Jump to content


hichic


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
4 replies to this topic

#1 nguyenminh2510

nguyenminh2510

    Member

  • Thành viên
  • PipPip
  • 13 Bài viết:
  • Joined 28-November 11
  • Reputation: 0
    • Đến từ:đại học khoa học tự nhiên

    Posted 23 December 2011 - 11:31 PM

    huhu.e sắp phải nộp bài môn cấu trúc bồn kanozoi rùi mà chưa làm được gì cả.....
    ai có tài liệu về các phức tập của sông hồng và diều kiện thành tạo dầu khí và than thì cho e mí nhá huhu;;;thanks mọi nguoi
    chúc cac members giáng sinh ấm và an lành nhes^^!



    Kính mời các đồng nghiệp xa gần đóng góp cho cuộc thi Chất Động Pangaea lần thứ XIII - năm 2016 Thời gian bắt đầu cuộc thi: 06/03/2016

    Facebook Comments

    #2 ThanhdcB

    ThanhdcB

      Super Member

    • Thành viên
    • PipPipPipPipPip
    • 585 Bài viết:
    • Joined 06-November 08
  • Reputation: 143
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:MDA
    • Interests:Film, Sports, Music...
      http://www.facebook.com/Thanhdcb

    Posted 26 December 2011 - 08:48 AM

    Topic của bạn là hichic (rất lạc quan) nhưng mở đầu là huhu  rất bi quan...
    Giáng sinh an lành.


    Đặc điểm quá trình trầm tích Kainozoi vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng

      file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image001.jpg

    Vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng là một trong những bồn trầm tích lớn trong khu vực Đông Nam á. Với tổng chiều dày trầm tích Kainozoi gần 20km ở khu vực trung tâm, các tập trầm tích ở đây ngoài nghĩa về mặt tài nguyên khoáng sản còn lưu giữ rất nhiều thông tin về các hoạt động kiến tạo, địa tầng và cổ khí hậu trong võng. Trong nghiên cứu này chúng tôi trình bày một số kết quả phân tích các tài liệu địa chấn 2D và định tuổi tuyệt đối U-Pb trên khoáng vật zircon của một số mẫu trầm tích lấy từ hệ thống sông Hồng.

    Kết quả minh giải địa chấn cho thấy vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng phân bố ở phía Đông Nam đới đứt gãy sông Hồng. Quá trình hình thành bể trầm tích liên quan chặt chẽ với va chạm mảng Ấn Độ với mảng âu-á vào đầu Kainozoi. Bồn trũng vịnh Bắc Bộ được khống chế bởi một loạt các đứt gãy ngangthuận, đặc biệt là đứt gãy sông Hồng ở phía Tây Nam và đứt gãy No.1 ở phía Đông Bắc. Khu vực này đã trải qua ít nhất hai pha nghịch đảo kiến tạo trong đó pha sớm mang tính địa phương và được liên hệ với giai đoạn khởi đầu của đới đứt gãy sông Hồng (~34-35 triệu năm) và pha muộn xảy ra trong Mioxen giữa (~15,5 triệu năm) lại mang tính khu vực và có liên quan mật thiết với sự ngừng tách giãn biển Đông và giai đoạn ngừng hoạt động của đứt gãy sông Hồng.
    Số liệu định tuổi tuyệt đối U-Pb thể hiện nguồn vật liệu sông Lô đóng vai trò quan trọng trong tổng lượng trầm tích của hệ thống sông Hồng đổ ra biển Đông trong khi sông Đà kém quan trọng hơn. Kết quả so sánh với số liệu tuổi của đá gốc cho phép kết luận rằng phần lớn vật liệu trầm tích ở thượng nguồn hệ thống sông Hồng được bóc mòn từ khối Songpan Gaze và nền Dương Tử trong khi các khối khác như Cathaysia, Qiangtang, Ailao Shan có vai trò không đáng kể. Tuy nhiên sông Hồng hiện nay không trực tiếp chảy qua Songpan Garze vì vậy vật liệu này có thể được tái bóc mòn và lắng đọng trong các bể trầm tích gần khu vực Songpan Garze.

