Jump to content


Giúp cấu trúc trường quặng


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
3 replies to this topic

#1 caodanhdat

caodanhdat

    Newbie

  • Thành viên
  • Pip
  • 1 Bài viết:
  • Joined 08-April 14
  • Reputation: 0
    • Đến từ:HN

    Posted 08 April 2014 - 01:01 PM

    Bạn nào có tài liệu môn này cho mình xin với
    Liên quan đến vấn đề này thì càng tốt, cụ thể là
    Các giai đoạn quặng hóa và tác động của các hoạt động kiến tạo sau quặng hóa
    Tài liệu powerpoint càng tốt ạ
    Cảm ơn các bạn nhiều



    Kính mời các đồng nghiệp xa gần đóng góp cho cuộc thi Chất Động Pangaea lần thứ XIII - năm 2016 Thời gian bắt đầu cuộc thi: 06/03/2016

    Facebook Comments

    #2 vanchinh204136

    vanchinh204136

      Newbie

    • Thành viên
    • Pip
    • 1 Bài viết:
    • Joined 12-May 12
  • Reputation: 1
    • Đến từ:son la

    Posted 23 April 2014 - 04:26 PM

    MỞ ĐẦU


    Như chúng ta đã biết thì các loại khoáng sản có liên quan mật thiết với cấu trúc địa chất trong vỏ trái đất, cụ thể là những nơi có cấu trúc địa chất đặc biệt trong bình đồ kiến tạo của các khu vực trong vỏ trái đất thường là  vị trí các trường quặng và mỏ quặng xuất hiện. Nếu xem quá trình tạo quặng nội sinh là khâu cuối cùng của chu trình hoạt động nội sinh của mỗi khu vực thì các quá trình kiến tạo magma cũng như các quá trình địa chất – địa hóa diễn ra trước đó đã tạo nên bình đồ kiến trúc khu vực, trên đó có những vị trí thường thuận lợi cho việc định vị và hình thành các mỏ trường quặng. Hình dạng của các thân quặng không những phụ thuộc vào các yếu tố kiến tạo, mà còn phụ thuộc vào thành phần trầm tích các đá vây quanh. Các tính chất vật lý của đá như: độ dẻo và độ giòn, tính dễ biến dạng, độ thấm nước… cũng như hoạt tính hóa học quyết định đến hình thái các thân quặng nằm trong các đá đó.

      Bài tiểu luận gồm các phần chính sau:

       Phần 1: Khái quát chung về trường quặng

         Phần 2: Khái niệm kiến trúc trường quặng và phân loại các kiểu kiến trúc trường quặng

        Phần 3:  Các kiểu kiến trúc trường quặng



       Đặc điểm phân bố các mỏ khoáng trong mỏ trái đất mang tính quy luật khách quan, do các yếu tố địa chất xuất hiện trong quá trình phát triển lịch sử tiến hóa của trái đất thuận lợi cho việc thành tạo các mỏ khoáng.

       Thực tế cho thấy về phương diện cấu trúc địa chất, các trường mỏ quặng thường xuất hiện những nơi có đặc điểm cấu trúc đặc biêt(dị thường) khác với chỗ khác như hoạt động magma, đứt gãy, tầng đá thuận lợi, nếp uốn khác với xung quanh. Những điều kiện đặc biệt này thuận lợi cho việc tích tụ khoáng sản.











       PHẦN I   KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRƯỜNG QUẶNG


       Môn học “kiến trúc trường quặng” là tên gọi thông dụng của môn học “kiến trúc các trường và mỏ quặng nội sinh”. Việc nghiên cứu kiến trúc trường quặng dựa vào những cơ sở lý thuyết ban đầu do W.Nowhouse và V. Kreiter đề xướng vào những năm 1941, 1942 và không ngừng phát triển để trở thành một ngành khoa học độc lập trong loạt các khoa học về Trái đất. Ở Việt Nam, môn học được giảng dạy lần đầu tiên cho sinh viên khoa Địa Chất – Địa lý Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội ( Nay là trường Đại học Khoa học Tự Nhiên) vào năm 1978 và sinh viên khoa Địa Chất, Trường Đại học Mỏ - Địa Chất Hà Nội vào năm 1987.


    Công tác tìm kiếm – thăm dò các mỏ và trường quặng thực chất là quá trình điều tra mối liên quan giữa các yếu tố kiến trúc với quặng hóa, đi từ khái quát tới chi tiết. Tương ứng với quá trình trên là quá trình đo vẽ bản đồ địa chất và tìm kiếm khoáng sản từ tỉ lệ nhỏ  - trung bình – tỉ lệ lớn. Kiến trúc trường quặng với hệ  phương pháp nghiên cứu của mình được vân dụng trong các giai đoạn tìm kiếm mỏ và trường quặng ứng với công tác đo vẽ địa chất tỉ lệ lớn nhằm làm sáng tỏ vai trò khống chế quặng hóa của các yếu tố kiến trúc trong phạm vi một trường quặng. Nói cách khác : “Kiến trúc trường quặng là một ngành khoa học độc lập có nhiệm vụ nghiên cưú vai trò khống chế quặng hóa của các yếu tố kiến trúc trong phạm vi một mỏ, trường quặng làm cơ sở cho công tác dự báo và tìm kiếm thăm dò các mỏ và trường quặng”.


      1. Khái niệm về trường quặng.

       Các diện tích chứa quặng theo quy mô được chia thành các đơn vị chứa quặng khu vực và địa phương. Thuộc các đơn vị chứa quặng khu vực có đai quặng, tỉnh quặng và miền quặng. Thuộc về các đơn vị chứa quặng địa phương gồm có: vùng quặng, đới quặng, nút quặng, trường quặng, và mỏ quặng.

        Khái niệm về trường quặng được hình thành trong một quá trình rất lâu dài. Ban đầu, trường quặng được  hiểu là một diện tích chứa quặng rộng vài chục kilomet vuông, trong đó có các mỏ quặng  ( CA, Betccbtin, 1939). Đa số các nhà địa chất xem trường quặng là diện tích chứa quặng không lớn lắm ( ít khi tới 100km2), trong đó chứa các mỏ quặng gần gũi nhau về thời gian và điều kiện thành tạo ( V.Kreiter, 1958; A.Coroliov, 1900; …).

       Trên thực tế, trường quặng thường là một thể địa chất độc lập có ranh giới rõ ràng, có tính biệt lập trên khung cấu trúc của khu vực. Các ranh giới tự nhiên có thể là bề mặt đứt gãy, các thể đá mạch hoặc đai cơ. Trong phạm vi trường quặng có thể tồn tại một hay nhiều khu vực phát triển tập trung quặng hóa có quy luật xác định, tách biệt với nhau bằng nhũng diện tích không hoặc khoáng hóa yếu. Một trường quặng có thể tồn tại một loại khoáng sản tự nhiên hay và ba loại khoáng sản khác nhau.

       Khái niệm trường quặng được hình thành trong một quá trình lâu dài. Ban đầu trường quặng được biểu hiện là một diện tích chứa quặng rộng. Hiện nay có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trong một trường quặng có thể chỉ có một mỏ, cũng có thể một vài mỏ khác nhau, vì vậy trong nghiên cứu kiến trúc trường quặng không cần phải tách biệt những khái niệm trường và mỏ quặng.

