ta thường dung phương pháp nhuộm màu để cho agat có màu sống động hơn. Bằng việc sử dụng các hoá chất nhất định cùng với xử lý nhiệt người ta có thể tạo ra các lớp màu theo ý muốn.


    Posted Image

    Posted Image

    Agat với các lớp màu khác nhau




    - Agat dạng cành cây (Dendritic Agate): Là loại canxedon có màu trắng hoặc trắng xám với các cấu trúc dạng cành cây, do sự tập trung của các nguyên tố sắt hoặc mangan có màu nâu (nếu là sắt) hoặc màu đen (nếu là mangan).



    Posted Image

    Agat dạng cành cây



    - Agat dạng rêu (Moss Agate): Là tên gọi của loại canxedon không màu, bán trong có chứa các bao thể horblen hoặc clorit màu lục và trông rất giống dạng rêu mờ.




    Posted Image

    Agat dạng rêu




    - Onyx: Là loại canxedon có hai lớp màu với phần nền có màu đen và lớp bên trên có màu trắng, hoặc là tên gọi loại canxedon có màu đen. Khi màu của phần nền thay đổi thì chúng có các tên gọi khác nhau tương ứng, ví dụ sard onyx (phần nền có màu nâu và lớp trên có màu trắng); cornelian onyx (phần nền có màu đỏ và phần trên có màu trắng),…


    Posted Image
    Posted Image
    Posted Image

    Onyx được chế tác ở các dạng khác nhau




    - Jasper: Jasper là tên gọi loại biến thể nằm giữa thạch anh và canxedon (đôi khi chúng được xếp vào nhóm canxedon, đôi khi chúng được xếp vào nhóm thạch anh), hoặc ta có thể gọi chúng là loại canxedon có cấu trúc hạt. Trong thực tế chúng thường phát triển cùng với agat hoặc opan.



    Posted Image

    Một số loại jasper




    4. Mài cắt: Các loại canxedon đều được cắt cabochon, hoặc chạm khắc và dùng làm mặt dây chuyền và một số đồ nữ trang khác. Ngày xưa canxedon được dùng chủ yếu để chạm khắc các loại tượng nhỏ, ly rượu, bình đựng rượu lễ. Agat và onyx được dùng để chạm khắc các loại cameo do chúng thường có các đới màu khác nhau rất hấp dẫn.

    5. Dấu hiệu nhận biết

    Phân biệt dựa trên các đặc tính phân đới của màu, có độ cứng trung bình và ánh. Tỷ trọng khá thấp (2,61) độ cứng (6,5) nhỏ hơn các loại thạch anh khác. Canxedon rất dễ nhầm với một số loại đá quý bán trong tới đục như nefrit, jadeit, malachit, lapi-lazuli, moonstone, amazonit, turquois. Phân biệt với amazonit bởi tính cát khai và ánh, cũng có thể dùng chiết suất để phân biệt (amazonit có chiết suất thấp hơn - 1,52).

    6. Nguồn gốc và phân bố: Được khai thác nhiều ở Urugoay ở khu vực  biên giới với Braxil và ở một số khu vực khác.

    Agat được khai thác nhiều ở Đức, chryropase cũng được khai thác nhiều ở Đức, Nga và Mỹ ...

    Ở Việt Nam một số năm gần đây canxedon được khai thác rất nhiều tài một số tỉnh thuộc Tây Nguyên. Canxedon thường có nhiều màu khác nhau (nâu, vàng, lục, xám, trắng,...) đôi khi cũng có các sọc dải màu hoặc đới màu. Loại canxedon đã chuyển sang opan hoặc agat thực thụ thì rất hiếm, thực chất chúng vẫn chỉ là canxedon. Canxedon được khai thác và chế tác ở các hình thù khác nhau dùng làm đá cảnh và đá trang trí.


    Posted Image
    Posted Image

    Canxedon Việt Nam thường được đánh bóng nguyên sơ hoặc chế tác thành các hình thù khác nhau





    7. Giá trị: Tuỳ thuộc vào màu sắc và độ trong mà chúng có giá trị khác nhau. Loại có giá trị cao hơn cả là chrysopas, agat.

