Jump to content


Dầu lửa và chiến tranh


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
No replies to this topic

#1 anhdep

anhdep

    Intermediate Member

  • Thành viên
  • PipPipPip
  • 115 Bài viết:
  • Joined 14-July 08
  • Reputation: 14

    Posted 24 June 2011 - 08:17 AM

    Dầu lửa và chiến tranh

    Dầu lửa ngày nay là nguồn năng lượng được sử dụng  nhiều nhất trên thế giới. Chính vì vậy, nó đã và đang trở thành vấn đề  nóng bỏng toàn cầu, do giá cả leo thang, nguồn cung cấp không ổn định,  sự tranh chấp giữa các quốc gia… Lịch sử thế giới với các cuộc chiến  tranh gắn liền với nguồn năng lượng này như thế nào?

                              
    Thế kỉ 19 - thế kỉ của vàng đen


      Vào thời xa xưa, theo giải thích  của Strabon, người Babylon đã sử dụng nhựa đường nấu chảy làm dầu để  đốt. Và ở Roma, người ta nghĩ rằng đó là một phương thuốc để chữa trị  một vài loại bệnh tật như bệnh thấp khớp, hen suyễn và bệnh động kinh.  Người Bi-zan-xơ lại dùng dầu mỏ để làm thuốc hoả công. Loại vũ khí này  đã giúp họ đánh lại kẻ thù, cứu nguy cho thành phố nhiều lần.

      Tuy nhiên, vào thời kì đó, loại  “vàng đen” này chỉ được sử dụng ở một vài khu vực chứ chưa có xu hướng  phổ biến toàn cầu như hiện nay, và người ta cũng quên mất sự tồn tại của  nó trong nhiều khu hầm mỏ.

      Như vậy, ngay từ thời kì đầu tiên,  dầu mỏ đã được dùng làm chất đốt, tuy nhiên, người ta chỉ sử dụng lớp  mỏng trên bề mặt. Đến thế kỉ 18, những nhà thám hiểm người Anh khi đến  Bakou đã tỏ ra quan tâm tới một chất có thể cháy được khi họ đào đất và  khiến chất này chảy ra ngoài. Họ thấy rằng ngọn lửa cháy mạnh hay yếu  phụ thuộc vào chiều sâu của cái lỗ họ đào. Lỗ càng sâu, ngọn lửa cháy  càng mạnh…

           Posted Image  
             Posted Image                                  
    Ảnh trên: Mỏ dầu đầu tiên trên thế giới được tìm thấy ở gần thành phố Titusville, Pennsylvania, 1863. Ảnh dưới: Một nhà máy dầu ở  Cap Bon, Tunisia
    Ảnh nguồn: chemistryexplained.com)


    Tuy nhiên, dầu lửa - được gọi là “vàng đen” -  chỉ thực sự ghi tên mình vào lịch sử khi nó phát lộ ra ở Titusville  (Pennsylvanie) ngày 27/8/1859. Lúc đầu, luật gia George Bissel ở New  York, James Townsend, chủ ngân hàng ở New Have, Benjamin Sillman, giáo  viên vùng Yale và Edwin Drake, một nhà thám hiểm, đã đưa ra giả thuyết  rằng chất đốt, sản phẩm mới chỉ được sử dụng trong ngành công nghiệp, có  thể dùng để thắp sáng.

    Sau đó, với các mũi khoan thăm dò của Rock Oil Co., dầu lửa bắt đầu được  sản xuất ngày càng nhiều. Và cũng từ đó, đèn dầu dần thay thế cho nến  trong việc thắp sáng, trước khi nó bị thay thế bởi đèn điện sau này.

    Trong 30 năm sau đó, dầu mỏ chủ yếu chỉ được dùng để thắp sáng. 11 năm  sau mũi khoan đầu tiên ở Titusville, (100 000 tấn dầu năm 1962), John D.  Rockefeller đã đứng ra thành lập công ty Standard Oil.