       Một cách khái quát có thể hiểu “trường quặng là một thể địa chất cụ thể hay một khu vực của vỏ Trái đất có ranh giới xác định trong đó phát triển tập trung các biểu hiện quặng hóa nội sinh gần gũi nhau về thời gian và điều kiện thành tạo”.































    PHẦN 2 KHÁI NIỆM KIẾN TRÚC TRƯỜNG QUẶNG VÀ PHÂN LOẠI CÁC KIỂU KIẾN TRÚC TRƯỜNG QUẶNG


    1. Khái niệm kiến trúc trường quặng.

       Kiến trúc trường quặng là tổ hợp các yếu tố cấu trúc địa chất quyết định điều kiện hình thành và phân bố quặng hóa trong phặm vi trường quặng.

    Các yếu tố cấu trúc tham gia vào kiến trúc các trường quặng gồm các phá hủy kiến tạo (đứt gãy, khe nứt kiến tạo), các kiến trúc nếp uốn, thành phần và đặc tính cơ lý của đá vây quanh, các thân quặng, tính phân đới của các tổ hợp khoáng vật trong trường, mỏ và trong chính thân quặng.

       Kiến trúc trường quặng gồm các yếu tố cấu trúc chứa và không chứa quặng nhưng đều có vai trò nhất định đối với việc định chỗ các thân và trường quặng trong không gian. Kiến trúc trường quặng hình thành trong quá trình phát triển địa chất lâu dài và gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển kiến trúc khu vực.

    2. Phân loại các kiểu kiến trúc trường quặng.

       Theo thời gian đã hình thành 2 khuynh hướng phân loại các kiểu kiến trúc trường quặng: phân loại theo hình thái ( V.Kreiter, 1960; A.Veliky, 1961; V.Xmirnov, 1981; X.Vakhromeev, 1973) và theo nguồn gốc ( G.Yacovlev, 196, 1978; F.Volfson và P.Yacovlev, 1975, 1984).

       Ngày nay, đa số các nhà nghiên cứu tiến hành phân loại các kiến trúc trường quặng theo nguyên tắc kết hợp giữa những đặc điểm hình thái với điều kiện thành tạo chúng. Theo hướng này các kiểu kiến trúc trường quặng được chia thành 4 nhóm chính gồm: Nhóm kiến trúc kiến tạo sinh, nhóm kiến trúc kiến tạo magma sinh, nhóm kiến trúc magma sinh và nhóm kiến trúc biến sinh.

    ·     Bảng phân loại các kiểu kiến trúc trường quặng cơ bản.

    Nhóm


    Phụ


    nhóm


    Kiểu kiến trúc


    trường quặng


    Các kiểu kiến trúc chứa quặng và hình dạng


       các thân quặng


    Thí dụ các trường


    quặng


        Kiến tạo sinh


       Kiến trúc uốn nếp



    1. Trong những


    nếp uốn ép dọc



    - Các thân quặng yên ngựa trong các khe nứt tách


    lớp, ở bản lề các nếp lồi.


    - Các vỉa, thấu kính, mạch trong các khe nứt ở


    vòm các nếp lồi.


    - Các vỉa, ổ trong các nếp uốn bị chặn


    - Các vỉa trong những lớp đá dễ bị thẩm thấu trên


    cách các lớp uốn bị đứt gãy cắt qua



    -Bendigo (Úc)


    -Cadamji (Liên


    Xô cũ)


    -Jijicrut (Liên Xô)


    -Khaiđarcan


    (Liên xô)


    -Nikitopca


    (Liên  Xô)


    2. Trong những


    nếp uốn ép


    ngang


    - Các mạch và vỉa trong vòm những nếp uốn khối


    tảng


    - Các vỉa, mạch và thân quặng chữ S trong các


    nếp oằn ở rìa những nếp lồi


    - Các mạch và mạng mạch trong những nếp uốn


    Điapia


    -Gurđarrino


    (Liên xô)


    -Brich-Mulla


    (Liên Xô)


    -Chacurac


    (Liên  Xô)


        Kiến trúc đứt đoạn


    3. Trong những


    khối kiến tạo


    hình nêm bị


    nén ép


    - Các mạch trong những khe nứt cắt dạng bậc


    Thang


    -Sơn Dương


    4. Trong những


    đứt gãy lớn có


    các khe nứt


    lông chim


    - Các mạch trong những khe nứt lông chim


    - Các trụ, ống trong chỗ đứt gãy cắt qua các tầng


    đá thuận lợi


    - Các mạch trong những đứt gãy cổ có cấu trúc


    phức tạp


    -Suncan (Liên Xô)


    -Madan (Bungari)


    5. Trong những


    nút cắt nhau


    của các đứt gãy


    - Các trụ và ống ở nơi đứt gãy cắt nhau


    - Các mạng mạch trong những khe nứt đi kèm


    -Canxai (Liên Xô)


    -Katjaran


    (liên Xô)


    6. Trong những


    đứt gãy cắt


    thoải hoặc dốc


    - Các mạch và ổ ở nơi đứt gãy mở ra


    - Các mạch và mạng mạch trong những khe nứt


    tách xuất hiện ở chổ uốn cong của đứt gãy


    -Xađon (Liên Xô)


    -Chagan-uzua


    (Liên Xô)


    Kiến tạo


    magma sinh


    7. Trong các


    kiến trúc vòm


    - Các mạch và vỉa trong những đới cà nát và khe


    nứt đồng tâm và tỏa tia


    -Pia Oắc


    -Ngân Sơn


         Magma sinh


      Xâm nhập


    8. Trong đới tiếp


    xúc của các


    khối xâm nhập


    grabiotit


    - Các mạch vỉa thấu kính skarnơ trong đới ngoại


    tiếp xúc


    - Các mạch và mạng mạch ở đỉnh các vòm granit


    - Các mạch và mạng mạch trong những khe nứt


    hậu magma của các khối granitoit


    -Liaga (Liên Xô)


    -Thạch Khê


    -Xinovetx


    (Checoslovakya)


    -Judino (Liên Xô)


    -Claimacs (L. Xô)


      Magma sinh


    Xâm nhập


    9. Trong các


    khối xâm nhập


    phân vỉa


    - Các vỉa và mạch trong các khối xâm nhập


    mafic và siêu mafic


    - Các vỉa trong những khối xâm nhập kiềm


    -Busvenđơ


    (Nam Phi)


    -Noriaxo (L.Xô)


    Núi Chúa


    Lovozerơ (L.Xô)


    10. Trong những


    khối xâm nhập


    đa pha cấu tạo


    vòng phức tạp


    - Các mạch bán vòng tròn trong những khối xâm


    nhập kiềm


    - Các thân cacbonatit vòng trong các phức hệ


    xâm nhập siêu mafic-kiềm


    -Khibin (L.Xô)


    -Copdo (Liên Xô)


    -Alachơ


    (Thủy Điển)


       Phun trào


    11. Trong các


    vòm núi lửa


    - Mạch và mạng mạch trong các vòm trên họng


    núi lửa


    -Traxinvani


    (Rumani)


    -Potosi (Bolivia)


    12. Trong các


    trũng núi lửa


    - Các mạch, trụ, ống trong những kiến trúc kiểu


    Canđera


    - Các mạch và mạng mạch trong những trũng


    dạng tuyến


    -Xilvorton (Mỹ)


    13. Trong những


    kiến trúc họng


    và xâm nhập á


    núi lửa


    - Các mạch và mạng mạch trong các họng núi lửa


    - Các mạch và trụ trong những ống nổ núi lửa


    -Pilares (Mexico)


    -LaColorado


    (mexico)




       Biến chất sinh


    14. Các trường


    quặng bị biến


    chất



    -Broken-Hill (Úc)



    15. Các trường


    quặng biến chất



    -Kareli (Liên Xô)


    -Thạch khoán


    16. Các trường


    quặng siêu biến


    chất

































    PHẦN 3  CÁC KIỂU KIẾN TRÚC TRƯỜNG QUẶNG


    Chương 1: Kiểu kiến trúc nếp uốn.