    8. Giả và tổng hợp: Ngày xưa canxedon được làm giả bởi thuỷ tinh, không được tổng hợp trong công nghiệp.

    Nguồn:

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #12 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 05 November 2009 - 11:18 PM

    GARNET (GRANAT)




    Posted Image

    Demantoit 4.5 cts



    Cũng giống như một số khoáng vật khác granat cũng là một loại khoáng vật có rất nhiều biến thể màu sắc khác nhau trừ màu lam. Tuỳ thuộc vào màu sắc mà giá trị của granat rất thay đổi, trong đó loại có giá trị cao nhất là biến thể màu lục (uvarovit) có giá trị hàng ngàn USD/cts. Đã từ lâu, người ta tin rằng mang theo granat bên mình có thể phòng ngừa được tai nạn và sẽ không gặp ác mộng. Granat đại diện cho những người sinh vào tháng Giêng.




    1. Khái quát chung

    Tên granat xuất phát từ chữ La tinh granatum có nghĩa là “dạng hạt”.

    Pyrop chữ Hylạp có nghĩa là “giống như lửa” vì pyrop có màu đỏ sẫm

    Anmandin theo tên của vùng Alabada của Ấn Độ.

    Spexactin do địa điểm Spessart ở Baravi.

    Grozule lấy tên theo một thứ quả vì nó có màu lục

    Andradit do tên nhà khoáng vật học Bồ Đào Nha Andrada mô tả lần đầu tiên năm 1800.

    Uvarovit lấy theo tên của Bộ trưởng Uvarop được tìm thấy ở Ural.



    2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể

    2.1. Thành phần hoá học
    : Nhóm granat bao gồm những khoáng vật có công thức chung A3B2[SiO4]3 trong đó:

    A = Mg, Fe2+, Mn2+, Ca và

    B = Al, Fe3+, Cr3+



    Có hai loạt đồng hình:

    Loạt anmandin           (Mg, Fe, Mn)3Al2[SiO4]3

    Pyrop:             Mg3Al2[SiO4]3

    Anmandin:      Fe3Al2[SiO4]3

    Spexactin:      Mn3Al2[SiO4]3


    Loạt andradit :            Ca3(Al, Fe, Cr)2[SiO4]3

    Grozule :        Ca3Al2[SiO4]3

    Andradit:        Ca3Fe2[SiO4]3

    Uvarovit :       Ca3Cr2[SiO4]3



    Thành phần hoá học của granat được đưa ra trong bảng dưới đây:

    Posted Image




    Trong thành phần của granat đôi khi còn lẫn K2O, Na2O, cả P2O5, V2O5, ZrO2, BeO, ...



    2.2. Cấu trúc tinh thể

    - Tinh hệ : lập phương




    Posted Image


    Mô hình cấu trúc của các tinh thể hệ lập phương



    - Dạng tinh thể : Phổ biến nhất là các hình tá điện thoi [110] có khi kết hợp với dạng tam bát diện tứ diện, cũng có thể có hình tam bát diện độc lập. Các mặt đều có sọc song song với đường chéo góc dài.



    3. Các tính chất vật lý và quang học

    3.1. Các tính chất vật lý


    Các tính chất vật lý của các khoáng vật trong nhóm granat được cho theo bảng dưới đây:


    Posted Image




    3.2. Tính chất quang học

    - Chiết suất, độ tán sắc : Bảng trên.

    - Màu sắc: granat có nhiều màu, thứ không màu rất hiếm, các màu chính cho ở bảng trên.




    Posted Image


    Các màu khác nhau của granat




    - Ánh : mỡ, thuỷ tinh, đôi khi gần ánh kim cương.

    - Tính phát quang: Không

    - Phổ hấp thụ :  Tuỳ thuộc vào từng biến thể mà có phổ hấp thụ khác nhau.