    Năm 1882, thời điểm mà các công ty đường sắt chiếm lĩnh và có ảnh hưởng  lớn tới thị trường Mỹ, Standard Oil trở thành tơrơt thống trị tất cả mỏ  dầu của Mỹ với hệ thống đường ống dẫn dầu của riêng mình và 39 công ty  lọc dầu. Tuy nhiên, năm 1911, Toà án Tối cao Hoa Kì đã ra quyết định  chia tách công ty thành khoảng 30 chi nhánh độc lập theo hình thức tự do  đấu thầu.
      Vào cuối thế kỉ 19, nhờ ứng dụng  rộng rãi của động cơ nổ, ngành khai thác dầu mỏ đã có bước nhảy vọt  quyết định. Nhanh chóng, dầu diesel được sử dụng làm nhiên liệu cho các  phương tiện có tải trọng lớn và tàu thuỷ.

    Thị trường chất hydrocarbure lớn mạnh trên toàn thế giới. Mặc dù, với  diện tích rộng lớn, dân số đông và luôn được trẻ hoá, có nhiều khu vực  khai thác lớn, Mỹ có thế mạnh vượt trội, nhưng lúc đó cũng không còn là  được độc quyền trong lĩnh vực này.


      Dầu lửa - lá bài chiến lược

      Từ đầu thế kỉ 20, dầu lửa đã trở thành lá bài chiến lược trong chính sách của rất nhiều quốc gia.

      Trước khi chiến tranh thế giới lần  thứ nhất nổ ra, các cường quốc Châu Âu quan tâm ngày càng nhiều hơn đến  “vàng đen”. Rothschild (Anh) và Nobel (Thuỵ Điển) chiến đấu tranh giành  nhau sự kiểm soát các vỉa dầu ở Bakou (Nga);

    Hai công ty Shell của Marcus Samuel (người Anh) và Royal Dutch của  Deterding (người Phần Lan) nhanh chóng trở thành các đối thủ cạnh tranh  với Standard Oil. Khu vực hoạt động của họ là vùng Bornéo và Sumatra.

    Hai công ty này đã hợp nhất vào năm 1907. Gulbenkian, một doanh nhân Mỹ,  năm 1902 trở thành ông chủ của Sa Gracieuse Majeste, cũng quan tâm đến  dầu mỏ ở Mossoul. Năm 1861, sản xuất dầu lửa, trước đó chỉ giới hạn ở  Pennsylvanie, đã đạt 67 000 tấn, tăng lên 4 triệu tấn năm 1880, 10 triệu  tấn năm 1890.

    Công suất khai thác vượt 21 triệu tấn năm 1900, rồi 44 triệu năm 1910 và  50 triệu năm 1913. Sản xuất và khai thác của Mỹ chiếm 2/3 sản lượng  toàn thế giới. Nga chiếm vị trí thứ 2 với 10 triệu tấn năm 1900.

    Tiếp sau đó là Mêxicô, Venezuela, Rumani, Insulinde, Achentina, Pêru…  nhưng số lượng không đáng kể. Thời kì này, các khu vực dự trữ dầu mỏ của  đế chế Thổ Nhĩ Kì cũng thu hút sự chú ý của các công ty lớn.

    Mỹ là nước công nghiệp duy nhất tự mình đáp ứng đủ nhu cầu về dầu lửa.  Còn các cường quốc khác phải nhập khẩu số lượng lớn. Mức tiêu thụ dầu  lửa nhanh chóng vượt qua mức tiêu thụ than đá với sự phát triển của  ngành công nghiệp ôtô, hàng không, tàu thuỷ, nhu cầu sưởi ấm và sau này  là ngành công nghiệp hoá dầu.


      Bước vào đầu thế kỉ 20, các nước  công nghiệp lớn phải tìm cách làm sao sở hữu được các nguồn tài nguyên  dầu mỏ. Và như vậy, đằng sau các công ty lớn là các nhà nước. Ví dụ  trường hợp ở Mesopotamie, cả Đức, Pháp và Anh đều có bước chuẩn bị cho  một việc khai thác trong tương lai nguồn tài nguyên dưới lòng đất.