    Hình1. Sơ đồ vị trí địa lí và phân chia các khối địa chất của vùng nghiên cứu trong khu vực Đông Nam á



    Khu vực vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng là vùng thềm lục địa Tây Bắc biển Đông, có đặc điểm địa chất phức tạp gắn liền với các hoạt động kiến tạo trong khu vực Đông Nam á. Các số liệu địa chấn sâu, trọng lực và từ hàng không cho thấy tổng chiều dày trầm tích Kainozoi ở khu vực này có chỗ lên đến 20km (Clift và nnk. 2006, ....). Các nghiên cứu trước đây cho thấy phần lớn vật liệu trầm tích được bóc mòn từ các khối địa chất thuộc NamTrung Hoa và miền Bắc Việt Nam được vận chuyển bởi hệ thống sông Hồng (bao gồm cả sông Đà, sông Lô/Chảy) và lắng đọng tại vịnh Bắc Bộ tạo nên phần chính là bể trầm tích sông Hồng, chỉ khoảng 5% vật liệu được lắng đọng tại vùng đệm là miền vùng Hà Nội (Clift và nnk 2006). Ngoài ra các nguồn địa phương dọc theo bờ biển phía Bắc, Bắc Trung Bộ và đảo Hải Nam (Trung Quốc) cũng đóng góp một lượng nhỏ trầm tích cho khu vực này. Với chiều dày trầm tích Kainozoi lớn, đây là một trong những khu vực có tiềm năng về dầu khí và đã trở thành đối tượng quan tâm của nhiều cơ quan nghiên cứu và tổ chức công nghiệp. Hàng loạt các giếng khoan, các tuyến địa vật lí đã được tiến hành nhằm làm sáng tỏ cấu trúc địa chất và lịch sử tiến hóa trầm tích Kainozoi. Tuy nhiên khu vực nghiên cứu nằm trên địa phận lãnh thổ của Việt Nam và Trung Quốc,nên quá trình liên kết các thành tạo địa chất vẫn còn nhiều hạn chế. Việc nghiên cứu các thông tin lưu giữ trên các thành tạo trầm tích này không chỉ phục vụ cho mục tiêu tìm kiếm nguồn nhiên liệu hóa thạch mà còn góp phần làm sáng tỏ lịch sử tiến hóa về kiến tạo và địa tầng của vịnh Bắc Bộ và châu thổ Sông Hồng trong mối quan hệ chung với kiến tạo khu vực Đông Nam á. Trong nghiên cứu này chúng tôi trình bày các kết quả nghiên cứu quá trình trầm tích và nguồn gốc vật liệu trầm tích cho khu vực vịnh Bắc Bộ và châu thổ Sông Hồng dựa trên việc minh giải tài liệu địa chấn sâu và phân tích tuổi tuyệt đối U-Pb trên các mẫu trầm tích hiện đại.
    1. Vị trí địa lí và đặc điểm địa chất khu vực nghiên cứu
    Khu vực nghiên cứu là phần thềm lục địa phíaTây Bắc biển Đông (Hình1). Về vị trí kiến tạo,vịnh Bắc Bộ nằm ở phần mở rộng phía Đông Nam của đới đứt gãy sông Hồng và phần lớn diện tích được bao trùm bởi bể trầm tích sông Hồng. Quá trình hình thành và tiến hóa địa chất của vịnh Bắc Bộ và vùng châu thổ sông Hồng có mối liên hệ mật thiết với sự va chạm mảng Ấn Độ với mảng âu-á, sự đâm trồi về phía Đông Nam của địa khối Đông Nam á và quá trình hình thành biển Đông.
    Tappnnier và nnk. (1982) đã nghiên cứu biến dạng để giải thích cơ chế hoạt động kiến tạo ở khu vựcĐông Nam á và đã xây dựng mô hình kiến tạo“đâm xuyên” (indentor) (Hình2), theo đó sự va chạm giữa mảng Ấn Độ và mảng âu-á đã làm cho địa khối Đông Dương chuyển động quay xuôi chiều kim đồng hồ khoảng 250 và dịch chuyển về phía ĐN khoảng 800km dọc theo đới đứt gãy trượt bằng trái sông Hồng. Quá trình chuyển động xoay thuận chiều tiếp tục cho đến khoảng 450 trước khi đới đứt gãy Sông Hồng chuyển sang chế độ trượt bằng phải do quá trình tiếp tục đâm xuyên của mảng Ấn Độ vào mảng âu-á. Chuyển động trượt bằng trái của đới đứt gãysông Hồng và sự đâm trồi của địa khối Đông Dương về phía ĐN là nguyên nhân dẫn đến sự tách giãn hình thành biển Đông và bể trầm tích sông Hồng (bao gồm cả miền võng Hà Nội hiện nay).

    file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image003.jpg

    Hình2. Mô hình thí nghiệm biến dạng giải thích sự hình thành biển Đông và sự đâm trồi của địa khối Đông Dương về phía Đông Nam (mô phỏng theoTapponnier và nnk.1982):