    Pyrop : 6870, 6850, 6710, 6500, 6200, 5200, 5050

    Anmandin : 6170, 5760, 5260, 5050, 4760, 4620, 4380, 4280, 4040, 3930

    Spexactin : 4950, 4845, 4810, 4750, 4620, 4350, 4320, 4240, 4120

    Grozule: 6300

    Demantoit: 7010, 6930, 6400, 6220, 4850, 4640, 4430

    - Các hiệu ứng quang học đặc biệt: Một số biến thể của granat (anmandin) có có chứa các bao thể dạng kim que và tạo nên hiệu ứng sao khá đẹp khi mài cabochon và sao trong granat thường là sao 4 cánh.



    Posted Image


    Demantoit một trong những loại granat giá trị nhất





    4. Đặc điểm bao thể:

    Tuỳ thuộc vào điều kiện thành tạo mà trong các khoáng vật của nhóm granat ta có thể gặp các bao thể khác nhau. Trong anmandin ta thường gặp các bao thể apatit và rutin, trong demantoit ta thường gặp các bao thể sợi actinolit và tạo thành các bao thể dạng "đuôi ngựa" rất đặc trưng. Trong hessonit hay gặp apatit và canxit, trong umbalit gặp apatit, rutin, pirit và zircon.






    Posted Image


    Bao thể dạng "đuôi ngựa" trong demantoit





    Posted Image

    Posted Image


    Bao thể apaiti và rutin




    Trong granat của Việt Nam thường gặp các bao thể rutin dạng tinh thể và dạng kim que, các bao thể flogopit, apatit, zircon với riềm phóng xạ...



    5. Nguồn gốc và phân bố

    5.1. Nguồn gốc


    Granat được thành tạo chủ yếu trong các đới biến chất tiếp xúc trao đổi phát sinh do tác dụng của các macma axit với đá cacbonat ở điều kiện nhiệt độ tương đối cao. Thường thấy những khối đặc xít hoặc là thành phần của các skarn với các khoáng vật silicat vôi như diopxit, epidot, hedenbecgit... Ngoài ta còn gặp granat trong granit, pecmatit, kimbeclit.

    - Pyrop: Thường liên quan tới các đá siêu bazơ như peridotit, kimbeclit và các sản phẩm biến đổi của chúng.

    - Spexactin: Thường gặp trong các đá granit pecmatit hoặc các đá giàu silic.

    - Andradit: Thường được hình thành trong các đới biến chất tiếp xúc đặc biệt là tiếp xúc giữa macma bazơ giàu Fe với đá hoa.

    - Grozule: Đặc trưng cho cả quá trình biến chất nhiệt và biến chất khu vực.

    - Anmandin: Thường là sản phẩm của quá trình biến chất nhiệt.

    - Uvarovit: Thường gặp trong các thân skarn.

    5.2. Đặc điểm phân bố



    Posted Image


    Các khu vực phân bố granat chủ yếu trên thế giới




    Ở Việt Nam grozule thấy trong đá vôi kết tinh ở Thanh Mọi (Lạng Sơn), Trọng Lộc (Quảng Nam).

    Andradit gặp nhiều trong đá vôi tiếp xúc ở Tĩnh Túc, Thái Nguyên, Thanh Mọi, Phong Thổ.

    Anmandin thấy ở Lào Cai, trong pecmatit và trong phiến kết tinh ở Yên Bái.

    Granat có giá trị trang sức trên thế giới chủ yếu được khai thác ở Sri Lanka, Ấn Độ, Madagasca, Brazil, Alaska và Băng đảo.

    Pyrop thường gặp trong các ống nổ của vùng Kimbecley, De Beers, ít hơn ta gặp ở Arizona, New Mexico, Zimbabwe, Braxin, úc...

    Spexactin gặp ở Sri Lanka, Madagasca, Braxin và một lượng nhỏ từ San Diego, California.




    Posted Image

                              

    Spexactin cộng sinh với thạch anh




    Grozule và Tsavorit gặp chủ yếu ở Kenya và Tanzania.