    1.  Phân loại nếp uốn

       Nếp uốn là một dạng kiến trúc rất phổ biến trong các môi trường và mỏ quặng, chúng được hình thành trong những thời gian địa chất khác nhau và có vai trò quan trọng định vị các trường quặng. trong giáo trình địa chất cấu tạo đã trình bày khá chi tiết về dạng kiến trúc này cũng như việc phân loại chúng theo hình thái và nguồn gốc, kiến trúc trường quặng nghiên cứu các nếp uốn và vai trò khống chế quặng hóa của chúng trên cơ sở phân loại dạng kiến trúc này dựa vào cơ chế thành tạo.

    - Căn cứ vào cơ chế thành tạo được kiểm chứng qua kết quả thí nghiệm người ta chia nếp uốn ra 2 loại: nếp uốn ép dọc và nếp uốn ép ngang.

    Nếp uốn ép dọc được thành  tạo khi lực gây uốn nếp có phương song song hoặc trùng với bề mặt phân lớp của đá tạo nên nếp uốn . các nếp uốn ép dọc rất phổ biến  trong thực tế.

    Nếp uốn ép ngang được thành tạo khi lực gây uốn nếp có phương vuông góc với mặt phân lớp của đá tạo nếp uốn. trong thực tế các nếp uốn ép ngang ít phổ biến hơn dưới dạng các nếp uốn đơn lẻ có vòm thoải liên quan với vận đông magma xâm nhập, vận động khối tảng và ít hơn là sự thành tạo các vòm muối cơ chế hình thành các loại nếp uốn được thể hiện ở hình 1.



    Hình 1: cơ chế hình thành các nếp uốn ép dọc (a)và ép ngang (B).

    2. Đặc điểm nếp uốn ép dọc và trường quặng trong chúng

       Dưới tác dụng của lực kiến tạo có phương song song với bề mặt phân lớp, các lớp bị uốn cong và xiết trượt lên nhau làm xuất hiện các khe tách lớp ở phần bản lề nối tiếp giáp giữa các lớp vối nhau về tính chất cơ lý. Các lớp đá dẻo bị dồn từ 2 cánh về phía bản lề làm cho bề dày ở đây tăng lên  tạo nếp uốn đồng dạng. Trong trường hợp lớp đá dẻo nằm kẹp bởi hai lớp cứng chính. Phần bản lề bị căng giãn và hình thành những khe nứt cắt.

       Bình đồ biến dạng ứng với nếp uốn ép dọc có trục A thẳng đứng, trục C nằm ngang vuông góc với mặt trục nếp uốn, trục B song song với đường bản lề của nếp uốn.

       Nếp uốn bị chặn ở (hình 2) là dạng đặc biệt của nếp uốn ép dọc, phần đất dá ở hai đầu bị cố định (các đai cơ hoặc thể xâm nhập) không xiết trượt tự do được do vậy phần trung tâm các lớp bị dồn cong tạo thành các nếp uốn nhỏ dạng bướu trong nếp uốn lớn.



        Hình 2 :Cơ chế hình thành nếp uốn bị chặn

    a)vị trí ban đầu của các vỉa

    b)thí nghiệm đơn giản nhất

       Ngoài thực địa có thể nhận biết nếp uốn dọc nhờ vào kích thước và hình dạng của chúng. Các nếp uốn dọc thường có dạng tuyến và liên kết với nhau  tạo thành các đới hoặc các miền uốn nếp rộng lớn.

    Trong nếp uốn ép dọc, có thể gặp 4 kiểu kiến trúc chứa quặng sau đây :

      - Những  thân quặng dạng yên ngựa trong khe tách lớp phát triển ở bản lề các nếp lồi.

      - Những thân quặng dạng vỉa, dạng thấu kính và dạng mạch trong các khe nứt ở vòm các nếp lồi.

      - Các vỉa, ổ quặng trong cách nếp uốn bị chặn

      - Các vỉa trong đá dễ thấm, trên cánh các nếp uốn  bị các đứt gãy xuyên cắt. Các trường quặng trong nếp uốn ép dọc xuất hiện ở nhiều vùng kiến tạo - sinh khoáng khác nhau, trong các thành tạo địa chất có tuổi khác nhau.

        

    Hình 3: Trường quặng trong kiến trúc nếp uốn


    Hình 4: Kiến trúc nếp uốn thuận lợi cho tạo quặng

    *Dưới đây là một số ví dụ minh họa:

    a)Trường quặng vàngBbenđigo (Úc)

       Trường quặng Benđigo thuộc bang Victoria của nước Úc. Tham gia vào cấu trúc đại cahast trường quặng chủ yếu là tầng đá phiến và cát kết tuổi Ocđovic. Các đá này bị vò nhàu biến dạng mạnh mẽ tạo thành các nếp uốn đẳng tà dốc đứng với đường trục nằm ngang hơi thoải và gợn sóng. Quặng hóa vàng chủ yếu phát triển trong bản lề các nếp lồi, đôi khi trong cánh của một số nếp lõm. Trên mặt cắt, các thân quặng Au- thạch  anh dạng yên ngựa chồng xếp lên nhau trong phần vòm các nếp lồi rộng khoảng 30m và xuống sâu tới 1400m (hình 3)



    Hình 3: các thân quặng vàng - thạch anh dạng yên ngựa nhiều tầng trong mỏ Bendigo(Úc)

    1)đá phiến và cát kết; 2)mạch quặng ; 3)đứt gãy ngang; 4)đai cơ.

    Các thân quặng Au - thạch anh đôi khi chứa một lượng nhỏ các sunfua như pyrite, acsenopizit, galenit, xfalerit, pirotin… được thành tạo theo phương thức lấp đầy các khe hở tách lớp giữa các vỉa đá phiến và cát kết.

    b)Trường quặng Hg - Sb Jijicrut (Liên Xô cũ)


       Hình 4 là một mặt cắt qua trường quặng Hg –Sb Jijicrut. Giữa phức hệ cacsbonat (S2 – D2) và tầng lục nguyên ( D2 – C1)  có không chỉnh  hợp góc và tầng dăm kết bị thạch anh hóa. Tầng dăm kết chủ yếu được cấu thành bởi các đá cacbonat dập vỡ có về dày dao động từ vài phần mét đến vài chục mét và là tầng chứa quặng chính. Ở đới tiếp xúc giữa đá lục nguyên và cacbonat phát triển các nếp uốn kéo theo cho thấy phần nhân của nếp uốn chính bị trượt về phía nam (V. Chernysev và I. koric, 1973). Toàn bộ nếp uốn, nhất là phần phía nam bị cắt phá bởi các đứt gãy khá dốc, trong đó có những đưuts gãy nghịch á vĩ tuyến và những đứt gãy chờm nghịch phương đông bắc - tây nam. Các thân quặng dạng vỉa, thấu kính, mạch khá dầy tập trung trong những khu vực có nhiều đứt gãy cắt qua tầng dăm kết chứa quặng nói trên.



