Jump to content


MỘT SỐ LOẠI ĐÁ QUÝ VÀ ĐẶC ĐIỂM NGỌC HỌC


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
29 replies to this topic

#16 AMETHYST

AMETHYST

    Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

  • Quản trị
  • 1,025 Bài viết:
  • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 12 November 2009 - 05:02 PM

    TURMALIN (TUORMALINE)




    Posted Image


    Các màu của tuamalin



    Tuamalin bắt nguồn từ chữ "turamali" thuộc ngôn ngữ vùng Singhalase, có nghĩa là “màu trộn lẫn”. Do chúng có rất nhiều màu khác nhau và dễ nhầm với các loại đá quý khác. Có lẽ đó là lý do mà các nhà thần bí xưa kia tin rằng tuamalin có thể cho họ sức mạnh trực giác nghệ thuật: đá này có đủ các màu để diễn tả mọi cảm xúc.


    1. Khái quát chung

    Tuamalin là một trong những khoáng vật có đặc tính kỹ thuật thú vị và là đá quý có dải màu phong phú nhất so với các đá quý khác, một số tinh thể có 2 màu hoặc nhiều màu.

                Một số biến thể của tuamalin có màu khác nhau mang các tên khác nhau và có xuất xứ khác nhau. Dravit mang tên theo vùng Drave (Áo); Schorl mang tên theo một vùng mỏ cổ của Đức; Elbait mang tên theo vùng Elba (Italia); Buergerit mang tên theo nhà tinh thể học J. Buerger; Liddicoatit mang tên nhà ngọc học Richard T. Liddicoat (thuộc Viện ngọc Hoa Kỳ); Uvit tên một địa phương thuộc Srilanka,…

    2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể:

    1.1. Thành phần hoá học


    Tuamalin có công thức hoá học chung: XY3Z6 (BO3)3Si6O18(O,OH,F)4

    Trong đó:           X là các nguyên tố Na và Ca, đôi khi là K, Mg;

    Y: Fe+2, Fe+3; Mg; Al và Li; Mn+2; V+3

    Z: chủ yếu là Al đôi khi là Cr+3, Fe+3 (V+3, Fe+2, Ti).

    Thành phần hoá học của tuamalin không nhất định do có hiện tượng thay thế đồng hình phổ biến: SiO2: 30-44%; B2O3: 8 - 12%; Al2O3: 18 - 44%; FeO+ Fe2O3: 0 - 38%; MgO: 0 - 25%; Na2O: 0 - 6%; CaO: 0-4%; H2O: 1-4%; Ngoài ra còn có các nguyên tố sau: K, Li, Mn, Cr và cả F, Cl.

    1.2. Cấu trúc tinh thể

    - Tinh hệ : tuamalin kết tinh trong tinh hệ 3 phương, với các yếu tố đối xứng: một trục đối xứng bậc 3 và 3 mặt phẳng đối xứng (L33P).



    Posted Image

    Mô hình cấu trúc tinh thể hệ 3 phương


    - Dạng tinh thể: thường gặp tinh thể hình trụ 3 phương (kéo dài theo trục bậc 3), đôi khi gặp các tinh thể hình trụ ngắn. Các tinh thể thường nhỏ có khi mức hiển vi, nhưng đôi khi có những tinh thể lớn tới vài chục cm chiều dài và đường kính tới 10 - 20 cm. Các hình hay gặp là lăng trụ [1010] và [1120], tháp tam phương [1011], [0221]. Phần lớn các tinh thể có một đỉnh tháp, đôi khi cũng gặp tinh thể có 2 đỉnh tháp với các mặt nghiêng những góc khác nhau vì tinh thể không có tâm đối xứng và trục đối xứng bậc 2; các mặt lăng trụ luôn mang dấu vết tăng trưởng dưới dạng vết khía dọc.

    - Tập hợp thường thành tập hợp que, tập hợp phóng xạ hoặc hình tóc rối. Hiếm khi thành khối hạt đặc xít, đôi khi ẩn tinh.

    2. Các tính chất vật lý và quang học

    2.1. Các tính chất vật lý


    -  Cát khai, vết vỡ: Thực tế tuamalin không có cát khai hoặc cát khai rất không hoàn toàn theo mặt lăng trụ [1120] và mặt tháp [1011]. Tuamalin có vết vỡ không bằng phẳng.

    -  Tỷ trọng: 2,9 - 3,3. Nhìn chung ít biến đổi, phần lớn rơi vào khoảng 3,05 - 3,2.

    -  Độ cứng: 7 - 7,5 (theo thang Mohs), nhưng dòn nên mặc dù không có cát khai tuamalin có nhiều vết vỡ, điều này làm giảm độ trong suốt của nó.

    -  Tính chất điện: Do cấu trúc tinh thể, tuamalin có tính hoả điện và tính áp điện: Khi nung nóng tinh thể, ở hai đầu của nó xuất hiện điện tích trái dấu - gọi là tính hoả điện; khi nén chặt hai đầu tinh thể cũng sinh ra một điện áp (sự tích điện này có thể hút được những hạt bụi hoặc những mẩu giấy nhỏ). Sự tích điện này sẽ mất đi khi làm nguội hoặc thôi nén. Ngược lại nó sẽ xuất hiện sự chênh lệch nhiệt độ và điện áp theo chiều dài tinh thể khi nạp cho nó một điện trường.

    - Phản ứng hoá học: tuamalin không bị hoà tan trong axit ngay cả HF. Sau khi nóng chảy nó tác dụng với axit HCl thành dạng đông cứng. Tuamalin cũng có thể hoà tan trong hỗn hợp 2 sulphat kali & fluorit, và cũng phản ứng với axit boric.

    2.2. Các tính chất quang học:

    - Màu sắc: Tuamalin gặp rất nhiều màu sắc từ sáng đến tối màu, từ đậm đến nhạt, phổ biến là các màu xanh lục, xanh đen, đen tuyền, lục vỏ bí hoặc xanh nõn chuối, xanh lục vàng, vàng lục...


    Posted Image

    Posted Image

    Tính phân đới màu của tuamalin



        Sở dĩ tuamalin có nhiều màu như vậy là do hiện tượng thay thế đồng hình các nguyên tố phổ biến trong thành phần các nguyên tố hoá học của khoáng vật này.