    Posted Image


    Grozule Kenya



    Demantoit và Uvarovit được phát hiện ở vùng núi Ural và một số khu vực khác ở Hymalaya.



    6. Mài cắt

    Granat trong suốt có thể được mài cắt ở các dạng khác nhau: kiểu kim cương (brilliant cut), kiểu bậc (step cut), hay kiểu hỗn hợp (mixed cut).

    Đối với anmandin hay pyrop nếu có tông màu quá tối người ta thường mài ở dạng caboson trống đáy (hollowed cabochon). Dạng caboson cũng có thể dùng cho loại grozule có màu lục bán trong.

    Với loại tsavorit có màu lục tối người ta thường mài kiểu emơrôt hoặc kiểu gối cổ (antique cushion) và khi có tông màu sáng hơn người ta lại mài ở kiểu oval hỗn hợp.



    7. Các loại đá giả và phương pháp nhận biết

    - Anmandin:  anmandin có màu đỏ rất dễ nhầm với ruby kể cả ruby tổng hợp và đôi khi cũng nhầm với thuỷ tinh màu đỏ. Tuy nhiên có thể dễ dàng phân biệt với ruby bởi tính dị hướng, bên cạnh đó ruby thường phát huỳnh quang mạnh hơn dưới tia cực tím sóng dài còn anmandin thì không. Phân biệt với rubelit bởi tính lưỡng chiết và đa sắc.



    Posted Image


    Tinh thể anmandin



    - Pyrop : Người ta rất dễ nhầm pyrop với spinen bởi chúng có màu sắc và một số thuộc tính gần trùng nhau.


    Posted Image


    Pyrop rất dễ nhầm với ruby và spinen




    Dấu hiệu để phân biệt có ý nghĩa nhất là giá trị chiết suất của chúng. Pyrop thường có chiết suất > 1,73 trong khi đó spinen có giá trị chiết suất < 1,72. Dấu hiệu thứ hai có thể căn cứ vào là đặc điểm bao thể. Trong spinen thường chứa các bao thể dạng 8 mặt tự hình trong khi đó pyrop thường chứa các bao thể dạng hạt tòn cạnh có độ nổi thấp và các bao thể dạng kim.

    Đôi khi ta cũng hay nhầm pyrop với những viên ruby có màu tối khi đó bằng việc xem xét tính đẳng hướng, dị hướng quang học và đặc tính phát quang ta dễ dàng phân biệt chúng (cần chú ý một điều pyrop nhiều khi cũng có hiệu ứng giả dị hướng). Bên cạnh đó cũng có thể dùng tính đa sắc để phân biệt pyrop không trở thành đỏ sáng dưới ánh sáng mạnh.

    Trước kia khi giá của pyrop còn cao chúng được làm giả bằng thuỷ tinh, nhưng cũng dễ phân biệt bởi thuỷ tinh có độ cứng thấp hơn. Pyrop không được tổng hợp trong công nghiệp.

    - Spexactin: Với giá trị chiết suất cao spexactin rất dễ nhầm với zircon và một số loại granat khác, tuy nhiên có thể căn cứ vào tính đẳng, dị hướng để phân biệt với zircon, căn cứ vào giá trị chiết suất, tỷ trọng, phổ hấp thụ để phân biệt với các loại granat khác.



    Posted Image

    Posted Image


    Spexactin




    Giá trị của spexactin cao hơn pyrop và anmandin chút ít và ngang với giá của rhodolit.

    Không được làm giả và cũng không được sản xuất trong công nghiệp.


    Posted Image

                                Tinh thể grozule (trái) và spexactin (phải)



    - Grozule : Dễ nhầm với topaz tuy nhiê topaz có giá trị chiết suất thấp hơn, cũng có thể căn cứ vào đặc điểm bao thể để phân biệt chúng, grozule thường chứa các bao thể dạng lăng trụ tròn cạnh còn topaz thì hầu như không thấy. Dựa vào ánh để phân biệt với citrin, phân biệt với zircon bởi tính lưỡng chiết.