    A - Biến dạng đối xứng khi hai cạnh bên bị khống chế;
    B -Biến dạng bất đối xứng khi cạnh bên trái bị không chế và cạnh bên phải để mở;
    C - Sơ đồ kiến tạo khu vực Đông Nam á tương tự với sơ đồ biến dạng
    Các nghiên cứu (Tapponnier và nnk. 1986, 1990; Leloup và nnk.2001; Schärer và nnk. 1990, 1994; Chung và nnk.1997 và Zhang & Schärer 1999) dựa trên các dấu hiệu động học ngoài thực địa và các số liệu phân tích tuổi tuyệt đối cho rằng đới đứt gãy Sông Hồng bắt đầu trượt trái cách đây ít nhất 35 triệu năm với tổng biên độ dịch trượt trên 500km. Các công trình nghiên cứu tiếp theo (Morley 2002; Hall và nnk.1996, 2008, Clift và nnk. 2008) dựa trên các tài liệu phân tích địa chấn sâu, cổ từ, trầm tích,... cho rằng có rất ít bằng chứng để kết luận về vai trò va chạm giữa mảng Ấn Độ với mảng âu-á trong trong quá trình tách giãn và hình thành biển Đông.Thay vào đó sự tách giãn biển Đông chủ yếu liên quan đến sự hút chìm của biển Đông cổ (proto-South China Sea) về phía máng hút chìm Borneo.
    Quá trình tiến hóa của vịnh Bắc Bộ và châu thổ Sông Hồng lại liên quan chặt chẽ với hoạt động của đới đứt gãy Sông Hồng. Do chiều dày trầm tích quá lớn nên hiện nay chưa có giếng khoan nào đạt đến đáy của các thành tạo trầm tích Kainozoi ở khu vựcnày. Việc xác định tuổi và thành phần các tập trầm tích cổ nhất được dự đoán là các trầm tích lục nguyên Paleogen - Eoxen nằm bất chỉnh hợp trên các thành tạo đá móng trước Kainozoi có thành phần chủ yếu là carbonat (tuổi C-P?) và một lượng nhỏ các đá phun trào (Trần Nghi và nk 2005; Đặng Văn Bát và nnk. 2005; Mai Thanh Tân và nnk. 2006)
    2. Lịch sử tiến hóa và biến đổi trầm tích trên cơ sở minh giải tài liệu địa chấn


    file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image005.jpg

    Hình3. Mặt cắt địa chấn thể hiện cấu trúc ngang của bể trầm tích Sông Hồng và vịnh Bắc Bộ.

    Các đứt gãy ngang - thuận đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nên cấu trúc bồn trũng (Đối chiếu với Hình1)
    Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng một số mặt cắt địa chấn 2D từ Petrovietnam, CNOOC và BP. Các tuyến địa chấn lựa chọn phân bố ở cả sườn Tây Nam và phía Đông Bắc của vịnh Bắc Bộvới mục đích liên kết địa tầng xuyên suốt qua phần lãnh thổ Việt Nam và Trung Quốc (Hình1). Việc khoanh định ranh giới các tập địa chấn được thực hiện trên cơ sở xác định các dấu hiệu gá đáy(onlap), phủ đáy (downlap), chống nóc (toplap) và các bề mặt bào mòn. Tuổi của các thành tạo địa chất tương ứng được xác định trên cơ sở liên kết tuổi tuyệt đối của các hóa thạch trong các giếng khoan LG 20-1-1 và LD 30-1-1A ở sườn phía Đông Bắc bể sông Hồng. Theo kết quả minh giải tài liệu địa chấn, có mười ba tập địa chấn được xác định.
    Hình 3 thể hiện các tập địa chấn và đặc điểm cấu trúc ngang của bể sông Hồng - phần chính của cấu trúc vịnh Bắc Bộ trong Kainozoi. Mặt cắt địa chấn trong Hình 3 cho thấy khu vực vịnh Bắc Bộ được khống chế bởi một loạt các đứt gãy ngang thuận (transtensional faults), đặc biệt là đứt gãy Sông Hồng ở rìa Tây Nam và đứt gãy No.1 ở rìa Đông Bắc. Cấu trúc móng trước Kainozoi bắt đầu tách giãn trong gian đoạn Paleogen-Eocen nhưng quá trình tách giãn và sụt lún xảy ra mạnh mẽ khoảng từ 27-34 triệu năm, cùng giai đoạn hoạt động mạnh của đớt đứt gãy sông Hồng.
    Gần như toàn bộ các thành tạo trầm tích đồng tách giãn (synrift deposits) được lắng đọng ở phần trung tâm của võng nghiên cứu. Biên độ dịch chuyển của các thành tạo trầm tích dọc theo các đứt gãy này không giống nhau. Quá trình tách giãn và sụt võng kiến tạo ở trung tâm bể sông Hồng và vịnh Bắc Bộ được tiếp theo bởi quá trình sụt võng do co rút nhiệt (thermal subsidence) trong Mioxen trước khi tái hoạt động mạnh mẽ trở lại sau Mioxen (5,5 triệu năm). Các thành tạo trầm tích Kainozoi ở phía Bắc và trung tâm khu vực nghiên cứu bị biến dạng, trượt chờm và bào mòn mạnh mẽ (Hình 4). Ngoài ra còn quan sát thấy các cấu trúc dạng vòm đặc trưng bởi trường sóng xuyên cắt vào các thành tạo trầm tích ở phần trung tâm vịnh Bắc Bộ (Hình4). Trên một số tuyến địa chấn phương TB- ĐN,chiều dày của các tập tăng dần từ Tây Bắc về Đông Nam (Hình5) cho thấy ở giai đoạn sớm của quá trình tách giãn phần lớn trầm tích vận chuyển bởi hệ thống sông Hồng được lắng đọng ở khu vực châu thổ và phía Bắc vịnh Bắc Bộ nhưng trung tâm lắng đọng dịch chuyển dần về phía Đông Nam. Trường sóng phản xạ kiểu nêm lấn (progradation) trong Hình 5 cho thấy trong giai đoạn Holoxen - Đệ Tứ, vật liệu trầm tích nhanh chóng được vận chuyển về phía Đông Nam của vịnh Bắc Bộ với tốc độ cung cấp trầm tích diễn ra nhanh hơn tốc độ tạo không gian lắng đọng.