    -  Tính đa sắc: Rất mạnh (rất đặc trưng) với độ hấp thụ cao nhất theo chiều dài tinh thể:

    <!--[if !supportLists]-->
    + Màu lục: lục sẫm/ lục nhạt, lục vàng.
    + Màu nâu: nâu/ nâu vàng
    + Màu tím hồng: tím nhạt/ hồng nhạt
    + Màu đen: đen nâu/ xám nâu              
    + Màu vàng tính đa sắc yếu hơn.



    Posted Image
    Posted Image
    Posted Image

    Một số màu khác nhau của tinh thể tuamalin


    -  Tính phát quang: Không rõ ràng trừ một số trường hợp: màu đỏ và hồng đôi khi thấy phát quang dưới tia cực tím và chỉ thấy lân quang nhẹ; màu vàng phát quang cực yếu; loại dravit và uvit phát quang màu vàng hoa cải. Nhìn chung tuamalin là loại lỳ dưới bức xạ.

    - Phổ hấp thụ: Đặc tính quang phổ của tuamalin rất yếu, do đó nó không đặc trưng và cũng không phải là dấu hiệu quan trọng để giám định.

    -  Chiết suất: 1,62 - 1,64; Đối với tia thường: 1,635 - 1,775; tia bất thường: 1,6 - 1,645. Riêng loại ferridravit có chiết suất cao: 1,80 - 1,743.

    - Lưỡng chiết suất: thay đổi tuỳ theo loại tuamalin, từ 0,014 - 0.021 nhưng thường phổ biến 0,018.

    - Độ tán sắc: 0,017.

    - Đặc tính quang học: Một trục quang âm.

    4. Đặc điểm bao thể

    Bao thể trong tuamalin thường là bao thể hai pha, dạng hang hang hốc được lấp đầy chất lỏng chứa những bọt khí nhỏ có thành phần là H2O và CO2.

    Đặc biệt trong tuamalin hay có vết nứt phẳng phân bố song song với trục C. Các bao thể rắn là apatit - fluor dạng lăng trụ hoàn hảo, glogopit-mica, microlit, pyrit.

    5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp

    Tuamalin ít được xử lý và hầu như không được tổng hợp trong công nghiệp.

    6. Nguồn gốc và phân bố

    6.1. Nguồn gốc


    Tuamalin thường có trong các đá magma, pegmatit, gneis granulit. Ngoài ra còn thấy trong các đá biến chất do tác dụng của khí nóng và dung dịch nhiệt dịch.

    Riêng dravit hay gặp trong đá biến chất, đá skarn, đá siêu bazơ, đá bazơ bị biến chất trao đổi.

    6.2. Sự phân bố



    Posted Image


    Các khu vực khai thác tuamalin chủ yếu trên thế giới



    <!--[if !supportLists]-->
               Trên thế giới nơi có tuamalin đạt chất lượng ngọc tốt nhất là ở Mursinka trên dãy núi Uran của Nga, tuamalin ở đây thường có màu xanh da trời, màu đỏ hoặc tím đỏ, chúng nằm trong các lớp sét màu vàng sản phẩm phong hoá từ granit.

    + Brazil có tuamalin màu lục, xanh lam và màu đỏ, ngoài ra còn có các tinh thể nhiều màu.

    + Nammibia có tuamalin màu lục emơrôt.

    + Tanzania có mỏ tuamalin màu lục và nâu.

    + Những năm gần đây ở Mỹ cũng khai thác một số mỏ tuamalin với nhiều màu sắc hấp dẫn.
                    + Ở Việt Nam : tuamalin có mặt ở nhiều nơi như Phú Thọ; Lào Cai; Cao Bằng, Thanh Hoá, Nghệ An, Yên Bái... với đủ các màu sắc khác nhau, nhưng loại đạt chất lượng ngọc mới tìm thấy ở Lục Yên - yên Bái.


    Posted Image

    Posted Image

    Tuamalin Brasil



    Posted Image

    Posted Image

    Tuamalin Châu Phi


    7. Mài cắt:

    Có lẽ kiểu chế tác tốt nhất đối với tuamalin là mài cắt hỗn hợp: phần đáy cắt bậc, phần trên đỉnh cắt kiểu brilliant. Những viên đặc biệt được cắt kiểu bậc thang để giữ được trọng lượng lớn hơn. Những loại tuamalin rạn nứt mà có kích thước lớn đáng kể có thể tạc tượng hoặc khảm tranh.

    8. Đá giả, đá tương tự, đá nhân tạo và cách nhận biết.

    Cho đến nay chưa có tuamalin tổng hợp với mục đích thương mại, còn các loại đá tự nhiên khác có màu sắc giống với tuamalin bao gồm: thạch anh (citrin, ametit, thạch anh ám khói), demantoit, peridot, emơrôt, ruby, topaz hồng, zircon, spinen tổng hợp và thuỷ tinh mô phỏng. Để phân biệt ta dựa vào tính chất của chúng, sử dụng các thiết bị giám định xác định các tính chất đó kết hợp với nhận định cảm quan để kết luận tên đá. Bảng dưới đây đưa ra các tính chất của các đá tự nhiên có thể nhầm với tuamalin:


    Các đá tương tự tuamalin và cách phân biệt


    Posted Image


    9. Chất lượng và giá trị

    Nói chung giá trị của tuamalin kém xa ruby, saphia về giá cả, nhưng những viên có màu đẹp thì giá trị của chúng cũng tăng lên đáng kể. Trong các màu của nhóm tuamalin thì màu ưa chuộng nhất và có giá trị cao nhất là màu lục (còn có tên gọi là paraiba) với những viên trọng lượng >10cts giá có thể lên tới 500$/cts. Tiếp theo là loại tuamalin màu đỏ ruby (còn có tên là rubelit) có giá trung bình 150-300$/cts.


    Posted Image

                  

    Với nhiều màu khác nhau thì giá trị của tuamalin cũng khác nhau


    Các màu khác đạt chất lượng cao có trọng tượng từ 5 - 10 cts có 45-75 $/1ct;   > 10 cts có giá 64-90 $/1ct.

    Chất lượng trung bình:   1 - 5 ct có giá từ 9 - 23 và 18 - 27 $/1ct

                                                    5 - 10 ct có giá từ 18 - 27 và 27 - 45 $/1ct

                                                    > 10 ct có giá từ 27 - 36 và 36 - 54 $/1ct

    Loại chất lượng thấp : 2 - 7 $/ct và 2 - 9 $/ct.