    Grozule có giá trị tương tự như anmandin và pyrop và cũng không bị làm giả và tổng hợp trong công nghiệp.


    Posted Image




    - Andradit : Loại demantoit có ánh và giá trị lưỡng chiết gần đạt tới giá trị của kim cương. Tuy nhiên dấu hiệu đặc trưng của demantoit là những bao thể dạng sợi sắp xếp toả tia bên trong viên đá.


    Posted Image


    Tinh thể andradit




    Demantoit phân biệt với zircon màu lục, peridot, emơrôt, tuamalin màu lục bởi tính đẳng hướng, dị hướng quang học.



    Posted Image

    Posted Image

    Demantoit



    - Rhodolit : Rhodolit rất dễ nhầm với ruby nhưng phân biệt chúng bởi tính phát quang và tính đa sắc, cũng phân biệt với rubelit bởi tính đa sắc và ánh. Phân biệt với spinen bởi các tính chất vật lý và đặc tính phát quang. Rhodolit có chiết suất 1,755 - 1,765 và tỷ trọng 3,74 - 3,94 cao hơn spinen.


    Posted Image


    Posted Image


    Posted Image


    Posted Image


    Tinh thể rhodolit và rhodocrolit




    NGUỒN :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #13 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 11 November 2009 - 02:05 PM

    NGỌC JADEIT


    Posted Image


    Chiếc vòng này có giá trị $2576600


    Ngọc jadeit được con người sử dụng từ thời xa xưa, tuy nhiên hiện nay trên thị trường tồn tại nhiều loại ngọc jadeit với chất lượng và giá cả rất khác nhau. Có loại chỉ vài ba chục ngàn đến vài trăm ngàn đồng một sản phẩm nhưng cũng có loại giá trị lên đến vài ngàn USD. Sự khác nhau đó không phải ai cũng biết được, dựa vào sự thiếu hiểu biết đó một vài cửa hàng thiếu đạo đức trong kinh doanh đã bán những loại hàng chất lượng thấp với giá cắt cổ cho khách hàng.
      

    Ngọc jadeit (hay thường được gọi là ngọc jat) được con người biết đến từ thời xa xưa. Ngay từ thời kỳ đồ đá, jat đã được con người sử dụng làm các công cụ sản xuất khác nhau. Sau này, nó được dùng nhiều để chế tạo các đồ trang sức và mỹ nghệ, nhất là ở Trung Mỹ. Ở đây nó được coi là đá thần của người Aztek và được đánh giá cao hơn cả vàng. Cho đến nay người ta đã tìm thấy các sản phẩm mỹ nghệ, các mũi tên làm từ jadeit thuộc nền văn hóa Maja xa xưa tại các nước Guatemala, Mehico, Peru, Panama, Costa Rica, tuy thế trong suốt khoảng 3000 năm, người ta không phân biệt được giữa jadeit và một loại đá quý giống nó là nephrit. Ở Trung Quốc, hai loại đá quý này đều có tên gọi chung là "ngọc" và nó tượng trưng cho sự thịnh vượng, sắc đẹp, tình hữu hảo.

    Tại châu Âu, vào thời gian người Tây Ban Nha xâm chiếm Trung và Nam Mỹ, hai khoáng vật này có tên gọi là "jade", xuất phát từ tiếng Tây Ban Nha piedrra deijada - đá danh dự, hay đá "mạng sườn" vì theo một số bộ lạc ở Mehico, các đá này có thể chữa được bệnh đau ở mạng sườn. Vào đầu thế kỷ 18, jat bắt đầu được đưa đến châu Âu từ Trung Quốc. Cho đến tận bây giờ, cả 2 loại đá quý này đều vẫn có một tên gọi chung là ngọc jat (jade). Và chỉ đến năm 1869, nhà khoáng vật học người Pháp Demur mới phân biệt được 2 khoáng vật này,

    Tên gọi nephrit phát sinh từ tiếng Hy Lạp hejroz - có nghĩa là quả thận, vì theo niềm tin của người xưa, nephrit làm giảm các cơn đau trong gan và thận. Từ ngày xưa người ta tin rằng nephrit ngăn ngừa con người ta khỏi những điều rủi ro.