    Hình 4: Mặt cắt qua trường quặng thủy ngân - antimoan Jijicrut

    (theo I.korin, V.chernysev, k.kharkevich)

    1)đá vôi và đolomit (S2-D1); 2)đá vôi (D1); 3)đá phiến và đá vôi (D3-C1)

    4)đá vôi (C1); 5) dăm thạch anh - silic giữa tầng ; 6)đá phiến và cát kết (J)

    7)đứt  gãy ; 8)nết uốn kéo theo; 9)hướng dịch chuyenr các vỉa; 10) đứt gãy chờm nghịch alpi; 11)ranh giới các lớp(a) và đứt gãy (B)đã bị xói mòn.

         Để minh họa cho các trường quặng trong nép uốn ép dọc, chúng tôi dẫn mặt cắt qua trường quặng Hg-Sb khaiddarcan và mặt cắt qua trường quặng Nikitopca

    (hình 5 và 6). Trong đó ở hình 5 thể hiện các vỉa và ổ quặng trong nếp uốn bị chặn, hình 6 thể hiện các vỉa quặng trong cánh nếp uốn nơi có đứt gãy cắt qua tầng đá thuận lợi.

      
       Hình 5: Quặng hóa  Hg - Sb trong mỏ Khaiddarcan

    6]a) Tách lớp ở bản lề nếp lồi

    6]B) Tách lớp trên cánh nếp lồi

    6]1)đá vôi tấm mỏng; 2)đá phiến;

    6]3)đá bị thạch anh hóa chứa quặng hóa thủy ngân và antimoan









      








    Hình 6: mặt cắt qua trường quặng thủy ngân nikitopca(theo A.Đobrjansky)

    1)đá phiến; 2)cát kết; 3)đá dăm kết; 4)thân quặng dạng vỉa

    3. Đặc điểm của nếp uốn ép ngang và trường quặng trong chúng

       Như đã nói ở trên các nếp uốn ép ngang hình thành khi lực gây uốn nếp có phương thẳng góc với những mặt phân lớp của đất đá tạo nếp uốn. Lực tạo nếp uốn ép ngang thường là lực gây bởi hoạt động magma xâm nhập hoặc liên quan với vận động khối tảng của móng cơ sở. Ngoài thực tế các nếp uốn ép ngang thường phân bố đơn lẻ, có dạng hộp, dạng vòm . các nếp uốn ép ngang thường thành tạo trong những miền căng dãn của vỏ Trái đất. Bình đồ biến dạng ứng với các nếp uốn kiểu này thường có trục C (δa) thẳng đứng , trục A (δ1) sau đây:

    -  Các mạch và vỉa quặng trong vòm các nếp uốn khối tảng

       - Các thân quặng dạng vỉa, dạng mạch hoặc thấu kính trong các nếp oằn  phát triển ở phần cánh các nếp lồi
       - Các vỉa và mạng mạch trong vòm các nếp uốn diapia
       - Các vĩa và mamg mạch trong vòm các nếp uốn diapiacacs nếp uốn ép ngang thường xuất hiện trong những miền hoạt hóa  magma - kiến tạo và là các kiên trúc chứa quặng quan trọng ở những miền này.

        Hình : Sơ đồ nếp uốn và trường quặng trong chúng

    *Dưới đây là một số ví dụ minh họa:

    a)trường quặng thủy ngân - antimoan Gurđarino

       Trường quặng Gurđaririno có cấu trúc nếp lồi địa lũy có dạng hộp được giới hạn

    bởi những đứt gãy lớn á kinh tuyến về phía đông và phía tây.



    Hình 7: Mặt cắt qua trường quặng thủy ngân - antimoan Gurđarino

    1)đá phiến, cát kết, quaczit; 2)đá vôi; 3)phiến sét, bột kết;

    4)đứt gãy; 5)đá bị thạch anh hóa chứa quặng

       Mặt cắt qua trườn quặng (hình 8)cho thấy nếp lồi địa lũy có nhân là đá vôi phân lớp  mỏng tuổi silua muộn - Đevon sớm, vòm được cấu thành từ các đá trầm tích lục nguyên  deon trên - Cacbon dưới. giữa hai tầng trầm tích trên  là tập gồm đá phiến silic, vôi silic và dăm kết silic được gắn kết bằng fluorit và vạt chắt quặng, bề dày không ổn định.

    Các thân quặng ở dạng vỉa, mạch đôi khi mạng mạch tập trung trong đới đá dăm kết bị silic hóa nói trên. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là antimonit, xinoba, bulanjerit, realga và auripicmen.

    b)mỏ quặng acsenopyrit brich –mulla(Trung Á - Liên xô)

       Các vỉa,mạch quặng dạng chữ s trong nếp oằn thuộc cánh của các nếp uốn  khối tảng khá phổ biến trong các trường quặng ở vùng Trung Á của Liên xô cũ, điển hình là mỏ quặng Brich - mulla (hình 8)



      Hình 8: Mặt cắt qua trường quặng acsenopyrit Brich - mulla(theo G.viropljansky)

        1)đá vôi phân lớp mỏng; 2)đá vôi dạng khối ;

      3)thân quặng ; 4)vỉa bị quặng hóa; 5)đứt gãy

    Các thân quặng phát triển chủ yếu trong những tập đá thuận lợi hoặc những ranh giới giữa các tầng đá  khác nhau về tính chất cơ lý. Hình thái và kích thước các thân quặng rât đa dạng về tính chất cơ lý. Hình thái và các kích thước các kiến trúc chứa quặng định vị trong các tầng đá thuận lợi  (đá vôi) hoặc ở ranh giới giữa đá vôi dạng khối và đá vôi phân lớp mỏng.

    c) Trường quặng acsenopyrit Chacurac (Liên Xô cũ)

       Hình 9 biểu diễn bình đồ và mặt cắt qua trường quặng Chacurac là ví dụ đặc trưng cho các vỉa và mạch quặng phát triển trong các nếp uốn điapia. Ở đây đá vôi, đá phiến filit và thạch anh - xerixit tuổi Silua muộn tạo thành nếp lồi có nhân là đá vôi dạng khối rộng 150m. Thân quặng dạng cán hay thấu kính phát triển tập trung ở đới tiếp xúc kiến tạo giữa đá vôi và đá phiến.




       Hình 9: Bình đồ và các mặt cắt qua trường quặng acsenopyrit Chacurac trong nếp uốn điaba

    1.   Trần tích hiện đại ; 2. Đá vôi ;. Phiến thạch anh-xerixit ; 4. Phiến silic và filit

       5. Đứt gảy ; 6. Thân quặng




    Chương 2: Các Kiểu kiến trúc phá hủy đứt đoạn

    1. Khái quát chung về các cấu tạo đứt đoạn

       Các kiến trúc đứt đoạn bao gồm các đứt gãy và khe nứt xuất hiện trong đất đá khi cường độ gây biến dạng vượt quá giới hạn biến dạng dẻo của các thể địa chất.