    Posted Image

    Paraiba (tuamalin màu lục) là loại có giá trị nhất



    Nguồn :

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image




    Kính mời các đồng nghiệp xa gần đóng góp cho cuộc thi Chất Động Pangaea lần thứ XIII - năm 2016 Thời gian bắt đầu cuộc thi: 06/03/2016

    #17 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 03 September 2011 - 04:11 PM

    SPINEL


    Attached File  Spinel-1.jpg   4.1K   0 downloads
    Màu đỏ của spinen khiến nhiều người nhầm với ruby



    Spinen là một loại đá quý đã để lại nhiều dấu ấn trong lịch sử. Từ xa xưa người ta chưa phân biệt được hồng ngọc với spinen do vậy nhiều viên ruby nổi tiếng trên trang sức và vương miện của vua chúa thực chất là spinen đỏ.

    1. Khái quát chung

    Nguồn gốc tên gọi của spinen còn chưa chính xác nhưng có thể xuất phát từ tên Latinh “spoit” được hiểu “gai nhọn”, còn theo tiếng Hy Lạp từ “spark” có nghĩa là phát lửa.

    Thời cổ xưa spinen màu đỏ được biết dưới cái tên “Balas ruby”, tên này có thể bắt nguồn từ địa danh Balascia ở miền Nam Ấn Độ. Trong lịch sử đã có những viên như “Ruby hoàng tử đen” được gắn trên vương miện Hoàng đế Anh, và viên “Timur Ruby” nặng 361 cts trong tài sản Hoàng gia Anh nhưng thực chất là những viên spinen.

    Spinen được công nhận là một khoáng vật riêng biệt cách đây hơn 180 năm, trước đó nó được xếp vào nhóm Ruby do nó được tìm thấy cùng với ruby.

    2. Thành phần hoá học và cấu trúc tinh thể:

    2.1. Thành phần hoá học:


    Spinen là aluminat (oxit kép) của Mg - có công thức hoá học: MgAl2O4. Trong đó MgO: 28,2%; Al2O3: 71,8%. Trong spinen, Mg có thể thay thế bởi Fe+2 hoặc Mn+2 và Al bởi Fe+ hoặc Cr+3. Đôi khi thay thế các nguyên tố đó hoàn toàn tạo ra những khoáng vật có tên riêng biệt như ceylonit (Mg, Fe) Al2O4; garnit (Zn Al2O4)...

    2.2. Cấu trúc tinh thể

    - Tinh hệ: Lập phương, cấu trúc tinh thể của spinen khá phức tạp. Các ion oxy xếp chồng khít theo mặt song song với mặt bát diện. Các cation hoá trị 2 Mg+2, F2+2,... có 4 ion oxy xung quanh theo vị trí tứ diện, còn các cation hoá trị 3: Al+3, Cr+3 thì có 6 ion oxy bao quanh theo góc của bát diện. Như vậy cứ mỗi ion oxy liên kết với 1 cation lưỡng trị và 3 cation tam trị. Như thế kiến trúc có đặc điểm là kết hợp các đơn vị kiến trúc tứ diện và bát diện, mỗi góc chung cho một tứ diện và ba bát diện (hình 13.1). Đặc điểm kiến trúc đó giải thích các tính chất như: đẳng hướng quang học, không cát khai, độ cứng cao, tính bền hoá học.

    Các yếu tố đối xứng: 3L4, 4L3 6L29PC.


    Attached File  spinel00.gif   14.31K   0 downloads

    Mô hình cấu trúc của tinh thể spinen



    - Dạng tinh thể: Hay gặp dạng tinh thể tám mặt có các mặt bóng, một số tinh thể có các cạnh của mặt tám mặt bị cắt tạo 12 mặt và có song tinh trên bề mặt tạo ra những tam giác phẳng, kiểu kết hợp song tinh này gọi là “song tinh spinen”.


    Attached File  Spinel-1.jpg   4.1K   0 downloads

    Tinh thể spinen dạng bát diện


      
    3. Các tính chất vật lý và quang học

    3.1. Các tính chất vật lý:


    - Độ cứng: 8 (theo thang Mohs), nếu có F2O3 và Cr2O3 thì giảm xuống 7-7,5.

    - Cát khai và vết vỡ: Các khai không hoàn toàn theo mặt (111).

    - Vết vỡ dạng vỏ sò và dễ vỡ.

    - Tỷ trọng: Thay đổi từ 3,58 - 3,98. Nhưng loại đạt chấ lượng ngọc thì tỷ trọng thay đổi ít hơn từ 3,58 đến 3,61. Loại giầu Fe (ceylonit): 3,63 - 3,9; loại giầu Zn (gahnospinen) -4,06.

    - Điểm nóng chảy: 21350C.


    3.2. Các tính chất quang học:

    - Chiết suất và ánh: Chiết suất: 1,72, nhưng có một số chiết suất cao: Ceylonit tới 1,8; ganospinen -1,715 - 1,753.

    - Ánh: Thủy tinh

    - Màu sắc: MgAl2O4 tinh khiết thì không màu, tuy nhiên một lượng nhỏ các nguyên tố mang màu thay thế cho Mg hoặc Al sẽ tạo ra các màu sắc khác nhau.

    Spinen tìm thấy đủ các màu: màu đỏ máu, đỏ hoa hồng, nhưng phổ biến là màu nâu nhạt phớit đỏ, phớt tím hoặc phớt cam; lam nhạt, lam phớt tím; tím nhạt. spinen màu trắng tinh khiết chưa tìm thấy mà chúng thường có màu trắng phớt hồng và loại màu lục cũng thực sự hiếm.


    Attached File  Spinel-0.jpg   20.16K   0 downloadsAttached File  gah-2000.gif   10.63K   0 downloads

    Spinen hồng và một tinh thể spinen màu đen (gahnit)



    - Phổ hấp thụ: Loại màu đỏ cho vạch phổ rõ ràng ở vùng lục và vàng tại 540 mm. Đặc biệt loại màu đỏ khi quan sát dưới điều kiện tối ưu có thể thấy 10 vạch giống như phím đàn Organ: trong đó 686 và 675.


    Attached File  spinemn0.jpg   16.73K   0 downloads

    Phổ hấp thụ của spinen màu đỏ



    Màu lam: Có một dải mạnh có tâm ở 458 mm và một dải hẹp hơn ở 478.

    - Tính phát quang: Sự phát quang của spinen khác nhau đáng kể:

    Màu đỏ và màu hồng: đỏ sáng - mạnh dưới sóng dài, yếu hơn dưới sóng ngắn.

    Màu lam, màu nâu nhạt, nâu tím hầu như trơ dưới mọi bức xạ;

    Màu tím đỏ và tím hoa cà phát quang khác nhau dưới sóng dài, còn trợ dưới sóng ngắn.