    Trước tiên, vào năm 1903, người Đức đã đạt được thoả thuận xây dựng  tuyến đường sắt giữa Constantinople và Bagdad (đoạn mang tên BBB -  Berlin, Byzance, Bagdad). Như vậy, đồng thời họ cũng có thể tiến hành  khai thác dầu mỏ khu vực 20 km xung quanh tuyến đường sắt. Đến năm 1914,  tuyến đường đã kéo dài đến Mossoul…

    Nhưng năm 1909, người Anh bắt đầu can thiệp. Persian Oil Company của Anh  đã nắm được quyền kiểm soát nguồn dầu lửa của Iran. 3 năm đầu, chính  quyền Thổ Nhĩ Kì cũng chấp nhận việc người Anh kiểm soát 75 % Turkish  Petroleum Company.

    Tuy nhiên, Foreign Office, một công ty khác hoạt động trong lĩnh vực này  cũng không chịu ngồi yên, họ đã ngăn cản cả phía Đức và phía Mỹ. Biết  rằng, Standard Oil cũng đã đề nghị Thổ Nhĩ Kì một khoản tín dụng và phân  chia lợi nhuận để được độc chiếm nguồn dầu mỏ của quốc gia này.


      Chiến tranh thế giới lần thứ nhất  nổ ra và nhu cầu về dầu lửa tăng lên nhanh chóng. Các loại vũ khí như xe  tăng, tàu chiến, tàu ngầm, máy bay ngốn nhiên liệu như xăng, dầu marút,  dầu hoả một cách khủng khiếp. Hãy thử ước tính, vào năm 1918, các nước  đồng minh sở hữu 7 000 máy bay và số máy bay này ngốn bao nhiêu nhiên  liệu cho các hoạt động chiến trường!

    Theo Clemenceau, dầu lửa “cần thiết như máu” vậy. Nó trở thành nhân tố  thiết yếu trong các trận chiến đấu của chiến tranh hiện đại. Tuy nhiên,  vấn đề lại nằm ở sự tiếp tế, bởi vì chỉ Mỹ và Liên Xô là có khả năng tự  cung tự cấp đủ…


      Dầu lửa trong thế chiến 2

      Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, 3 cường quốc Châu Âu đã bị đặt ra ngoài cuộc đua là Đức, Nga và Áo Hung.

    Do đó, Vương quốc Anh và Pháp là hai quốc gia giành được quyền kiểm soát  các mỏ dầu của khu vực Trung Đông. Các hiệp định Sykes-Picot phân chia  ảnh hưởng và quyền khai thác khu vực giữa vịnh Persique, Viễn Đông của  Sinai và nam Anatolie, vẫn nằm dưới sự kiểm soát của Thổ Nhĩ Kì.

    Pháp lấy lại tỉnh Mossoul, khu vực mà sự phong phú nguồn tài nguyên này  còn chưa được thăm dò hết. Đến cuối năm 1918, Clemenceau chấp nhận  nhượng lại Mossoul cho Lloyd George (Anh), đổi lại, Pháp sẽ nắm quyền  kiểm soát Syrie trong tương lai. Anh chiếm giữ không chỉ Mossoul mà còn  cả Irak, với hai công ty Anglo-Persin và Royal Dutch Shell thuộc Turkish  Petroleum Co. (trở thành Iraq Petroleum Co. sau năm 1929).

    Luân Đôn cũng chia sẻ nguồn vốn của mình cho phía Mỹ (1/4) và cho một  Công ty dầu lửa của Pháp. Anh đã thành công trong việc chiếm hữu nguồn  dầu mỏ của Irak, nhưng với những vỉa dầu khác, họ không làm được như  vậy. Công ty của Anh đã phải cạnh tranh với các công ty của Mỹ, như  Standard Oil ở California, Gulf Oil Corporation và Texas Oil.