       Các nội dung về đứt gãy và khe nứt kiến tạo, vai trò của chúng đối với quá trình hình thành, phát triển cấu trúc và khoáng hóa đã được nghiên cứu kỹ trong nhiều giáo trình chuyên môn. Dưới góc độ kiến trúc trường quặng cần thống nhất một số nội dung căn bản sau:

      - Các đứt gảy kiến tạo có quy mô và lịch sử phát triển khác nhau, chúng có thể xuất hiện trước, cùng hoặc sau quặng hóa, chúng có thể là yếu tố dẫn quặng, phân phối hoặc kiến trúc chứa quặng.

      - Các đứt gãy kiến tạo thường kéo theo các hệ khe nứt đi kèm tạo nên những đới dập vỡ có độ thẩm thấu tốt, tạo điều kiện định vị các trường và mỏ quặng, đặc biệt tại miền đứt gãy uốn cong hoặc tỏa nhánh.

      - Các đứt gãy kiến tạo tuy khác nhau về quy mô và vai trò đối với quặng hóa. Song về cơ chế xuất hiện khá giống các khe nứt vì vậy có thể xem chúng như những khe nứt có quy mô lớn.

    * Các kiến trúc đứt đoạn gồm 2 loại chính: tách và cắt.

      - Các khe nứt tách xuất hiện trong điều kiện căng giãn còn các khe nứt cắt hình thành trong hoàn cảnh ép nét có kèm theo dịch chuyển xiết trượt của vật liệu.

    - Các khe nứt tách thường không thẳng, có các vách gồ ghề, lởm chởm thế nằm của các khe nứt tách biến đổi mạnh theo hướng dốc do phụ thuộc nhiều vào tính chất cơ lý của các tầng đá mà chúng cắt qua. Các khe tách thường đổi phương khi chuyển từ một loại đávào loại đá có đặc tính cơ lý khác nhau hoặc mất hẳn khả năng duy trì theo phương và hướng dốc của các khe tách kèm và thường có độ mở khi thành tạo.

    - Khe nứt cắt thường thẳng, có vách nhẵn, nhiều khi láng bóng và hằn vết trượt xiết của vật liệu. Thế nằm các khe nứt không phụ thuộc vào tính chất cơ lý của đá mà chúng cắt qua. Khi hình thành các khe nứt tách thường khép kín và trong chúng hình thành dăm kết kiến tạo. Khả năng duy trì cử các khe nứt thường tốt hơn do với khe nứt tách và đi cùng với chúng thường kèm theo các khe nứt lông chim.

      Ngoài khe nứt tác và cắt, liên quan với cấu trúc dạng vòm hoặc cấu trúc núi lửa đôi khi còn phân biệt các khe nứt vòng có dạng uốn cong trên hình đồ, dạng phễu trên mặt cắt. Tuy nhiên, xét cho cùng khe nứt vòng cũng gồm 2 loại là khe nứt tách và khe nứt cắt.


    Hình 10: Khe nứt tách và khe nứt cắt

    2. Cơ chế thành tạo các kiến trúc phá hủy đứt đoạn

       Phân tích quá trình biến dạng của các thể địa chất, làm sáng tỏ sự thành tạo và quy luật phân bố của các phá hủy, đứt đoạn, mối liên quan của các kiến trúc này với sự định hướng các trục biến dạng chính A, B, C là một nhiệm vụ quan trọng trong nghiên cứu cấu trúc nói chung, kiến trúc trường và mỏ quặng nói riêng. Cơ sở lý thuyết của phương pháo nghiên cứu khe nứt kiến tạo đã được trình bày chi tiết trong giáo trình địa chất cấu tạo cũng như các phần các phương pháp nghiên cứu kiến trúc trường quặng, dưới đây chỉ lược dẫn một số kết quả nghiên cứu chính.

      Hình 11 là sơ đồ phân bố các khe nứt tách (K1 và cắt K2) trong trường hợp biến dạng phẳng ứng với các trạng thái ứng suất khác nhau.


    Hình 11: Sơ đồ phân bố các khe nứt tách và khe nứt cắt trong trường hợp biến dạng phẳng ứng với các dạng ngoại lực khác nhau.

    δmax : ứng suất pháp tuyến cực đại;

    ٦­max ứng suất tiếp cực đại;

    Các ứng suất chính:

    275]a)   Căng giãn cực đại;

    275]B)    B) không ứng suất;

    275]c)    c) ép nén cực đại ;

      Các trục biến dạng chính:
    A)    Căng giãn cực đại ( trục dài);
    B)    Trục trung gian( trong trường hợp biến dạng phẳng không thay đổi)
    C)    Trục nén ép cực đại ( trục ngắn); 1,2: phương của ứng suất tiếp tuyến cực đại;
    Hệ thống các khe nứt kiến tạo:

    4]I)    Khe nứt cắt; II) Khe nứt cắt ; III) Khe nứt tách


      Trong trường lực căng giãng xuất hiện 2 hệ thống khe nứt cắt tạo với trục biến dạng A một góc 450. Giao tuyến của hai hệ thống khe cắt này trùng với trục B. Do sự sai khác nhau về tính chất cơ lý của các tầng cơ lý của các tầng đất đá không đồng nhất nên góc a (góc tạo bởi mặt khe nứt cắt với trục A) trên thực tế dao động khoảng 15 – 350 . Hệ khe nứt tách duy nhất trong trường hợp này có phương thẳng góc với trục biến dạng A.
      Trong trường ứng lực ép nén, hai hệ thống khe cắt hợp với nhau 1 góc bằng 900 và nhận trục C làm đường phân giác, còn hệ khe nứt tách có phương trùng với trục C.
      Dưới tác động của trường ngẫu lực, vật thể bị biến dạng phức tạp, khi đó các trục của elipxoid biến dạng bị biến đổi vị trí trong không gian. Trong trường hợp này các hệ thống khe nứt cắt tạo với trục A một góc ≤ 45o , hệ thống khe nứt tách có phương trùng với trục ép nén C.
        Hình 12 là sơ đồ phân bố các khe nứt đi kèm với đứt gãy dịch ngang. Trong trường hợp này hình thành 3 hệ thống khe nứt: 2 hệ thống khe nứt cắt và 1 hệ thống khe nứt tách. Các khe nứt tách tạo góc nhhonj (a) với mặt trượt hước của góc nhọn a, chỉ hướng chuyển dịch của cánh chứa khe nứt. Một trong hai hệ thống khe nứt cắt song song với đứt gãy, hệ thống còn lại hợp với đứt gãy một góc tù b.







    Hình 12: Sơ đồ thành tạo các khe nứt đi kèm với đứt gãy trượt bằng.

    575]1)   Phá hủy đứt gãy chính; các khe nứt sinh kèm; 2) Khe nứt cắt; 3) Khe nứt tách; A,B,C – Các trục biến dạng chính; a: góc nhọn được tạo bở khe nứt tách với mặt trượt của đứt gãy; b: Góc tù được tạo bởi khe nứt cắt với mặt trượt của đứt gãy. Các mũi tên chỉ hướng chuyển dịch của các đá hai bên đứt gãy. Đường gạch đứt đoạn hiển thị các khối đá lập phương trước lúc bị biến dạng.

        Hình 13 là sơ đồ thành tạo các khe nứt đi với đứt gãy thuận.