    Các tính chất vật lý, hóa học và quang học


    Posted Image


    Các tính chất của ngọc jat


    Posted Image

    Posted Image


    Chất lượng và giá trị

    Tùy thuộc vào độ trong suốt, sắc màu, cường độ và sự phân bố của màu xanh lục (màu có giá trị nhất) mà trên thương trường thế giới người ta chia ra 3 loại:

    I - loại hoàng gia (Imperial Jadeite), loại jadeit trong suốt đến bán trong, màu lục bảo ngọc đều.

    II - loại thương phẩm (Commercial Jadeite), có các gân, các đốm nhỏ bán trong màu lục bảo ngọc trên nền màu lục không khí trong suốt.

    III - loại thông dụng (Utility Jadeite), loại jadeit không trong suốt màu lục sáng. Loại jadeit hoàng gia có giá trị cao nhất, tương đương với giá của emơrôt (lục bảo ngọc).

    Posted Image


    Màu là yếu tố quan trọng nhất đối với chất lượng ngọc jade


    Khi phân cấp chất lượng jat cần phải chỉ rõ jadeit hoặc nephrit. Các chỉ tiêu sau đây cần được lưu tâm đến khi phân cấp chất lượng jat: màu sắc, độ trong, mức độ đồng đều của màu, cấu tạo, hình dạng, kích thước và độ bóng. Màu sắc là chỉ tiêu chất lượng quan trọng nhất.

    Có thể nói rằng ngọc jat là loại đá quý được ưa chuộng nhất ở phương Đông. Người Trung Quốc cho rằng nó liên quan đến 5 đức tính sau của con người: lòng nhân từ, lòng dũng cảm, sự công bằng, sự giản dị và trí tuệ. Người ta thường định giá jat theo viên hơn là theo carat. Màu xanh lá cây là màu được ưa chuộng nhất đối với jat, sau đó là các màu hồng tím, tím nhạt, đỏ, vàng, trắng và đen.


    Giá bán buôn ngọc jat


    Posted Image



             Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #14 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 11 November 2009 - 02:25 PM

    PERIDOT




    Posted Image


    Tinh thể peridot



    Tên peridot là tên theo tiếng Anh dùng để chỉ một biến thể có màu lục của khoáng vật olivin, là loại silicat chứa Mg và Fe. Với màu sắc lục phớt vàng đặc trưng (màu oliu)đây là một đá quý hết sức đặc biệt, có trong các đá tạo ra từ núi lửa và trong cả thiên thạch rơi xuống trái đất. Người La Mã gọi peridot là “emerald hoàng hôn” vì màu lục của chúng không tối vào ban đêm và vẫn thấy được dưới ánh đèn. Peridot là loại đá đại diện cho những người sinh tháng 8



    1. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể

    1.1. Thành phần hoá học
    : Là silicat Mg, Fe có công thức hoá học (Mg, Fe2)SiO4.

    1.2. Cấu trúc tinh thể

    -  Tinh hệ: Trực thoi.




    Posted Image


    Mô hình cấu trúc tinh thể của peridot




    - Dạng tinh thể: Tinh thể hoàn chỉnh thường hiếm, đôi khi ở dạng tấm hoặc lăng trụ ngắn.



    Posted Image


    Dạng tinh thể thường gặp của peridot




    2. Các tính chất vật lý và quang học

    2.1. Các tính chất vật lý


    - Độ cứng : 6,5 - 7

    - Tỷ trọng : 3,27 - 3,37

    - Cát khai : Rõ theo [010], không hoàn toàn theo [100]

    2.2. Tính chất quang học:

    - Chiết suất :  1,654 - 1,690

    - Lưỡng chiết suất : 0,036

    - Màu sắc : vàng lục đặc trưng, lục oliu đôi khi nâu nhạt.