    Các công ty này, không muốn khai thác cạn kiệt các nguồn dầu mỏ trong  nước, nên bắt đầu nhòm ngó các mỏ dầu của Arabie, trong vịnh Persique.  Cho đến thời điểm trước thế chiến 2, Mỹ là cường quốc có số lượng khai  thác dầu mỏ lớn nhất thế giới với hơn 160 triệu tấn dầu (so với 60 triệu  năm 1920), chiếm 60 % lượng dầu thô trên thế giới và hơn 12 % dầu tinh  chế do các công ty dầu mỏ của Mỹ có trụ sở đặt ở nước ngoài.

    Chỉ tính riêng Standard Oil ở New Jersey, công ty phát triển sau tơrớt  năm 1911, đã chiếm tới 15 % tổng số lượng khai thác toàn cầu, với 8 000  km đường ống dẫn dầu, 150 000 tấn dầu thô mỗi ngày và 200 tàu chở dầu.  Royal Dutch Shell, với thị phần Châu Âu, và đặc biệt là Anh, có thể cạnh  tranh được với các công ty Mỹ.

    Các công ty đều đặt dưới sự kiểm soát của Deterding, một doanh nhân  người Hà Lan theo Đức quốc xã, và là ông chủ của Shell. Vào thời điểm  đó, toàn thế giới có 45 triệu xe hơi và một nửa số tàu thương mại hoạt  động với nồi hơi đốt hay sử dụng dầu diesel. Ngành công nghiệp hoá dầu  sản xuất phẩm màu, nhựa, dệt may, cao su tổng hợp… cũng phát triển mạnh  mẽ.


      Trong suốt thế chiến thứ 2, dầu  lửa đóng vai trò quan trọng. Trận chiến ở Tây Ban Nha đã cho thấy vai  trò quan trọng của xe thiết giáp và máy bay. Nhưng cũng vì thế mà cần  phải có các nguồn dự trữ chất đốt đầy đủ…

    Đức hay Nhật Bản không thể tự cung cấp đủ. Để giải quyết vấn đề, phát  xít Đức tiến hành chiến tranh chớp nhoáng, nhanh chóng chiếm các khu vực  sản xuất dầu lửa. Như vậy, có thể nói chính dầu mỏ đã ảnh hưởng đến  chiến lược của Hitler. Trên đường tiến công, Hitler chiếm giữ các cơ sở  sản xuất dầu của Ploiesti, ở Rumani.


      Nhưng trong cuộc chiến với Liên  Xô, Đức quốc xã gặp phải giá lạnh giữa mùa đông. Xăng đông lại ở -300,  trong khi tiếp tế lại rất bấp bênh trong những khu vực rộng mênh mông và  hoang vu. Và thế là chiến lược phải thay đổi, quân Đức chuyển hướng tới  Caucase và khu vực Trung Đông. Năm 1943, Von Paulus phải đầu hàng ở  Stalingrad.

      Ở Châu Phi, quân Đức cũng gặp phải  vấn đề về chất đốt. Do thiếu xăng, các đơn vị không thể tiến lên được,  bị dồn lại ở sa mạc. Ngay cả ở vùng Ardennes, quân Đức cũng bị thiếu  nguồn nhiên liệu. Nhiên liệu đã chẳng còn đủ để có thể tiến hành một  cuộc chiến tranh kéo dài.

    Quân đồng minh không gặp phải vấn đề này, ngay cả khi cần phải chuyển  nhiên liệu tới các mặt trận khác nhau. Có thể thấy, trận chiến ở Đại Tây  Dương luôn có các U-Bootes và các tàu chở dầu đi theo… Một lần nữa,  chiến thắng trở về với quân đồng minh dù cái giá tổn thất quá nặng nề.


      Chiến tranh lạnh và dầu lửa

      Thế chiến 2 đã cho thấy tầm quan  trọng của dầu lửa. Chính nhờ kiểm soát nguồn dầu lửa mà quân đồng minh  có ưu thế giành chiến thắng. Sau năm 1946, hai siêu cường thế giới bắt  đầu tìm cách sở hữu nguồn tài nguyên giàu có này. Iran, nhà sản xuất dầu  lớn thứ 3 thế giới đã được Liên Xô giúp đỡ và thành lập một công ty  liên doanh hoạt động trong lĩnh vực khai thác dầu mỏ; Liên Xô chiếm 51 %  tổng vốn.