    file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image007.jpg

    Hình4. Mặt cắt địa chất ở phía Bắc vịnh Bắc Bộ. Các tập trầm tích bị uốn nếp, trượt chờm và bào mòn mạnh mẽ thể hiện khu vực này đã trải qua các giai đoạn nghịch đảo kiến tạo

    file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image009.jpg

    file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image011.jpg

    Hình 5. Các phản xạ địa chấn kiểu "nêm lấn" về phía Đông Nam cho thấy vật liệu trầm tích do sông Hồng vận chuyển ra biển Đông theo hướng Đông Nam trong kỷ Đệ Tứ
    Về thành phần thạch học của các thành tạo trầm tích ở vịnh Bắc Bộ và khu vực châu thổ sông Hồng đã được nghiên cứu khá chi tiết qua các giếng khoan thăm dò dầu khí và các chương trình khảo sát lấy mẫu lõi trước đây. Tuy nhiên do độ sâu có hạn nên thành phần của các tập trầm tích ở dưới sâu vẫn chưa được làm sáng tỏ, chủ yếu dựa vào các đặc điểm trường sóng địa chấn (Hình 6). Các tập cát và cát kết có chiều dày lớn,hạt thô thường có biên độ phản xạ mạnh, tần số thấp; có thể phân bố thành tập kéo dài liên tục hoặc dạng thấu kính xen kẹp trong các lớp trầm tích hạt mịn hoặc lấp đầy trong các dòng chảy cổ.
    Trong khi đó các lớp bột, bột sét và sét hạt mịn, phân lớp mỏng được đặc trưng bởi biên độ phản xạ yếu hơn với tần số cao hơn, có tính liên tục về chiều dày tốt hơn. Các thành tạo trầm tích turbidite liên quan đến trượt lở ngầm hoặc các vận chuyển khối thường được lắng đọng nhanh chóng trên các bề mặt bào mòn ngầm, có độ chọn lọc kém nên thường được đặc trưng bởi trường sóng phản xạ hỗn độn (chaotic). Ngoài ra các đới quá bão hòa áp suất và các tập cát/cátkết có chứa khí nông thường được thể hiện qua sự giảm đột ngột tốc độ truyền sóng và quan sát trên mặt cắt địa chấn các “điểm sáng” (brightspot) với biên độ phản xạ âm mạnh mẽ (Hình6).