    - Ánh : Thuỷ tinh mạnh gần như kim cương

    - Tính phát quang : Không

    - Phổ hấp thụ : 6530, 5530, 5290, 4970, 4950, 4930, 4730, 4530

    - Tính đa sắc : rất yếu, không màu tới lục nhạt, lục oliu.

    - Các hiệu ứng quang học đặc biệt: Không



    3. Bao thể:

    Các bao thể thường gặp trong peridot là cromdiopsit, cromspinen, phlogopit và các bao thể anhydrit dạng tấm, lá. Trong peridot của Việt Nam thường gặp các bao thể khoáng vật dạng 8 mặt tự hình của cromit cùng với các bao thể phlogopit ...



    Posted Image


    Posted Image


    Bao thể cromit trong peridot



    Posted Image


    Posted Image


    Bao thể cromit va phlogopit




    4. Đặc điểm phân bố trên thế giới và Việt Nam


    Posted Image


    Các khu vực khai thác peridot chủ yếu trên thế giới




    Nguồn cung cấp peridot chủ yếu cho thế giới là vùng Biển đỏ đã được khai thác từ 3500 năm trước đây, một số lượng lớn được khai thác ở Miến Điện (cách Mogok 30 km về phía đông bắc). Bên cạnh đó peridot còn được khai thác ở Australia (bang Queensland), Braxin (mỏ Minas Gerais), Nam Phi cùng với khai thác kim cương, Mỹ, Zaia... ở Châu Âu peridot được khai thác chủ yếu ở Na Uy.


    Posted Image

    Nodule các tinh thể peridot trong đá basalt




    Ở Việt Nam peridot được khai thác nhiều trong bazan miền nam Việt Nam, peridot được kết tinh ở giai đoạn đầu của hoạt động phun trào macma và hình thành nên các nodule. Khu vực khai thác nhiều nhất hiện nay là vùng Hàm Rồng (Gia Lai), Lâm Đồng ...



    Posted Image


                    

    Peridot mỏ Hàm Rồng Việt Nam



    5. Mài cắt

    Thời Trung cổ peridot được sử dụng rất rộng rãi ở Châu Âu, peridot thường được cắt kiểu emơrôt và đôi khi được cắt kiểu kim cương và thường được gắn trên nhẫn vàng.



    6. Các loại đá giả và phương pháp nhận biết:

    Các loại đá có màu gần giống như peridot có demantoit, zircon, saphia vàng, chryzoberin, sinhalit, tuamalin, topar, berin, opsidian (mondavit). Tuy nhiên peridot dễ nhận biết bởi màu lục vàng đặc trưng với lưỡng chiết mạnh (đây là một đặc điểm quan trọng nhất để phân biệt) ở những viên mài dày ta có thể quan sát được hiệu ứng nhân đôi thậm chí ngay cả bằng mắt thường. Màu giống như peridot chỉ thấy trong thuỷ tinh giả.

    - Sinhalit (borat của Fe, Al và Mg)” được coi như là một dạng của peridot nhưng có chỉ số chiết suất và tỷ trọng cao hơn do hàm lượng của Fe trong thành phần cao hơn.



    7. Các phương pháp xử lý:

    Mới đây peridot Việt Nam đã được các nhà khoa học thuộc Trung tâm Nghiên cứu - Kiểm định Đá quý và Vàng tiến hành xử lý làm tăng vẻ đẹp của peridot. Peridot Việt Nam thường bị nhuốm màu nâu do vậy có thể dùng phương pháp xử lý nhiệt để làm sạch màu nâu và chỉ giữ lại màu thân đá (body color).