    Tuy nhiên, Mỹ và Anh đã can thiệp, tổ chức các cuộc nổi dậy dẫn đến việc  hiệp định bị huỷ bỏ. Năm 1951, Dr Mossadegh tác động vào Nghị viện nhất  trí bỏ phiếu thông qua việc quốc hữu hoá tài sản của Anglo-Iranian.

    Thủ tướng Churchill, tỏ ra không hài lòng, đã đưa vấn đề ra Hội đồng bảo  an Liên Hiệp Quốc và đe doạ can thiệp quân sự đối với Iran. Năm 1953,  CIA tổ chức một cuộc nổi dậy của dân chúng và Mossadegh bị cách chức và  tống giam.

    Như vậy, phương tây đã luôn tìm cách kiểm soát các mỏ dầu ở khu vực nhạy  cảm nhất thế giới này. Iran là chủ sở hữu chính thức các mỏ dầu, nhưng  lại phải giao cho phương tây khai thác trong 25 năm, thông qua một  côngxooctiom quốc tế mà Mỹ sở hữu 40%.


      Ở Arabie Saoudite, Mỹ kiểm soát  một cách kín đáo hơn, thông qua Aramco, bao gồm các công ty dầu mỏ lớn  của Mỹ như Socony, Texaco, Standard ở Calofornia hay ở New Jersey…

    Các công ty này xây dựng nhiều km đường ống dẫn dầu, trang bị cầu cảng  hiện đại để có thể đón nhận các tàu chở dầu cỡ lớn. Nhờ đó, năng suất  khai thác dầu của khu vực Trung Đông bùng nổ, từ 53 triệu tấn năm 1950  đến 500 triệu tấn năm 1970.

    Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng Suez, sự phá hoại các đường ống dẫn dầu của  Iraq Petroleum, đã ảnh hưởng đến vai trò của các nước Châu Âu trong khu  vực. Và như vậy, Anh chỉ có thể có tầm ảnh hưởng lớn thứ hai, còn Pháp  thì đã bị đặt ra ngoài cuộc đua.


      Thời kì này, dầu lửa trở nên vô  cùng thiết yếu, đặc biệt với Mỹ. Từ lâu, người ta đã đặt giả thuyết về  nguyên nhân sự tăng trưởng của các nước giàu, đó là do giá dầu đặc biệt  thấp. Giá dầu lại bị áp đặt bởi các công ty lớn của các nước nhập khẩu  dầu.

    Giá một thùng dầu thô (159 lít) ở mức 1,20 đôla năm 1900, 1,10 năm 1914,  chênh lệch giữa 1,20 và 1,70 vào thời kì đầu chiến tranh lạnh và dưới 2  đôla trong suốt những năm 1960. Nguồn dầu lửa được kiểm soát bởi 7 “ông  lớn” - những công ty lớn độc quyền về dầu mỏ, và 10 năm sau, những công  ty này đã chiếm 60 % lượng “vàng đen” tinh chế, sản xuất 1200 triệu tấn  dầu, và có doanh thu toàn cầu đạt 67,5 tỉ đôla.

    Và như vậy, tự các doanh nghiệp lớn làm luật cho riêng mình. Các nước  sản xuất dầu hầu như chẳng nhận được gì từ khoản doanh thu khổng lồ  trên. Sử dụng nguồn nhiên liệu giá rẻ đã giúp cho các nước phương Bắc  phát triển mạnh mẽ.

    Ngân sách các nước này có nguồn thu không nhỏ từ thuế nhập khẩu dầu và  thuế tiêu thụ nhiên liệu. Như vậy, dầu lửa chính là động lực phát triển  của các nước công nghiệp, nhưng cũng là sự lãng phí tài nguyên và khai  thác kiệt quệ ở các nước xuất khẩu.