    file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image013.jpg

    Hình6. Một số dấu hiệu địa chấn đặc trưng liên quan đến sự biến đổi thạch học và môi trường trầm tích:
    A- Các dòng chảy cổ có hình thái không đối xứng thể hiện quá trình xâm thực ngang xảy ra mạnh mẽ;
    B- Các cấu tạo thớ chẻ hình tỏa tia hình thành do lực căng trên nóc của các cấu tạo vòm bột/sét;
    C- Trầm tích turbidite và vận chuyển khối đặc trưng bởi các dấu hiệu phản xạ hỗn độn, hoặc kiểu phủ đáy trên bề mặt bào mòn.
    D- Các trầm tích hạt thô đặc trưng bởi biên độ phản xạ mạnh được lấp đầy trong đáy
    của các bề mặt bào mòn cổ. Sự tăng đột biến vận tốc truyền sóng địa chấn qua đới hạt thô làm cho các bề mặt của các tập nằm dưới bị uốn cong lên phía trên (pull-up effect);
    E- Biến đổi tần số và biên độ phản xạ địa chấn khi thành phần thạch học và độ sâu chôn vùi thay đổi

    3. Phân tích nguồn gốc vật liệu trầm tích
    Các nghiên cứu trước đây cho rằng phần lớn trầm tích được lắng đọng trong khu vực vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng được bóc mòn từ khu vực Đông Nam cao nguyên Tây Tạng và miền Bắc Việt Nam. Các vật liệu này được bóc mòn và vận chuyển ra biển Đông bởi hệ thống sông Hồng và các chi lưu chính của nó (sông Đà, sông Lô/ sông Chảy) (Clift và nnk. 2006) trong khi các nguồn địa phương dọc theo bờ biển miền Bắc, Bắc Trung Bộ Việt Nam và đảo Hải Nam chỉ đóng vai trò thứ yếu. Mặc dù tổng chiều dài và diện tích lưu vực của hệ thống sông Hồng hiện tại không dài và rộng như một số hệ thống sông khác trong khu vực nhưng hàng năm nó vận chuyển ra biển Đông một lượng trầm tích rất lớn (~130 x 106 tấn/năm) bao gồm cả vật liệu vận chuyển ở tầng đáy và vật liệu lơ lửng (Milliman & Syvitski, 1992; Schimanski và nnk,2001). Mức độ tập trung trầm tích cao trong hệ thống sông Hồng là do các hoạt động phong hóa hóa học và bóc mòn vật lí xảy ra mạnh mẽ ở các khu vực đá nguồn. Để làm sáng tỏ về vai trò của các khối địa chất phân bố ở thượng lưu hệ thống sông Hồng và nguồn gốc vật liệu trầm tích cung cấp cho khu vực châu thổ sông Hồng và vịnh Bắc Bộ, chúng tôi đã sử dụng phương pháp định tuổi tuyệt đối U-Pb trên các khoáng vật zircon.
    Các mẫu cát bở rời được lấy từ hạ lưu sông Lô, sông Đà, sông Hồng tại Lào Cai và hạ lưu sông Hồng để đảm bảo tính đại diện và tránh bị ảnh hưởng bởi các nguồn địa phương. Kết quả phân tích các mẫu được so sánh với kết quả định tuổi của các khối địa chất có tiềm năng là nguồn vật liệu trầm tích cho hệ thống sông Hồng đã được công bố: Khối Qiang tang (trung tâm cao nguyên Tây Tạng) (Roger và nnk. 2003; Roger và nnk. 2000); khối Songpan Garze (Bruguier và nnk. 1997; Liu và nnk. 2004; Weislogel và nnk.2006), nền Dương Tử (Yangtze) (Hacker và nnk.1998; Li 1999; Ling và nnk. 2003; Xue và nnk.1997; Zheng và nnk. 2006), khối Cathaysia (Li và nnk. 2005; Li và nnk. 1989; Li và nnk. 2002), đới Ailao Shan và dãy núi Con Voi (Schaerer và nnk.,1990; Zhang & Schärer 1999).
    Mẫu trầm tích bở rời được tách phần khoáng vật nặng trước khi tuyển tinh lần hai bằng dung dịch nặng bromoform.Các hạt khoáng vật zircon được chọn lựa dưới kính hiển vi. Do zircon là khoáng vật phổ biến và chứa hàm lượng U, Pb khá cao so với các khoáng vật khác nên nó được sử dụng rộng rãi và hiệu quả trong việc định tuổi kết tinh và tuổi nguội lạnh dưới mức 7500C (Hodges 2003). Hơn nữa do hệ thống U-Pb có nhiệt độ “đóng” cao nên tuổi của nó ít khi bị thay đổi trong các quá trình biến chất sau này, cho phép sử dụng hiệu quả trong phân tích nguồn gốc vật liệu trầm tích. Các hạt zircon được rửa sạch bằng ethanol để loại bỏ tạp chất và được phân tích bằng phương pháp MCICPMS, sử dụng mẫu chuẩn zircon (Xie và nnk 2008, Wei và nnk. 2009). Kết quả định tuổi U-Pb được trình bày trên Hình7.