    - Hiệu ứng quang học: Spinen cho hiệu ứng sao nhưng rất hiếm gặp. Có thể gặp sao 4 cánh và sao 6 cánh.



    4. Đặc điểm bao thể:

    Cũng giống như corindon, trong spinen có các bao thể tiền sinh, đồng sinh và hậu sinh. Các bao thể đồng sinh và tiền sinh thường là các bao thể rắn như: apatit, albit, zircon, dolomit, calxit, olivin, bao thể dạng vân tay... các bao thể hậu sinh gồm rutil dạng kim phân bố thành từng đám, bơmit và hematit.


    5. Các phương pháp xử lý và tổng hợp

    Spinen màu tím và màu hồng chuyển sang màu vàng ở nhiệt độ 10000C, nhưng có thể trở lại màu khi nguội lạnh. Màu xanh lam chuyển sang màu lục ở nhiệt độ 9000C và chuyển sang màu vàng ở 12000C và các màu này không bị trở lại màu cũ.

    Gần đây spinen màu đỏ phớt nâu đã làm tăng màu đỏ bằng cách xử lý tẩy đi thành phần màu nâu nhạt và giữ lại màu đỏ thuần khiết.

    Spinen được tổng hợp bằng phương pháp nóng chảy trong ngọn lửa “flame fusion”.


    6. Nguồn gốc và phân bố

    - Spinen chủ yếu có nguồn gốc biến chất và skarn. Loại có giá trị thương phẩm chủ yếu được khai thác trong kiểu nguồn gốc skarn. Ngoài ra spinen còn được tìm thấy trong đá greis, pegmatit, và các đá khác. Thông thường nó cộng sinh với corindon, manhetit, granat, pyroxen, clorit. Phần lớn spinen tìm thấy trong aluvi dạng cuội sỏi.

    Các mỏ chính bao gồm: Mỏ Mogok ở Miến Điện, spinen nằm trong aluvi ở các suối và trong đá vôi kết tinh.

    Mỏ Ceylan ở Sri Lanka, spinen tìm thấy chủ yếu ở dạng cuội với nhiều màu sắc, đặc biệt là màu lam nhạt và lam tối.

    Những mẫu spinen không đi cùng với ruby và saphia được tìm thấy ở Afganistan. Ngoài ra còn một số nước khác có spinen như Thái Lan, Úc, Braxin, Mỹ (mỏ New Jersey), Nga (Uran và Zabaican).


    Attached File  Spinel-2.jpg   72.08K   0 downloads

    Các khu vực phân bố spinen chủ yếu trên thế giới



    - Tại Việt Nam spinen được phát hiện nhiều đi cùng với ruby vùng Lục Yên, Tân Hương, Quỳ Châu. Tại mỏ Lục Yên phát hiện được các tinh thể spinen có kích thước lớn (hàng kg) trong đá hoa, tuy nhiên màu sắc của chúng thường không đẹp chỉ thích hợp làm mẫu sưu tập.


    Attached File  20840000.jpg   134.83K   0 downloads

    Spinen màu nâu đỏ cùng với humit trong đá hoa Lục Yên




    Spinen thường có mặt cùng ruby trong aluvi và trong đá hoa, trong các sản phẩm khai thác được ở khu mỏ An Phú thì spinen chiếm đến > 60%. Chúng có nguồn gốc biến chất, tìm thấy trong đá hoa kết tinh với các tinh thể có kích thước từ 1 mm đến 5 - 10 cm. Tuy nhiên trong các bồi tích đã gặp những tinh thể spinen lớn tới vài chục cm nhưng không đạt chất lượng ngọc, có thể chúng có nguồn gốc pegmatit.

    Spinen vùng Yên Bái tìm thấy rất nhiều màu sắc khác nhau từ đỏ tươi, đỏ nhạt, hồng, nâu hồng, nâu phớt tím, tím nhạt... Chúng thường có dạng tinh thể tám mặt hoàn chỉnh, dạng cuội tròn, mảnh vỡ sắc cạnh.


    Attached File  spinel15.jpg   23.29K   0 downloadsAttached File  spinemn0.jpg   16.73K   0 downloads

                    Tinh thể spinen trong đá hoa canxit và viên spinen đã chế tác



    7. Đá giả, đá tương tự, đá nhân tạo và cách nhận biết.

    7.1. Phân biệt với các đá tổng hợp


    - Spinen tổng hợp thường được nuôi cấy bằng phương pháp Vernuil với một lượng dư oxit Al2O3 làm cho dễ tăng trưởng hơn. Chúng có các đặc điểm sau:

    Độ cứng 7,5 - 8; tỷ trọng 3,63 - 3,64;

    Chiết suất: 1,728

    Dưới kính phân cực; tắt sáng từng phần (giả dị hướng)

    - Loại gahnit tổng hợp có chiết suất 1,82; tỷ trọng 4 - 4,6.

    Nguyên nhân tạo màu lam do coban; màu lục vàng và lục phớt vàng do Mn; màu lục tối do Cr.

    Phổ hấp thụ: màu lam -635, 580, 540 nm.

    Màu vàng và vàng phớt lục: 445, 422 nm.

    Màu đỏ: 684.

    Dưới kính lọc Chelsea có màu đỏ da cam do phổ hấp thụ của Co và đặc trưng lưỡng chiết suất bất thường.

    Ngoài ra một đặc điểm khác để phân biệt với spinen tự nhiên là trong spinen tổng hợp có chứa các bao thể khí.

    Tính phát quang: màu lam và màu lục cho màu đỏ - yếu dưới sóng dài và tia X còn dưới sóng ngắn yếu hơn hoặc trắng phớt lam, trắng phớt lục.

    Màu vàng, lam phớt vàng và lục phớt vàng cho màu lục vỏ táo dưới 3 bức xạ.

    7.2. Phân biệt với các đá tự nhiên khác

    Bảng dưới đây sẽ đưa ra các đá tự nhiên có thể nhầm với spinen, và dựa vào các đặc điểm của chúng để phân biệt.

      

    Các đá giống spinen và cách phân biệt

    Attached File  phanbiet.jpg   150.57K   0 downloads



    8. Mài cắt spinen

    Những viên spinen nhỏ thường được mài cắt kiểu hỗn hợp, còn những viên lớn có giá trị thường tạo dáng kiểu bậc thang để giữ được trọng lượng lớn nhất.

    Loại spinen có kích thước lớn nhưng nhiều khuyết tật thì dùng chạm khắc, còn những loại có kích thước quá nhỏ dùng làm tranh trang trí nghệ thuật.