      Tuy nhiên, một cường quốc phát  triển dựa trên nguồn năng lượng dầu mỏ sẽ không có nền tảng vững chắc.  Các nước phát triển tiêu thụ 71 % năng lượng năm 1970, so với 38 % năm  1950. Khi mà “các nước giàu chế ngự các nước nghèo” thì tất cả đều nằm  trong trật tự, nhưng các nước sản xuất cũng không thể để cho nguồn tài  nguyên nước mình bị khai thác kiệt quệ…

    Sau cuộc khủng hoảng Suez, Pháp và Anh hiểu rằng sử dụng vũ lực cũng  không giải quyết được vấn đề gì. Nhưng với Mỹ lại khác! 10 000 quân đã  được đưa đến Beyrouth cùng với hạm đội trang bị vũ khí hạt nhân đã đủ để  chứng tỏ sức mạnh của người Mỹ.


      Tuy nhiên, để đương đầu với các  “ông lớn” của ngành công nghiệp dầu mỏ, năm 1960, OPEC được thành lập.  Tổ chức các nước xuất khẩu dầu (OPEC) lúc đầu bao gồm Vênêzuêla, Arập  Xếut, Iran, Irak và Koweit, sau đó có thêm Quatar, Libye, Abu Dhabi,  Equateur, Nigeria, Inđônêsia và Gabon tham gia. 13 nước OPEC kiểm soát  85 % xuất khẩu dầu toàn cầu vào đầu những năm 1970.

      Các cuộc chiến của OPEC

      Mục tiêu đầu tiên của OPEC là đảm  bảo lợi nhuận của các nước sản xuất dầu bằng cách thống nhất chính sách  về dầu lửa. Hiệp ước của Tổ chức đã được kí kết giữa các nước thành viên  năm 1962.

      Trong 10 năm đầu tiên, đó là thời  gian đấu tranh giữa OPEC và các công ty dầu lửa. OPEC muốn ổn định mức  giá niêm yết và tăng khoản hoàn trả định kì của các công ty và tiền  thuế.  Để thực hiện điều này, OPEC đã gia tăng kiểm soát các mỏ dầu của  mình và chỉ cho phép các nước sản xuất dầu khai thác trực tiếp.

    Đầu những năm 1970, một thay đổi lớn đã diễn ra khi Hội nghị lần thứ 21  của Tổ chức OPEC quyết định ấn định 55 % hoa lợi (tiền thuê của một công  ty dầu lửa trả cho các nước bị khai thác dầu hay có đường ống dẫn dầu  chạy qua).

    Các công ty đã phải chấp nhận tăng giá và xem xét lại giá cả theo quy  luật thị trường quốc tế sau khi Hiệp định Teheran và Tripoli được kí  (tháng 2 và tháng 4 năm 1971). Đi xa hơn, OPEC cố gắng giành lại cho các  nước thành viên quyền sở hữu đầy đủ các nguồn dầu mỏ.

    Tháng 2/1971, Houari ra quyết định Algerie phải chiếm phần lớn trong các  công ty dầu lửa của Pháp hoạt động ở Algerie, đồng thời, các đường ống  dẫn dầu và mỏ khai thác dầu được tuyên bố thuộc quyền sở hữu của Nhà  nước.


      Chính quyền Bagdad cũng tiếp bước  khi tiến hành quốc hữu hoá Iraq Petroleum, và Kadhafi cũng tuyên bố nhà  nước Lybie trở thành chủ sở hữu 51 % các doanh nghiệp hoạt động ở Lybie.  Ở các nước mà giới doanh nghiệp còn cố “gỡ gạc” quyền lợi cho mình, các  hợp đồng khai thác cũng được kí kết lại theo hình thức khác.

    Và như vậy, các công ty nước ngoài chỉ tham gia khai thác theo hình thức  công ty liên doanh giữa nhà nước và công ty theo % sở hữu. Đây thực sự  là một quá trình phi thực dân hoá nguồn dầu mỏ.