    Hình 13: Sơ đồ thành tạo các khe nứt đi kèm với đứt gãy thuận( các ký hiệu quy ước xem ở hình 12)


    Trên bình đồ các hệ thống khe nứt cắt và tách có phương song song với phương kéo dài của đứt gãy. Trên mặt cắt, các khe tách tạo với mặt trượt đứt gãy một góc nhọn theo phương dịch chuyển, một trong 2 hệ khe cắt song song với mặt trượt, hệ khe cắt còn lại tạo với mặt trượt một góc thoải.
        Hình 14 là sơ đồ thành tạo các khe nứt kéo theo đi với đứt gãy ngang thuận. Sự định hướng của các hệ thống khe nứt đi với đứt gãy ngang thuận phức tạp hơn.









    Hình 14: Sơ đồ thành tạo cá khe nứt đi kèm đứt gãy ngang thuận

    R: Hướng chuyển dịch của cánh treo của đứt gãy ngang thuận vuông góc với đường giao (ab) của khe nứt tách với mặt trượt của đứt gãyCác ký hiệu quy ước còn lại xem ở hình 12


       Trên bình đồ và mặt cắt, các khe nứt tách tạo góc nhọn với mặt trượt đứt gãy, hướng của góc nhọn trùng với hướng dịch chuyển của cánh chứa khe nứt. Tại miền uốn cong của đứt gãy mật độ các khe nứt kéo theo thường rất cao( Hình 15a,B).






    Hình 15: Sơ đồ thành tạo các khe nứt đi kèm ở những phần uốn cong của các đá phá hủy đứt gãy

    a) Đứt gãy ngang( bình đồ, theo V.Ph.Trernuwssev);

    B)    Đứt gãy nghịch (mặt cắt)

    35]1)   Phá hủy đứt gãy chính; các khe nứt đi kèm

    35]2)   Khe nứt cắt;

    35]3)   Khe nứt tách; các mũi tên chỉ hướng chuyển dicgj của các đá hai bên cánh đứt gãy.

    3. Trường quặng trong các kiến trúc đứt đoạn

    Các trường và mỏ quặng liên quan với các đứt gãy và khe nứt rất phổ biến, đa dạng và tạm xếp vào 4 kiểu chính (Vũ Xuân Độ 1991).

    - Các trường quặng trong những khối kiến tạo nén ép hình nêm

    - Các trường quặng trong các đứt gãy lớn có ngững khe nứt lông chim đi kèm

    - Trường quặng trong các nút giao nhau của các đứt gãy

    -   Trường quặng trong các đứt gãy cắt

    a. Các trường quặng trong những khối kiến tạo nén ép hình nêm

    - Các mạch trong những khe nứt cắt dạng bậc thang, điển hình như mỏ thiếc

    Sơn Dương - Tuyên Quang.


        Hình 16: Mỏ thiếc Sơn Dương - Tuyên Quang

    b. Các trường quặng trong các đứt gãy lớn có ngững khe nứt lông chim đi kèm

       Thực tế cho thấy các đứt gãy lớn thường là những phá hủy cắt có kèm theo sụ dịch chuyển của các cánh và phổ biến các hệ khe nứt đi kèm:

    - Các mạch trong những khe nứt lông chim.

    - Các kiến trúc chứa quặng và hình dáng thân quặng trong các trụ, ống trong chổ đứt gãy cắt qua các tầng đá thuận lợi.

    - Các mạch trong những đứt gãy cổ có cấu trúc phức tạp.

    Hình 17 là sơ đồ kiến trúc trường quặng Sb –Hg SunCan của Liên Xô



       Hình 17: Sơ đồ kiến trúc trường quặng SunCan (theo V.Fedochuc)

    1. Đá phến (C2-3) ; 2. Cuội kết(C2-3) ; 3. Đá vôi(C1) ; 4. Đá phiến(S2) ; 5. Dải đá secpentinit ;

    6. Xientino ; 7. Đứt gãy các cấp ; 8. Mạch cacbonat chứa xinoba ; 9. Biểu hiện quặng hóa đa kim.

      Đại biểu cho kiến trúc chứa quặng là những khe nứt lông chim đi kèm với đứt gãy chờm nghịch bắc Catran, phương vĩ tuyến và cắm về phía nam trung bình 300-400. Dọc theo đứt gãy này đá phiến silua gữa trườm lên thành tạo lục nguyên - cacbonat trẻ hơn. Các khe nứt lông chim hát triển chủ yếu trong cánh của đứt gãy. Quặng hóa tập trung trong các khe nứt này phát triển trong tầng đá thuận lợi cuội kết và cát kết.

    Hình 17 là mặt cắt trường quặng đa kim Mađan (Bungari) thể hiện các trụ và ống quặng hình thành ở nơi đứt gãy qua tầng đá thuận lợi.






      Hình 18: Mặt cắt qua trường quặng đa kim Mađan (theo R.Đokop)

    1. Đá gơnai ; 2. Đá hoa ; 3. Đá gownai 2 mica ; 4. Quặng sunfua ; 5. Skarơ ; 6. Đứt gãy

    Theo tài liệu của R.Bucop thì các mạch quặng dạng dải mỏng lấp đầy các khe nứt cắt qua tầng đá phiến và cacbonat. Tại nơi những mạch này cắt qua đá vôi xuất hiện các trụ quặng chất lượng cao, trong đó các sunfua chì kẻm cộng sinh với hendenbegit. Quặng hóa hình thành theo phương thức biến chất trao đổi thay thế.

    c. Trường quặng trong các nút giao nhau của các đứt gãy

       Kiểu kiến trúc trường quặng này đực trưng cho các trường mỏ quặng của thiếc, chì, kẻm và ít hơn là quặng manhetit. Ở đây thường gặp 2 kiểu kiến trúc chứa quặng là các trụ quặng ở các giao tuyến của các đứt gãy và các mạng mạch trong các đới nứt nẻ đi kèm.








    Hình 19: Các thân quặng skarơ trong mỏ đa kim Canxai

    1. Đá vôi ; 2. Xienit-pocfia ; 3. Đá skarơ ; 4. Đứt gãy ; 5. Thân quặng dạng ống

    Các đứt gãy cắt nhau tạo tiền đề hình thành các trụ quặng và những khe nứt cắt, còn hệ khe nứt đi kèm với đứt gãy chính thường là khe nứt tách. Các trụ quặng chính phát triển khá ổn định theo hướng dốc còn các thân phân nhánh nằm trong các khe nứt tách có hình dáng rất biến động cả về thiết diện ngang cả về hướng dốc.

      

        Hình 20: Kiến trúc đứt gãy và mạch chứa quặng

    Tham gia vào cấu trúc địa chất trường quặng chủ yếu là các đá xâm nhập gồm granit, granodiorit, monzonit, và diorit. Các đá này bị chia cắt bởi hệ thống đứt gãy chéo phương nhiều đai mạch có thành phần khác nhau. Khoáng hóa tập trung trong các khe nứt đi kèm với các hệ đứt gãy trước quặng(hình 21).



      Hình 21: Sơ đồ địa chất trường quặng molipdenit Katjaran

    1. Trầm tích đệ tứ; 2. Granodiorit pocfia pha muộn; 3. Granodiorit pocfia pha sớm; 4. Minelit; 5. Xpexatit; 6. Apatit; 7. Granit và granodiorit dạng pocfia; 8. Monzonit; 9. Điorit; 10. Pocfirit andezit và tur; 11 monzonit biến đổi vừa; 12. Mozonit biến đổi mạch; 13. Đứt gãy; 14. Ranh giới quặng hóa.

    d. Trường quặng trong các đứt gãy cắt thoải hoặc dốc

       Các đứt gãy cắt có thể là đứt gãy thuận, nghịch, ngang hoặc chườm nghịch với góc cắm nghiêng thoải đến dốc đứng. Liên quan với chúng là các trường quặng ở các mạch và mạng mạch phát triển ở những khu vực đứt gãy mở ra hoặc uốn cong.