    9. Chất lượng và giá cả

    Spinen có đủ những phẩm chất đẹp đẽ của loại đá quý, nhưng nó bị che lấp bởi vẻ đạp của ruby và saphia. Tuy vậy có màu sắc đẹp (đỏ tươi, xanh lam tươi) vẫn có giá trị đáng kể bởi nó được dùng để thay thế ruby và saphia trong bối cảnh ruby, saphia ngày càng hiếm và có giá trị cao.

    Loại spinen có giá trị cao nhất hiện nay là màu đỏ (không bị nhuốm sắc nâu) có giá trị giao động trong khoảng 600-1200$/cts cho loại 4-8cts/viên. Loại màu xanh lam và màu hồng giá trị thấp hơn chút ít, trong khoảng 300-800$/cts với cùng kích thước trên.


    Attached File  photo500.jpg   23.87K   0 downloads

    Viên spinen Miến Điện 11 cts


    Please Login or Register to see this Hidden Content

    Attached Files


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #18 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 03 September 2011 - 04:39 PM

    NGỌC TRAI


    Theo thừa nhận của hầu hết các nhà ngọc học và các phòng thí nghiệm trên thế giới thì chất lượng ngọc trai được quyết định bởi các yếu tố chủ yếu sau (hay còn gọi là tiêu chuẩn 2C, 4S). - Tiêu chuẩn 2C bao gồm: Color (màu sắc) và Coating (độ dày lớp xà cừ). - Tiêu chuẩn 4S bao gồm: Shape (hình dạng), Size (kích thước), Shine (độ bóng) và Spot (đốm, vết)


    Attached File  t3000000.jpg   15.45K   0 downloads

    Ngọc trai, nữ hoàng của biển cả



    1. Màu sắc:

           Do đặc điểm môi trường sống đa dạng và đặc điểm của các loài trai mang ngọc khác nhau mà hầu hết ngọc trai nuôi sau thu hoạch có màu sắc phong phú và đa dạng, thậm chí có những màu không phù hợp với thị hiếu tiêu thụ của con người, kể cả những viên ngọc có chất lượng cao có thể lên được hàng trang sức ngay sau khi thu hoạch không cần gia công. Màu sắc của hạt ngọc trai phụ thuộc vào loài trai sinh sản ra nó và vùng nước mà loài trai đó cư ngụ cũng như vào màu sắc của lớp conchiolin trên cùng. Nếu conchiolin phân bố không đồng đều, hạt trai sẽ có các vết đốm.

           Mầu sắc của hầu hết ngọc trai là kết quả của 2 thành phần riêng biệt: mầu bên trong hay màu nền (body color) và sắc mầu (overtone). Khi có mặt, sắc mầu sẽ phủ chồng lên màu nền. Mầu nền có thể dễ dàng phân biệt với sắc mầu bằng cách quan sát trong ánh sáng khuyếch tán dịu: Sắc mầu là mầu phản chiếu từ bề mặt của viên ngọc, còn phần còn lại sẽ là mầu nền. Sắc màu bao gồm các mầu hồng (rose), lơ và lục (càng về cuối càng ít được ưa chuộng).

           Dựa vào màu nền, ngọc trai có thể phân ra thành 3 nhóm chính: nhóm mầu nhạt, nhóm mầu đen và nhóm có mầu.



    a. Ngọc trai màu nhạt

           Trong nhóm này có những loại ngọc trai có mầu nền hồng, trắng hoặc màu kem. Tiếp đó chúng lại được phân nhỏ thành:

    - Hồng: Mầu nền hồng không kèm theo sắc mầu.

    - Hồng Rosé: Nền mầu hồng kèm theo sắc mầu rosé, cũng có thể kèm theo sắc mầu lơ hoặc lục.

    - Trắng: Mầu nền trắng hoặc gần như trắng không kèm theo một sắc mầu nào rõ rệt, thường là có chút phớt hồng, xám hoặc lơ.

    - Trắng rosé: Nền mầu trắng hoặc gần như trắng với sắc mầu rosé.

    - Kem: Mầu nền kem nhạt đến đậm không có sắc mầu.

    - Kem Rosé: Mầu nền kem kèm theo sắc mầu rosé. Loại ngọc trai này có giá hơn ngọc trai kèm không có sắc mầu rosé.

    - Ngọc trai đa màu: Luôn có 3 mầu. Mầu nền là mầu kem, sắc mầu là mầu rosé (mầu thứ hai). Mầu thứ 3 là sắc mầu khác, có thể là lơ hoặc lục.

           Trong nhóm ngọc trai nhạt mầu thì có giá nhất là hồng, hồng rosé và trắng rosé.


    Attached File  31990000.jpg   54.99K   0 downloads

    Ngọc trai màu trắng



    b. Ngọc trai đen

           Nhóm này gồm những loại ngọc trai đen thực sự cũng như những viên có mầu xám tối, ngoài ra còn cả các loại ngọc trai lơ tối, lơ lục tối, lục tối và ngọc trai mầu đồng với sắc mầu kim loại rõ ràng. Loại ngọc trai đắt tiền nhất của nhóm này là loại có mầu nền đen và có sắc mầu kim loại. Mầu phải đậm và đều, mầu nhạt giá thấp hơn nhiều.

    Loại ngọc trai đen thực thụ chỉ được hình thành ở loài trai môi đen và ở một số vùng biển nhất định. Các cố gắng để nuôi cấy loại ngọc trai đen từ trước đến nay đều chưa thu được thành công như mong muốn, và chỉ thu được loại ngọc có ánh thép nhạt.


    Attached File  49900000.jpg   10.07K   0 downloads
    Ngọc trai đen    

                                              

    Attached File  26990000.jpg   6.97K   0 downloads Ngọc trai màu



    c. Ngọc trai mầu

           Là những viên ngọc trai không thể xếp vào 2 nhóm trên, có mầu nền thuộc một gam mầu rõ ràng, thường là vàng, lục, lơ, tím hoặc xám (nhạt đến đậm). Những loại ngọc trai này thường là ngọc trai nước ngọt hơn là ngọc trai nước mặn.

           Hầu như đa số màu của các viên ngọc trai nuôi đều có màu trắng, nhưng bằng các quan sát kỹ có thể phân biệt được các sắc thái: hồng, bạc, kem, vàng đồng, lục, lam và đen. Các sắc màu vàng đồng, lam và đen thường dễ dàng nhận ra trong khi đó các sắc màu khác thường khó phân biệt với ánh sáng thường.