      Cuối năm 1973, khi cuộc chiến  Kippour đang diễn ra, các nước Arập, bao gồm Arập Xêút, Koweit, Irak,  Iran, Abu Dhabi và Quatar, đã quyết định tăng 70 % giá dầu thô niêm yết.  Trong 2 tháng sau đó, giá dầu đã tăng từ 3 lên 11,65 đôla/thùng.

    Ngày 18/10/1973, cũng vẫn các nước trên (trừ Iran), là thành viên Tổ  chức Arập các nước xuất khẩu dầu đã xác định vàng đen cũng có thể trở  thành một vũ khí chính trị. Các nước này đã giảm sản xuất 5 %/tháng, và  cộng đồng quốc tế đã có phản ứng tức thì. Cộng đồng quốc tế không ép  buộc Israel phải rút khỏi các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng năm 1967 và  người Palestin cũng không được khôi phục quyền lợi của họ.

    Đó là thắng lợi của Israel, nhưng sau đó, các nước Arập tuyên bố cấm vận  với Mỹ, người luôn ủng hộ cho Israel. Biện pháp cấm vận cũng nhanh  chóng được áp dụng đối với Hà Lan, Bồ Đào Nha, Rhodesie và Nam Phi. Cuộc  chiến Kippour đã tạo cơ hội cho các nước thành viên OPEC quan trọng hoá  vấn đề năng lượng và đã đạt được mục tiêu tăng giá và lật đổ các công  ty dầu lửa lớn.

    Như vậy, khủng hoảng kinh tế đã xảy ra và các quyết định của OPEC càng  thúc đẩy tiến trình đó, đồng thời cũng càng ngày càng có ảnh hưởng đến  toàn thế giới. Nhưng Mỹ, tuy bị ảnh hưởng bởi cấm vận kéo dài đến năm  1974, lại không bị tác động nhiều. Các nước OPEC vẫn không thể kiểm soát  được điểm cập bến của các tàu chở dầu.

    Nhập khẩu dầu từ các nước vùng Vịnh chỉ chiếm 6 % nhu cầu của Mỹ và việc  tăng giá dầu thô vẫn do Mỹ điều khiển. Cấm vận đối với Mỹ càng làm tăng  cường vị thế của Mỹ trong số các nước tư bản, đồng thời lại làm suy yếu  các nước Châu Âu và Nhật Bản.

    Chính điều đó đã giúp cho các ngành sản xuất trong nước phải cạnh tranh  nhiều hơn và thúc đẩy việc tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế như  than đá, năng lượng hạt nhân…


      Cuộc khủng hoảng năng lượng lần  thứ 2 (sau chiến tranh Iran – Irak) đã khiến cho nhiều nước muốn ổn định  giá cả và kìm hãm sự cạn kiệt các nguồn dầu mỏ trên thế giới. Câu lạc  bộ Roma, vào năm 1972, đã cảnh báo nguy cơ khủng hoảng nền kinh tế toàn  cầu nếu chỉ dựa hoàn toàn vào dầu lửa.

    Như vậy, sau hai cuộc khủng hoảng năng lượng liên quan đến dầu mỏ, người  ta mới nghĩ đến việc cần phải hãm lại việc khai thác cạn kiệt các nguồn  tài nguyên dầu mỏ trên thế giới. Đồng thời, các quốc gia cũng phải phát  triển và tìm kiếm các nguồn năng lượng thay thế.

    Pháp hiện nay đã dựa chủ yếu vào nguồn năng lượng hạt nhân. Ở biển Bắc,  Mêxicô, Angola, Alaska, nhiều mỏ dầu mới cũng bắt đầu đi vào khai thác.  Nếu như vậy thì OPEC cũng khó có thể gây ảnh hưởng nhiều và Mỹ sẽ vẫn  giành chiến thắng trong cuộc chiến dầu lửa.