    file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image015.jpg

    Hình7. Biểu đồ tần suất thể hiện sự phân bố tuổi tuyệt đối U-Pb của các mẫu trầm tích hiện đại trên hệ thống sông Hồng và các chi lưu chính

    Các mẫu trầm tích bở rời cho khoảng tuổi tương đối rộng từ 30-2800 triệu năm thể hiện sự đa dạng về nguồn gốc vật liệu, trừ sông Lô chủ yếu gồm các hạt zircon phân bố trong khoảng tuổi rất hẹp và rất tập trung xung quanh mức 400 triệu năm. Mặc dù trầm tích ở hạ lưu sông Đà có tuổi chủ yếu tập trung ở mức 250 triệu năm, liên quan đến chu kỳ tạo núi Indosini(Lepvrier và nnk., 2004) nhưng vẫn có một số hạt phân bố trên một khoảng tuổi kết tinh khá rộng.
    Các mẫu trầm tích trên sông Hồng lấy ở Lào Cai và Hà Nội có mô hình phân bố tuổi U-Pb khá phức tạp cho thấy vật liệu trầm tích được bóc mòn từ các đá đa nguồn gốc và tương phản lẫn nhau. Nhìn tổng thể thì các hạt zircon trong các mẫu này có tuổi kết tinh U-Pb tập trung ở một số cực trị tại ~700-900, ~250, ~1.800-2.000 và~2.200-2.500 triệu năm.
    4. Một số vấn đề thảo luận và kết luận
    Mặc dù các thành tạo trầm tích sâu nhất ở trung tâm vịnh Bắc Bộ và bể sông Hồng chưa được xác định rõ ràng nhưng phần lớn các ý kiến đều thống nhất cho rằng quá trình lắng đọng trầm tích ở khu vực vịnh Bắc Bộ được bắt đầu từ Eoxen-Oligoxen với phần lớn lượng trầm tích lắng đọng được bóc mòn từ khu vực Đông Nam Tây Tạng và miền Bắc Việt Nam mặc dù trầm tích lắng đọng trong giai đoạn đầu chủ yếu là từ nguồn địa phương (khi mà hệ thống sông Hồng chưa phát triển). Hai hệ thống đứt gãy ngang thuận (transtesional faults) ở sườn phía Đông Bắc và Tây Nam bể sông Hồng, đặc biệt là đứt gãy sông Hồng và đứt gãy No. 1 đóng vai trò khống chế và định hình cấu trúc địa chất trong các thành tạo Kainozoi cho khu vực nghiên cứu.
    Sự bất đồng nhất về cự li dịch chuyển của cácthành tạo trầm tích dọc theo các đứt gẫy (giảm dần lên phía trên) cho thấy các đứt gãy này tái hoạt động trong nhiều pha. Quá trình tách giãn và sụt võng xảy ra mạnh mẽ trong Eoxen-Oligoxen trước khi quá trình sụt lún giảm dần do quá trình co rút nhiệt hậu tách giãn(thermal contraction).
    Sự uốn nếp mạnh mẽ đi kèm với các hoạt động trượt chờm và các bề mặt bất chỉnh hợp quan sát được trên một số mặt cắt ở phía Bắc vịnh Bắc Bộ cho thấy khu vực nghiên cứu đã trải qua ít nhất hai pha nghịch đảo kiến tạo,chuyển từ chế độ căng giãn sang chế độ ép nén khu vực. Pha nghịch đảo thứ nhất (~34-35 triệunăm) mang tính cục bộ, chỉ quan sát được ởphần phía bắc khu vực nghiên cứu và có thể được gây ra bởi giai đoạn trượt sớm của đới đứt gãy Sông Hồng trong khi pha nghịch đảo thứ hai xảy ra trong Mioxen trung (~15,5 triệu năm)mang tính khu vực và được liên kết với bất chỉnh hợp khu vực trên toàn biển Đông (Hazebroek &Tan 1993; Hutchison 1996; Mathews và nnk.1997). Pha nghịch đảo trong Mioxen giữa đượcliên hệ với sự ngưng nghỉ của đới đứt gãy sông Hồng và quá trình ngừng tách giãn biển Đông.
    Sự chuyển tiếp từ chế độ tách giãn sang ép nén và nghịch đảo đóng vai trò quan trọng trong việc tái phân bố lại các vật liệu trầm tích hạt mịn trong đới quá bão hòa áp suất để tạo nên các cấu trúc vòm bột/sét (shale diapir) ở trung tâm của võng nghiên cứu (Hình3). Tuy vậy các cấu trúc vòm này còn xuyên cắt cả vào các thành tạo sau giai đoạn nghịch đảo Mioxen giữa. Điều này cho thấy rằng các cấu trúc vòm ép nén trước đây lại tiếp tục phát triển xuyên lên các thành tạo trẻ hơn doáp lực thủy tĩnh của các lớp trầm tích bên trên đè lên (Clift & Sun 2006). Mặc dù các tài liệu trước đây ghi nhận sự tồn tại của các cấu trúc vòm kiểu như thế này nhưng hình thái và đặc điểm phản xạ địa chấn hai bên sườn không thể hiện kiểu cấu trúc vòm đặc trưng (các bề mặt phản xạ không bị uốn cong tại nơi