           Nguyên nhân xuất hiện các sắc màu khác nhau ở ngọc trai nuôi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như loài trai nuôi, môi trường sống, thức ăn,...Tuy nhiên với màu vàng đồng thì thường chỉ xuất hiện khi loài trai được nuôi ở vùng biển có tốc độ lên xuống của thuỷ triều nhanh.

           Các viên ngọc trai có màu trắng thuần khiết là tương đối hiếm mà chúng thường là sự pha trộn của các sắc màu bạc, hồng và màu kem. Sự xuất hiện của các sắc màu này phụ thuộc vào độ dày của lớp xà cừ, sự sắp xếp của các tinh thể aragonit và sự có mặt của các tác nhân tạo màu trên lớp xà cừ.



    Attached File  nhieu mau1.jpg   31.3K   0 downloads

    Các màu khác nhau của ngọc trai



    2. Độ dày lớp xà cừ

           Độ dày lớp xà cừ được quyết định bởi thời gian nuôi ngọc. Trong tự nhiện tốc độ phủ của lớp xà cừ thường là 0.15mm/năm ở các vùng biển lạnh. Tại các vùng biển nước ấm ở xích đạo tốc độ lớn của lớp xà cừ có thể lớn hơn gấp 20 lần (1.5-1.8mm/năm). Thông thường với ngọc trai nuôi thì người ta thu hoạch sau thời gian từ 6 tháng đến 12 tháng. Với khoảng thời gian đó thì lớp xà cừ của viên ngọc có thể đạt đến 2mm. Viên ngọc có lớp xà cừ càng dày thì có độ bóng càng cao, màu càng đẹp, độ bền lớn và từ đó mà có giá trị cao hơn so với loại có lớp xà cừ mỏng.



    3. Hình dạng

           Hình dạng của ngọc trai nuôi được quyết định bởi các yếu tố sau: nhân cấy, hình thức cấy và sự di chuyển của con trai trong quá trình nuôi.

    - Ngọc trai có nhân tròn: Thường là ngọc trai có hình tròn hoặc hơi tròn, ngọc cấy ở nội tạng và có thể cấy ở màng áo. Nhân cấy ngọc thường có hình tròn, thường làm từ vỏ một loài trai nước ngọt.

    - Ngọc trai có nhân bán nửa: Thường là hình bán cầu, hình giọt lệ, hình trái tim, hình elip, hình tượng phật,…Ngọc cấy ở ngoài màng áo tức là cấy trên mặt xà cừ vỏ trai. Nhân cấy ngọc đúc bằng nhựa có hình thù tương ứng với ngọc nêu trên.

    - Ngọc trai không có nhân: Thường là ngọc trai có những hình thù đa dạng khó xác định. Ngọc cấy bằng mô tế bào không có nhân cứng, nên bên trong trống và cấy ở màng áo trai nước ngọt. Hiện nay 99,9% ngọc trai nước ngọt Trung Quốc cấy không có nhân cứng, rỗng. Ngọc trai nuôi không nhân thường có hình dạng phong phú và thường có độ tròn đều không cao. Đa phần chúng có hình ovan, hình giọt nước và các hình thù kỳ dị (baroque). Thông thường với loại ngọc trai nuôi không nhân, khoảng sau 1-2 năm chúng có thể cho viên ngọc kích thước 6-8mm. Để có được những viên ngọc có hình dạng đẹp hơn, viên ngọc sau khi thu hoạch người ta lại tiếp tục dùng chúng làm nhân để cấy vào con trai khác cùng loài nhằm thu được các viên ngọc có hình dạng đẹp hơn.

           Để đánh giá chất lượng viên ngọc theo hình dạng người ta phân theo các tiêu chí sau:

    - Ngọc tròn: sai số             < 5%.

    - Ngọc hơi tròn: sai số  từ 5% - 10%.

    - Ngọc hơi dị hình, còn gọi là ngọc 1/2 baroque, có những sọc không quá 1/3 bề mặt viên ngọc, có thể quay trên một trục.

    - Ngọc dị hình: còn gọi là ngọc baroque, không thể quay trên một trục.

            Viên ngọc trai có giá trị cao nhất khi chúng có hình cầu đồng đều, tiếp theo là hình quả lê đối xứng, đến hình cúc áo và cuối cùng là hình baroque có giá trị thấp nhất. Các viên ngọc trai được làm theo hình tượng phật và các hình thù định hình khác thì có giá trị đặc biệt.


    Attached File  hinh dang.jpg   6.93K   0 downloads

    Các hình dạng của ngọc trai



    4. Kích thước

           Kích thước là yếu tố đặc biệt quan trọng quyết định đến giá trị của viên ngọc. Thang phân cấp chất lượng ngọc trai theo kích thước như sau:

    - Ngọc trai rất nhỏ khi có đường kính nhỏ hơn          3mm.

    - Nhỏ                                                 3-5mm

    - Trung bình                                                            5-7mm

    - Lớn                                                                     7-8mm

    - Rất lớn                                                                >8mm



           Kích thước viên ngọc trai nuôi được quyết định bởi kích thước của nhân cấy ban đầu và thời gian nuôi cũng như tốc độ tiết ngọc của con trai.



    Attached File  size.jpg   25.78K   0 downloads
    Kích thước của ngọc trai



    5. Độ bóng

           Do đặc điểm sinh trưởng của các lớp xà cừ trên bề mặt viên ngọc và đặc điểm tiết ngọc của con trai mà hầu hết ngọc trai nuôi sau thu hoạch thường có độ nhám hoặc gồ ghề không đều trên bề mặt, chưa có độ bóng cao đủ tiêu chuẩn để làm hàng trang sức trực tiếp. Độ nhám cao hoặc tính gồ ghề trên bề mặt có thể xuất phát từ bản chất của nhân cấy ban đầu có độ bóng không đều, hoặc độ tròn đều kém đã dẫn đến việc ưu tiên sinh trưởng ở những khu vực khác nhau trên bề mặt viên ngọc và làm cho viên ngọc có độ bóng không cao.

           Theo đánh giá của các chuyên gia và tổng kết từ các cơ sở nuôi cấy ngọc trai thì chỉ có khoảng 5% số ngọc trai nuôi sau thu hoạch là có thể sử dụng trực tiếp, số còn lại khoảng 95% đều phải qua các khâu xử lý khác nhau.