      Chiến tranh dầu lửa hiện nay

      Vào thời kì cuối chiến tranh lạnh,  Liên Xô đã tìm cách thâm nhập Đông Phi, Yemen và Afghanistan để có thể  kiểm soát các con đường dầu mỏ. Điều đó sẽ giúp cho Liên Xô có được  nhiều thuận lợi trong trường hợp chiến tranh xảy ra. Nhưng kết thúc  chiến tranh lạnh là sự sụp đổ của nhà nước Xô Viết.

      Sản xuất của nước Nga sau này chỉ  bằng một nửa Liên Xô, nguyên nhân một phần do Nga còn bám riết  Tchetchenie. Với nước Nga hiện nay cần phải có thời gian để khôi phục  lại sức mạnh. Nga đã có tiếng nói nhất định và đang dần khôi phục được  địa vị của một cường quốc trên bản đồ địa chính trị thế giới. Điều này  đạt được có đóng góp một phần không nhỏ của các nguồn cung cấp dầu mỏ và  khí đốt, bởi hiện nay châu Âu vẫn phụ thuộc rất nhiều vào Nga về mặt  này.

    Trung Quốc là một nước đang phát triển mạnh mẽ với tốc độ tăng trưởng  luôn ở mức trên 11 %, nhưng cũng mới chỉ là đối thủ tiềm tàng của Mỹ  trong tương lai. Để đảm bảo cho sự phát triển của mình, Trung Quốc hiện  đang khát dầu hơn bao giờ hết. Còn Châu Âu, đây là cường quốc về kinh tế  nhưng lại thấp kém về mặt quân sự.


      Chính trong bối cảnh thế giới như  vậy mà Mỹ đã muốn áp đặt sự thống trị của mình, nhân danh tự do, dân chủ  và nhân quyền, mà che giấu sau đó là những âm mưu, toan tính cho những  lợi ích riêng của mình. Mỹ luôn muốn xây dựng một thế giới đơn cực, và  mục tiêu trước hết để đạt được điều đó là phải nắm giữ những vị trí  chiến lược quan trọng cùng các mỏ dầu lớn của thế giới.

    Năm 1991, cuộc chiến tranh vùng Vịnh lần 1 đã làm kiệt quệ hoàn toàn đất  nước Irak; và 13 năm sau, Tổng thống Bush, bất chấp quan điểm của Hội  đồng bảo an Liên Hiệp Quốc, quyết định tấn công lật đổ Saddam Hussein.  Ngay trong lòng nước Mỹ, các cuộc biểu tình với biểu ngữ “Hãy chấm dứt  chiến tranh vì dầu mỏ”(No war for oil) vẫn nổ ra.

    Các lý do để bào chữa cho cuộc chiến còn gây rất nhiều tranh luận…Đằng  sau cuộc chiến chống khủng bố do chính quyền Bush phát động, người ta tự  hỏi liệu còn nguyên nhân nào nữa khiến Mỹ phải đầu tư quá nhiều tiền  của và con người cho một “vũng lầy” ở Irak nếu không phải là dầu mỏ?


      Tuy nhiên, với bối cảnh hiện nay,  Mỹ không dễ dàng để đạt được điều đó, bởi xu thế một thế giới đa cực  đang dần hình thành và không dễ gì để xoay chiều. Chúng ta có thể thấy  điều đó rõ hơn quan cuộc chiến giữa Nga và Grudia xung quanh vấn đề Nam  Osetia và quan hệ Nga - EU.

    Một khi lợi ích bị xâm phạm, Nga sẽ không thể tiếp tục để cho Mỹ tiếp  cận tới các vùng ảnh hưởng của mình. Và hơn bao giờ hết, Nga vẫn nắm giữ  nhiều lợi thế, về ảnh hưởng tới lợi ích kinh tế thế giới và cả các  nguồn dầu mỏ, khí đốt cung cấp cho châu Âu…


    Phạm Ngọc Hiệp (Tổng hợp năm 2008).



    Kính mời các đồng nghiệp xa gần đóng góp cho cuộc thi Chất Động Pangaea lần thứ XIII - năm 2016 Thời gian bắt đầu cuộc thi: 06/03/2016

    Facebook Comments



    Bài viết tương tự Collapse