tiếp xúc). Vì vậy có khả năng tồn tại đứt gãy trượt bằng ẩn (bị các thành tạo trẻ hơn che phủ ở bên trên) tạo nên cấu trúc hình tam giác. Sự dịch chuyển địa tầng ở hai bên cánh của đứt gãy đã làm cho các lớp trầm tích bị xáo trộn và mất đi tính phân lớp ban đầu như đã được thể hiện trên mặt cắt địa chấn (Hình3). Do mật độ của các tuyến địa chấn còn thưa nên chưa có đầy đủ bằng chứng thuyết phục để kết luận về sự tồn tại các đứt gãy trượt bằng ẩn này vì vậy sẽ không đề cập trong khuôn khổ nghiên cứu này. Các hoạt động sụt võng tại khu vực nghiên cứu sau Mioxen giữa xảy ra từ từ và giảm dần cường độ về phía Bắc dẫn đến phần lớn vật liệu trầm tích do hệ thống sông Hồng vận chuyển ra được tiếp tục vận chuyển xuống phía Đông Nam. Mặc dù không có nhiều giếng khoan khống chế thành phần thạch học trầm tích, đặc biệt ở độ sâu lớn nhưng thông qua các đặc điểm về biên độ và tần số phản xạ của sóng địa chấn cho thấy thành phần chủ yếu là cát, bột với các lớp sét mỏng được lắng đọng trong môi trường biển nông và delta. Các khu vực có dị thường âm mạnh, tần số thấp thường là các tập hoặc thấu kính cát có tiềm năng chứa khí nông hoặc các đới quá bão hòa áp suất và được đặc trưng bởi sự giảm mạnh tốc độ truyền sóng địa chấn khi đi qua các đới này. Ngoài ra các trầm tích Kanozoi trong khu vực nghiên cứu còn thể hiện các tướng trầm tích turbidite và vận chuyển khối với đặc điểmđịa sóng địa chấn hỗn độn phân bố trên các bề mặt bào mòn.
    Hệ thống sông Hồng đóng vai trò quan trọng nhất để vận chuyển vật liệu trầm tích được
    bóc mòn từ Đông Nam Tây Tạng, Nam Trung Hoa và miền Bắc Việt Nam ra biển Đông. Kết quả định tuổi U-Pb là phương pháp hiệu quả phân tích nguồn gốc vật liệu trầm tích. Mô hình phân bố tuổi U-Pb của trầm tích sông Hồng ở Hà Nội và Lào Cai khá giống nhau (Hình7), tuy nhiên cực trị tại 400 triệu năm cho mẫu trầm tích sông Hồng tại Hà Nội lại phù hợp với tuổi của các hạt Zr thuộc nhánh sông Lô. Điều này cho thấy nguồn vật liệu sông Lô đóng vai trò đáng kể trong tổng lượng trầm tích được lắng đọng tại châu thổ sông Hồng và vịnh Bắc Bộ. Kết luận này phù hợp với nghiên cứu đồng vị Nd và Sr trong mẫu trầm tích sông Lô và sông Hồng trước đây của Clift và nnk. (2008).Tuổi U-Pb của các mẫu đá gốc (Hình8) cho thấy khối Qiangtang (trung tâm Tây Tạng) được đặc trưng bởi phần lớn các hạt Zr phân bố trong khoảng tuổi 210 triệu năm, có thể được tạo thành với giai đoạn muộn của chu kỳ tạo núi Indosini (Yin & Harrison 2000). Ngược lại, đới Ailao Shan và dãy núi Con Voi lại đặc trưng bởi khoảng tuổi rất trẻ 27-33 triệu năm. Khoảng phân bố tuổi rất trẻ và hẹp trong đới này đượcxuất lộ bởi hoạt động của đới đứt gãy sông Hồng (Gilley và nnk. 2003, Leloup và nnk.2001). Trong khi đó, Songpan Graze có mô hình phân bố tuổi phức tạp hơn với tần suất phân bố tuổi cao nhất ở trong các khoảng 270-290 triệu năm (chu kỳ tạo núi Indosini), tiếp theo là khoảng tuổi 440 triệu năm (chu kỳ tạo núiCaledoni), 1.900 triệu năm (chu kỳ tạo núiLulian) và 2.500 triệu năm. Trên cơ sở so sánh sơ đồ phân bố tuổi của các mẫu trầm tích hiện đại với các mẫu đá gốc cho thấy Songpan Gazecó thể là nguồn chính cung cấp vật liệu trầm tích cho hệ thống sông Hồng trong khi các khối Qiangtang, Cathaysia không đóng vai trò đáng kể. Tuy nhiên hệ thống sông Hồng không trực tiếp chảy qua khu vực Songpan Garze vì vậy có thể vật liệu từ khu vực này được đổ vào hệ thống sông Hồng thông qua quá trình tái lắng đọng/bóc mòn vật liệu trong các bể trầm tích ở thượng nguồn sông Hồng. Nền Dương Tử có sơ đồ phân bố tuổi tập trung vào các khoảng hẹp và tần suất cao tại ~200 triệu năm và ~ 800 triệu năm (Hình8). Sự phân bố này phù hợp với các trầm tích hiện đại của châu thổ sông Hồng và là nguồn cung cấp vật liệu trầm tích quan trọng nhất.