    Hình 18 sơ đồ trường quặng đa kim Xađôn vùng bắc Kapkaz của Liên xô là ví dụ cho kiểu trường quặng dạng mạch phát triển ở những khu vực đứt gãy mở ra.

    Trường quặng mằm trong nhân của một nếp lồi được cơ cấu từ đá granit Paleozoi. Quặng hóa tập trung trong một đới đứt gãy cắm dốc về phía đông bắc và phân nhánh phức tạp.

    Quá trình tạo quặng diễn ra lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn, giai đoạn đầu có khoáng hóa thạch anh - pyrit. Tiếp đến là quá trình tạo quặng chính: thạch anh - galenit, sphalerit, Bauxit- galenit- sphalerit. Giai đoạn cuối thành tạo không quặng.



    Hình 22: Cấu tạo đứt gãy chúa quặng Xađôn (theo E.Necraxop)

    1. Granit; 2. Cuội kết cơ sở; 3. Đường khâu và khe nứt có sét kiến tạo; 4. Mạng mạch thạch anh - pyrit - gralenit – sphalerit.

    Quặng hóa phát triển tại những khu vực đứt gãy uốn cong thường trùng với diện tích phân bố các thấu kính hypecbazit dưới dạng các trụ quặng hoặc những mạch quặng lấp đầy các khe nứt tách.



    Hình 23: Mặt cắt qua trường quặng thủy ngân Chagan-Uzun

    1.Đá phiến phun trào(C1); 2. Đá vôi silic hóa(C1); 3. Secpentinit(C1); 4. Cuội kết và

    cát kết(C3-O1); 5. Đá vôi(C3-O1); 6. Pocfinit(D3); 7. Phiến sét và đá vôi(D3); 8. Đứt gãy;

    9. Thân quặng


    Hình 24: Sự thành tạo mỏ nhiệt dịch trong các khe nứt




       Chương 3: Các kiểu kiến trúc magma xâm nhập.
    Xếp vào yếu tố kiến trúc này gồm các khối magma xâm nhập có thành phần khác nhau, các thể á núi lửa và các họng núi lửa. Ở các mức độ khác nhau các kiến trúc kể trên đều thể hiện các vai trò khống chế vị trí các trường và mỏ quặng.

    8]

       Hình 25: Trường quặng trong kiến trúc magma xâm nhập
       Quan hệ giữa quặng hóa và đá magma có thể cùng hoặc khác nguồn, song các yếu tố kiến trúc khống chế các khối magma thường cũng là các yếu tố khống chế các trường và mỏ quặng liên quan. Điều này thể hiện rõ nhất với các trường quặng magma thực sự trong các xâm nhập siêu mafic, mafic và kiềm
    Trong những trường hợp này các yếu tố định vị khối xâm nhập cũng đồng thời là các yếu tố khống chế quặng. Đi cùng với nhóm này gặp 3 kiểu kiến trúc trường quặng chính:
       - Trường quặng ở đới tiếp xúc của các khối granitoit
       - Trường quặng trong khối xâm nhập phân vỉa
       - Trường quặng trong các khối xâm nhập đa pha cấu tạo đa vòng
    a. Trường quặng ở đới tiếp xúc của các khối granitoit

    Hình26 : Mặt cắt mỏ sắt Thạch khê tiếp xúc với đá granit

    Sơ đồ mặt cắt địa chất của mỏ vonfram-molipden lianga vùng trung á, Liên xô

           Hình 27: Sơ đồ địa chất mỏ quặng W-Mo lianga(Liên xô)
    1. Đá phiến; 2. Đá vôi; 3. Adamiolit; 4. Tonalit; 5. Granit-aplit; 6. Đá sừng; 7. skarn
    Khối xâm nhập có cấu tạo phân đới khá rõ phần trung tâm là các granit biotit
    *Ví dụ minh họa cho trường quặng gồm các mạch và mạng mạch ở đỉnh các vòm xâm nhập granit

       Hình 28: Mặt cắt địa chất trường quặng xinovetx, Checoslovakya
    1. Granit-porfia; 2. Bướu granit-porfia; 3. Greizen; 4. Greizen quặng hóa yếu;    5. Greizen chúa thiếc; 6. Mạch thạch anh
    Tại đây gặp các mạch thạch anh-canxiterit-vonframit lấp đầy các khe nứt thoải tập trung ở phần vòm của khối granit alaskit bị greizen hóa mạnh mẻ.

      Hình 29: Trương quặng trong kiến trúc magma

    Hinh 30: Sờ đồ địa chất vùng Kalba-Narum điển hình cho trường quặng Sn-W nằm trong kiến trúc kiểu nội địa vồng của miền uốn nếp Hecxini


    H×nh 31: Sơ đồ địa chất vùng Agin, đông Zabaican điển hình cho trường quặng Sn-W thuộc khối Aghina

    b. Trường quặng trong khối xâm nhập phân vỉa
    Trên thực tế gặp nhiều khối xâm nhập mafic, siêu mafic và kiềm do kết tinh trong những điều kiện phân di tốt nên có cấu trúc phân vỉa. Mổi lớp của thể xâm nhập kiểu này dều ứng với thành phần xác định và tăng dần tính axit từ dưới lên . Quặng hóa thường có thế nằm chỉnh hợp với một số loại đá nhất định trong khối xâm nhập phân vỉa đó.
      
       Hình 32: Mặt cắt trường quặng trong các khối xâm nhập phân vỉa
    c. Trường quặng trong các khối xâm nhập đa pha cấu tạo đa vòng
    Các khối xâm nhập kiểu này thường có thành phần kiềm và thuộc kiểu xâm nhập trung tâm, liên quan với kiểu kiến trúc này thường gặp các mạch quặng bán vòng tròn trong các khối đá kiềm và các thân cacbonat dạng đồng tâm hoặc tỏa tia.
    Ví dụ trường quặng Apatit Khibin(Liên xô)

        Hình 33: Sơ đồ cấu trúc địa chất khối Khibin
    Khối khibin có dạng hình móng ngựa với thành phần chủ yếu là các đá xienit có nefelin iyolit… và được hình thành do quá trình xâm nhập kéo dài, nhiều pha. Trong phạm vi trường quặng phát triển nhiều dứt gãy, ngòa những đứt gãy dạng vòng cong còn khá phổ biến những đứt gãy dạng tỏa tia.

    Hình 34: Sơ đồ mỏ skar trong kiến trúc magma xâm nhập


    Hình 35: Sơ đồ mỏ fegmatit trong kiến trúc magma xâm nhập


       Hình 36: Sơ đồ mỏ magma xâm nhập



    Chương 4: Các kiểu kiến trúc magma phun trào.


    Trên những diện tích phát triển những magma phun trào đã phát hiện hàng loạt mỏ kim loại màu, quý, hiếm, urani, sắt…trong đó có nhiều mỏ có quy mô lớn. Các kiểu kiến trúc trường và mỏ quặng loại này phụ thuộc vào điều kiện địa chất và cấu trúc công trình núi lửa trong các diện tích chứa quặng.