    6. Đặc điểm đốm, vết trên bề mặt

                Do đặc điểm môi trường sống và thức ăn để nuôi trai mà ngọc trai sau thu hoạch thường có các đốm, vết trên bề mặt. Trong quá trình viên ngọc sinh trưởng cũng vì một lý do nào đó mà xuất hiện các vật thể lạ kích thích trên bề mặt viên ngọc đang sinh trưởng sẽ dẫn đến hình thành các điểm ưu tiên phát triển và từ đó sẽ xuất hiện các đốm, vết. Tuỳ theo đặc điểm môi trường sống hoặc thức ăn các đốm này có thể có màu sắc giống với màu nền của viên ngọc hoặc có màu khác.


    Please Login or Register to see this Hidden Content


    Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kiểm định
    Đá quý và Vàng

    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #19 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 03 September 2011 - 04:56 PM

    HỔ PHÁCH (AMBER)


    Hổ phách là nhựa cây hoá thạch, nó có màu sắc và vẻ đẹp đặc trưng do vậy ngoài ý nghĩa khoa học về nghiên cứu cổ sinh nó còn được dùng làm các vật liệu trang trí hoặc đồ trang sức. Do đó, mặc dù chúng không phải là một loại khoáng vật nhưng người ta vẫn coi chúng như một loại đá quý.

    Attached File  a1180px-.jpg   6.91K   0 downloads

    Mặt dây bằng hổ phách



    1. Khái niệm:

    Hổ phách là một loại nhựa cây hoá thạch với thành phần chủ yếu là nhựa cây các loại và một số loại axit khác, thành phần hóa học của chúng thường là C10H16O cùng với H2S.


    Attached File  a2180px-.jpg   18.9K   0 downloadsAttached File  a3180px-.jpg   10.27K   0 downloads

    Nhựa cây chuẩn bị hoá đá (bên phải) và loại hổ phách thô (bên trái)



    Mặc dù hổ phách không phải là một loại khoáng vật nhưng người ta vẫn coi chúng như một loại đá quý, được dùng làm đồ trang sức, hoặc với mục đích trang trí.


                

    Attached File  a10180px.jpg   13.64K   0 downloads

                 Căn phòng hổ phách ở điện Kaliningrad  

                


    2. Tính chất:

    - Hổ phách thường trong suốt và có ánh nhựa.
    - Màu sắc: Hổ phách thường có nhiều màu khác nhau, nhưng màu phổ biến nhất là màu vàng nâu và màu đặc trưng này được gọi là màu “hổ phách”. Một số màu khác có thể gặp như màu vàng chanh, màu nâu, hoặc thậm chí là màu đen. Một số màu khác hiếm hơn như màu đỏ, màu lục, màu lam.


    Attached File  a9180px-.jpg   7.48K   0 downloadsAttached File  a8180px-.jpg   17.33K   0 downloads

    Hổ phách màu lam Dominica



    - Độ cứng: 2-2,5

    - Mềm ở khoảng 1500C nóng chảy ở 250 - 3000C.                                                              

    - Chiết suất: 1.54

    - Tỷ trọng: 1.08

    - Phát quang: trắng lục (sóng dài)

                        lục tươi (sóng ngắn)
    - Bao thể: Thường là côn trùng bị bẫy, rêu, cành cây hoặc lá cây, ...Khối hổ phách trong suốt bọc côn trùng thường có giá rất cao, ngoài ý nghĩa sưu tập nó còn có ý nghĩa đối với các nhà sinh vật học và địa chất học. Ngoài ra có thể gặp các bao thể pyrit dạng tinh thể.


    Attached File  Amber-00.jpg   18.92K   0 downloads

    Côn trùng được lưu giữ trong hổ phách


    Attached File  a61180px.jpg   9.39K   0 downloads

    Hoá thạch "kiến" trong hổ phách



    Một dạng bao thể khác cũng hay gặp trong hổ phách là các bao thể bọt khín hoặc các bao thể dạng starburst (có hoa văn hình đĩa mặt trời) chúng được hình thành do các ứng suất nén trong lòng đất.

    - Một số tính chất khác:

    + Tác dụng với nhiệt: Hổ phách thường bị mền ở nhiệt độ khoảng 150oC và nóng chảy ở nhiệt độ 250-300oC. Có thể dùng một que diêm để làm nóng chảy hổ phách và mùi bốc lên giống mùi hương.

    + Hổ phách rất nhạy cảm với axit, dung môi hoặc khí ga, với dung môi rượu hoặc thậm chí với cả nước hoa.

    + Hổ phách có tính dẫn điện yếu, nếu ta dùng viên hổ phách chà vào vải quần áo chúng sẽ nhiễm điện và có thể hút được các vật nhỏ.
    + Hổ phách lúc đầu được khai thác chúng thường có màu vàng sáng và khi để càng lâu thì màu của chúng càng trở nên tối hơn trở thành màu nâu đỏ.


    3. Nguồn gốc:

        Cho đến nay mẫu hổ phách cổ nhất được tìm thấy trong kỷ carbon (cách ngày nay khoảng 345 triệu năm). Mẫu hổ phách có chứa hoá thạch cổ nhất được tìm thấy là mẫu hổ phách trong kỷ creta (cách ngày nay khoảng 146 triệu năm).

        Hai nguồn cung cấp chính hổ phách trên thị trường là các quốc gia vùng Baltic và Cộng hòa Dominica.
        Hổ phách vùng Baltic thì cổ hơn nên được thị trường ưa chuộng, nhưng hổ phách ở Dominica thì lại nhiều xác côn trùng hơn.
        Trong vùng Baltic, mỏ hổ phách lớn nhất ở tây Kaliningrad thuộc Nga, ngoài ra còn tìm thấy hổ phách ở Lithuania, Estonia, Latvia, Ba Lan và Đức, thỉnh thoảng hổ phách lại trôi dạt vào bờ biển Baltic thuộc Đan Mạch và Na Uy.
        Các nguồn hổ phách khác ở các nước như Miến Điện, Liban, đảo Scicily, Mexico, Rumani và Canada.


    Attached File  amber-20.jpg   69.43K   0 downloads

    Các khu vực phát hiện hổ phách chủ yếu trên thế giới



    4. Các loại đá tương tự và cách phân biệt:

    - Copal (nhựa cây hoá thạch hiện đại): Từ nhựa của nhiều loại cây bị chôn vùi trong lòng đất với khoảng thời gian ngắn.

    Phân biệt:  + Các tính chất giống nhau

                      + Phản ứng với ete (Metylat ete): Sẽ bị mềm và hoà tan còn hổ phách thực thụ thì không.

                      + Phát quang dưới sóng ngắn.