    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #15 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 167
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 11 November 2009 - 02:46 PM

    CHRYZOBERIN





    Posted Image


    Mắt mèo


    Khi nhìn vào viên cabochon chrysoberin mắt mèo, ta thấy một dải rực sáng phản chiếu quét ngang qua phần vòm làm cho viên đá giống y mắt của một con mèo. Cùng một họ hàng với alexandrit thay đổi màu, loại đá quý nhóm chrysoberin này là một điển hình nổi tiếng nhất về hiệu ứng mắt mèo. Người Hy Lạp cổ gọi chrysoberin mắt mèo là cymophane, nghĩa là “ánh sáng di chuyển”.Trong nhiều nền văn hóa xưa, người ta cho rằng chrysoberin mắt mèo có khả năng trị được các bệnh của mắt.



    1. Khái quát chung


          Tên theo tiếng Hylạp có nghĩa là vàng kim, được biết từ rất sớm. Loại alexandrit, mắt mèo được ưa chuộng và có giá trị nhất.

          Mắt của viên đá chrysoberin mắt mèo sẽ nháy được khi bạn chiếu 2 nguồn sáng lên nó và rồi xoay viên đá. Khi xoay viên đá, mắt sẽ tách ra thành 2 dải sáng xa dần rồi sau đó chập lại. Hiệu ứng này gọi là “mở và khép”.



    2.  Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể:

    2.1. Thành phần hoá học:
    Oxyt Al- Be , công thức Al2(BeO4)

    2.2. Cấu trúc tinh thể:
    Tinh hệ trực thoi, dạng tinh thể lăng trụ dài



    Posted Image


    Mô hình cấu trúc của tinh hệ trực thoi



    3. Các tính chất vật lý và quang học

         - Màu sắc: vàng kim, vàng lục, nâu.

         - Độ cứng: 8,5

         - Tỷ trọng: 3.70- 3.72

         - Vết vỡ: vỏ sò

         - Chiết suất: 1.74- 1.75

         - Tán sắc: 0.015

         - Phổ: không đặc trưng

         - Phát quang: lục - đỏ tối yếu

         - Đặc điểm bao thể: Các bao thể dạng lông chim, hai pha.

    4. Phân biệt:

         - Saphia: SG (4) ; RI ( 1.76)

         - Spinel: đẳng hướng, SG (3.60); RI (1.72)

         - Synthetic spinel: đẳng hướng, SG (3.60); RI (1.72), lọc chelsea, phát quang đỏ

         - Tuamalin: SG (3.02- 3.26); RI (1.61- 1.65), H (7.5)

         - Zircon: SG (3.90- 4.7); RI (1.77- 1.98); H (6.5- 7.5 )

    5. Phân bố: Mazok (Ấn Độ), Braxin, Srilanka (nguồn quan trọng của mắt mèo), Nam Phi


    Posted Image


    Các khu vực khai thác chrysoberin chủ yếu trên thế giới



    6. Xử lý: không

    7. Các biến thể chính:

    - Alexandrit: giòn dễ vỡ, có hiệu ứng đổi màu

                                      Màu lục dưới ánh sáng thường, đỏ dưới ánh sáng nóng.

                                      Được tổng hợp trong công nghiệp.


    Posted Image


    Hiệu ứng đổi màu của alexandrit



    Hiệu ứng sao: Do các bao thể hình ống, hoặc các kim ngắn chạy song song với trục đứng của tinh thể, cắt vuông góc với trục đứng- sao

    Chế tác: kiểu hỗn hợp với phần trên kiểu brilliant. Pavilion : step cut

    - Chryzoberin mắt mèo (cat eye): xymophan

                   Do các bao thể sắp xếp định hướng – cắt cabochon. Tên cat’s eye chỉ cho chrysoberin, mắt mèo loại khác phải có tên đi kèm          

                   Phân bố: Braxin, Trung quốc, Srilanka.

          Phân biệt:

                    - Saphia và spinel tống hợp giả alexandrit

                    - Thạch anh mắt mèo: phân biệt bới  SG thạch anh < SG ximophan

                                                                    ( nổi trong bromofoc)

                    - Prenit  mắt mèo

                    - Turmalin mắt mèo:

    Cả 2 loại này nổi trong metylen iôtdua SG = 3.3, còn cryzoberin thì chìm.


    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image




    Bài viết tương tự Collapse