    file:///C:/DOCUME%7E1/thanhnv1/LOCALS%7E1/Temp/msohtmlclip1/01/clip_image017.jpg

    Hình8. Biểu đồ tần suất thể hiện sự phân bố tuổi tuyệt đối U-Pb của các mẫu đá gốc lấy từcác khối địa chất khác nhau để đánh giá tiềm năng nguồn vật liệu trầm tích cung cấp cho vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng

    Trong nghiên cứu này các tác giả đã sử dụng tổng hợp nguồn tài liệu địa chấn và tài liệu định tuổi tuyệt đối để làm sáng tỏ lịch sử tiến hóa trầm tích Kanozoi ở khu vực vịnh Bắc Bộ và châu thổ sông Hồng. Các kết quả đã góp phần làm rõ hơn vai trò các nguồn vật liệu trầm tích và liên hệ được các quá trình bóc bòn, vận chuyển và lắng đọng với các hoạt động kiến tạo và biến đổi cổ địa lí ở khu vực Đông Nam á.

    TS. Hoàng Văn Long, GS.TS. Peter D. Clift

    School of Geosciences, University of Aberdeen

    GS.TSKH. Mai Thanh Tân, GS.TSKH. Đặng Văn Bát, TS. Lê Hải An

    Trường Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội

    GS.TS. Fu-Yuan Wu

    Institute of Geology and Geophysics, Chinese Academy of Sciences


    Edited by ThanhdcB, 26 December 2011 - 08:50 AM.

    Posted Image

    #3 ThanhdcB

    ThanhdcB

      Super Member

    • Thành viên
    • PipPipPipPipPip
    • 585 Bài viết:
    • Joined 06-November 08
  • Reputation: 143
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:MDA
    • Interests:Film, Sports, Music...
      http://www.facebook.com/Thanhdcb

    Posted 26 December 2011 - 08:54 AM

    Bạn tìm mua quyển địa chất và tài nguyên dầu khí VN nữa nhé
    Posted Image

    #4 nguyenminh2510

    nguyenminh2510

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 13 Bài viết:
    • Joined 28-November 11
  • Reputation: 0
    • Đến từ:đại học khoa học tự nhiên

    Posted 17 January 2012 - 09:59 AM

    thanks a nhiu2 ^^! :)) :))
    e sắp đi thực tập năm cuối rùi.....
    e theo địa hoá dầu k có mấy tài liệu...a có tl về địa hoá dầu thì sent cho e nhé!

    #5 nguyenminh2510

    nguyenminh2510

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 13 Bài viết:
    • Joined 28-November 11
  • Reputation: 0
    • Đến từ:đại học khoa học tự nhiên

    Posted 04 March 2012 - 06:41 PM

    a co tai lieu ve cau truc va lich su dia chat cac lo 04,03,05,10,11 be nam con son k a.cho e xin voi a