    - Nhựa bakelit: (phenol fomandehit): rất giống hổ phách.

    + Tỷ trọng lớn hơn :1,26 sẽ chìm trong nước muối, hổ phách sẽ nổi trong nước muối.

    + Chiết suất cao hơn: 1,66


    - Nhựa celluloit: có chiết suất: 1.50

                + Tỷ trọng: 1.38

                + Phản ứng với axit sufuric (5%)

                + Phát quang trắng phớt vàng.


    - Thuỷ tinh: Thuỷ tinh vàng (màu do oxit urani), có tỷ trọng cao hơn.


    5. Bảo quản
        Hổ phách là loại đá quý mềm, độ cứng chỉ đạt 2 đến 2,5 trên thang Mohs. Không được cất nó chung với đồ kim hoàn để tránh bị trầy xước.
        Không bao giờ cho hổ phách tiếp xúc với nhiệt và hóa chất như keo xịt tóc hoặc nước hoa và cũng không nên rửa nó với máy siêu âm.
        Để làm sạch hổ phách, chỉ cần lau nhẹ nó bằng một miếng vải mềm thấm nước.

    Please Login or Register to see this Hidden Content


    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #20 PinkQuartz

    PinkQuartz

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 26 Bài viết:
    • Joined 14-February 11
  • Reputation: 3
    • Gender:Male
    • Đến từ:KHTN
    • Interests:Thích tất cả và thích đủ thứ ^^

    Posted 03 September 2011 - 07:39 PM

    Bác khoe hàng dữ thế. Kiểu này mấy pé khóa 2011 vào ngọc học hết sao, chừa phần cho các ngành khác nữa chứ :cuoinherang: :cuoinherang: :cuoinherang:
    Hòn đất mà biết nói năng
    Bà con Địa chất hết răng mất rồi... ^^

    Have a good life....

    #21 tranvannghi.geology

    tranvannghi.geology

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 25 Bài viết:
    • Joined 30-March 10
  • Reputation: 0
    • Gender:Male

    Posted 04 September 2011 - 11:37 PM

    Bác  ơi có tài liệu về cassiterite không ? Share cho em với :D

    #22 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 05 September 2011 - 12:43 AM

     tranvannghi.geology, on 04 September 2011 - 11:37 PM, said:

    Bác  ơi có tài liệu về cassiterite không ? Share cho em với :D

    Bạn cần tài liệu về khoáng vật Cassiterit thì đã có sẵn trong các giáo tình khoáng vật rồi. Còn nếu yêu cầu về đặc điểm ngọc học thì chắc để mình tìm lại. Có gấp lắm ko?

    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #23 tranvannghi.geology

    tranvannghi.geology

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 25 Bài viết:
    • Joined 30-March 10
  • Reputation: 0
    • Gender:Male

    Posted 05 September 2011 - 02:00 PM

    Em cảm ơn bác  , bác ơi có gì bác tìm giúp em nhá , hiện tại em chưa cần ngay nhưng thời gian tới em cần để chuẩn bị viết báo cáo .

    #24 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 05 September 2011 - 06:05 PM

    nếu vậy chắc là phải bạn phải chịu khó đợi khoảng 1/2 tháng nha. Mình sắp phải đi công tác ở Lâm Đồng rồi. Mình sẽ tìm cho bạn khi về nhà. Thông cảm nhé!

    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #25 tranvannghi.geology

    tranvannghi.geology

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 25 Bài viết:
    • Joined 30-March 10
  • Reputation: 0
    • Gender:Male

    Posted 05 September 2011 - 06:17 PM

    thank bác  , không vấn đề gì , chúc bác  đi công tác vui vẻ và thành công . Mà em nghe  nói là  con gái  ở lâm đồng  đẹp lắm  đó bác , hê hê .

    #26 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 05 September 2011 - 10:46 PM

     tranvannghi.geology, on 05 September 2011 - 06:17 PM, said:

    thank bác  , không vấn đề gì , chúc bác  đi công tác vui vẻ và thành công . Mà em nghe  nói là  con gái  ở lâm đồng  đẹp lắm  đó bác , hê hê .

    Bác nói thế thì sẽ nguy hiểm cho chính bác đấy. Lỡ có bề gì, vì con gái Lâm Đồng mà mình ko về được TP thì coi như bác cũng ko có tài liệu luôn đấy. hehehe ở đó mà dụ ta à?

    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #27 tranvannghi.geology

    tranvannghi.geology

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 25 Bài viết:
    • Joined 30-March 10
  • Reputation: 0
    • Gender:Male

    Posted 06 September 2011 - 05:32 PM

    haha

    #28 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 06 October 2011 - 11:53 PM

     tranvannghi.geology, on 04 September 2011 - 11:37 PM, said:

    Bác  ơi có tài liệu về cassiterite không ? Share cho em với :D

    Hàng về đây:  

    Please Login or Register to see this Hidden Content

    => cái này thì có nhiều thông tin để xem, quan trọng thì có hình ảnh 3D của mô hình kiến trúc tinh thể hẳn hoi, cần j thì cứ dùng soft nào ấy quay lại rồi sử dụng tùy mục đích => chịu khó dịch tiếng Anh nhé.

    Hình ảnh thì chịu khó hỏi anh Google nhé.

    chúc thành công!

    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image


    #29 newbie

    newbie

      Quản lý Box HCMUS SPE Student Chapter

    • Điều hành
    • 84 Bài viết:
    • Joined 29-August 08
  • Reputation: 5
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH Khoa Học Tự Nhiên TP.HCM

    Posted 07 October 2011 - 07:27 AM

    sắp tới sẽ tung ra 1 số Amethys mới được lấy về hehe sắp rồi ;))

    LET'S ROCK IT !!!



    ROCK MAKES THE EARTH MORE MYSTERIOUS!!!


    #30 AMETHYST

    AMETHYST

      Quản lý Box Khoáng sản và quản lý chung

    • Quản trị
    • 1,025 Bài viết:
    • Joined 09-October 08
  • Reputation: 168
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:ĐH KHTN TPHCM

    Posted 07 October 2011 - 08:30 AM

     newbie, on 07 October 2011 - 07:27 AM, said:

    sắp tới sẽ tung ra 1 số Amethys mới được lấy về hehe sắp rồi ;))

    Là sao? chú anh cạnh tranh hay mang thêm những bản sao của anh về thế? ehehe khi nào có thì show hàng ra đi nào!

    NGƯỜI ĐI TÌM NGỌC



    Posted Image




    Bài viết tương tự Collapse