    - Trường quặng trong các vòm núi lửa.

    - Trường quặng trong các trũng núi lửa.

    - Trường quặng trong các kiến trúc họng và á xâm nhập á núi lửa.

    a. Trường quặng trong các vòm núi lửa

    Vòm núi lửa là cấu trúc dương được cấu thành từ các đá phun trào bị các thể họng và đá phun trào xuyên cắt. Trong trường hợp xâm thực không sâu, các lớp phủ trong vòm núi lửa dốc thoải từ tâm ra rìa cấu trúc, mặt tiếp xúc giữa các đá núi lửa và đá móng phía dưới là không chỉnh hợp địa tầng thường bị đứt gãy chia cắt phức tạp.

    Ví dụ như mặt cắt qua quặng thiếc Potosi(Bolivia)










      

       Hình 37:Mặt cắt qua trường quặng Potosi

    1.Mạch quặng; 2. Đới thạch anh hóa; 3. Pocfia thạch anh; 4. Tuf caracoles;5. Cuội kết neogen; 6. Đá ocdonvic

    Trường quặng là một họng núi lửa được lấp đầy bởi các xâm nhập á núi lửa pocfia thạch anh, bị chia cắt bởi nhiều hệ khe nứt cực kỳ phức tạp. Trong các khe nứt này phát triển các thân quặng thiếc dạng mạch và mạng mạch.

    b. Trường quặng trong các trũng núi lửa

    Trong cấu trúc này thường gặp các thể á xâm nhập và họng núi lửa nằm ẩn trong móng, bên cạnh những đứt gay dốc đứng còn có những theo lớp đặc biệt ở phần móng của trũng.

    Hoạt động xâm nhập sau phun trào có thể thuộc toàn bộ hố trũng hoặc phần trung tâm của nó lún xuống, tạo thành những hố trũng dạng chậu hay còn gọi là canedera.

    Ví dụ trường quặng đa kim vàng bạc Xinverton ở bang Coloradocủa Mỹ.


        Hình 38: Trường quặng trong trũng núi lửa

    c. Trường quặng trong các kiến trúc họng và á xâm nhập á núi lửa

    Hình dạng và quy luật phân bố của thành tạo này phụ thuộc đáng kể vào đặc điểm của các kiến trúc phá hủy trong chúng. Các họng núi lửa thường nằm ngay trong các đứt gảy đặc biệt trong đới giao nhau của các đứt gãy. Trong các kiến trúc đang xét gặp nhiều trường mỏ urani-molipden, thiếc, bạc, fluorit, đồng…

    Ví dụ mạng mạch trong các họng núi lửa là mặt cắt qua mỏ đồng pilaren(Mexico)
















        Hình 39: Mặt cắt và bình đồ mỏ đồng Pilares

    1.Dăm kết andezit-đaxit; 2. Dăm kết andazit; 3. Momsonit; 4. Đai cơ thành phần mafic; 5. Thân quặng; 6. Đứt gãy
    Trong các họng núi lửa được lấp đày bới các vật liệu dăm kết núi lửa phát triển dày dặc các mạch và mạng mạch quặng đồng. trong nhiều trường hợp, có thể xem họng núi lửa như một thân quặng lớn hình trụ có cấu tạo phức tạp.
         

    Hình 40: Kiến trúc họng núi lửa hoặc kiến trúc á xâm nhập

    Chương 5: Các kiến trúc biến chất sinh.

        Trong các thành tạo móng kết tinh cổ tiền cambri có rất nhiều trường mỏ quặng khác nhau. Chúng được hình thành do kết quả phát triển và tiến hóa lâu dài của vỏ trái đất . Điều kiện thành tạo các trường và mỏ quặng biến chất rất đa dạng trong đó yếu tố biến chất khu vực chiếm vị trí trọng yếu nhất trong việc hình thành những kiến trúc các trường quặng biến chất.

    *Theo V.Kazansky (1982) phân ra 3 kiểu kiến trúc: - Các trường quặng bị biến chất

       - Các trường quặng biến chất

          - Các trường quặng sau biến chất

    a. Các trường quặng bị biến chất.

       Quá trình biến chất khu vực xảy ra mạnh mẽ đã làm biến đổi sâu sắc các trường và mỏ quặng có nguồn gốc khác nhau tạo thành các trường, mỏ quặng bị biến chất. Trong các trường quặng bị biến chất rất phổ biến các mỏ quăczit sắt, ngoài ra còn gặp các mỏ đồng, chì, kẻm, vàng, bạc …

    *ví dụ mỏ điển hình: mỏ đa kim lớn nhất thế giới Broken-Hill (úc)



       Hình 41: Các mặt cắt ngang trường quặng Broken-Hill (úc) “theo A.Seglop 1978”

    1.Amfibolit ; 2. Granitogơnai ; 3. Phiến silimanit ; 4. Tầng amfibolit dưới ; 5. Quaczit sắt ; 6. Tầng “mạch” ; 7. Thân quặng ; 8. Tầng amfibolit trên ; 9. Đới vò nhàu ; 10. Granitogơnai trên ;  11. Khu tập trung thân quặng

       Trường quặng này nằm trong một dải có kích thước 2*18km, kéo dài theo phương bắc-đông bắc. Trên bình đồ kiến trúc hiện tại, trường quặng là một nếp lỏm lớn được cấu thành bởi các đá biến chất loạt wiliam bị vò nhàu phức tạp và bị chia cắt bởi những dứt gãy và dăm kết.

          Hình 42: Mỏ biến chất đồng-niken bản phúc

    b. Các trường quặng biến chất.

       Các trường và mỏ quặng biến chất xuất hiện do kết quả của các quá trình di chuyển và tập trung các tổ phần có ích trong các quá trình biến chất. Thuộc nhóm này có các mỏ manhetit và flofopit trong skarnơ manhezit, fegmatit chứa mutscovitvaf đa kim loại hiếm, các mạch thạch anh áp điện … trong các tầng đá biến chất cổ.

    *ví dụ mỏ điển hình: trường quặng fegmatit chứa mica vùng Kareli-Liên Xô




    Hình 43 : Các mặt cắt ngang qua các mạch pegmatite chứa mica “theo N.Gorlop 1973”

    1.Fegmatit ; 2. Gơnai ,biotit ; 3.Gơnai cao nhôm ; 4. Gơnai biotit và cao nhôm xen kẻ nhau ;

       5. Thớ lớp ;      6. Trục nếp uốn bậc hai

       Trong phạm vi trường quặng fegmatit chứa mica vùng Kereli - Liên Xô gặp hàng loạt các thân fegmatit dạng mạch, vỉa và thấu kính nằm trong đá gơnai. Các thân fegmatit dạng vỉa và thấu kính nằm chỉnh hợp với thớ lớp của đá vây quanh, phát triển ơ những khu vực đá vây quanh cắm dốc. Các thân quặng dạng mạch được hình thành trong quá trình thành tạo nếp uốn địa phương bằng cách lấp đầy các khe nứt cắt trượt được mở ra trong quá trình uốn nếp.

       Trường fegmatit Thạch khoán - Phú Phọ có nhiều nét gần gũi với kiến trúc của trường quặng nói trên.


    Hình 44: Trường fegmatit Thạch khoán –Phú thọ

       Cũng như vậy trường quặng skarnơ Thạch Khê - Hà Tĩnh có nhiều nét là trường quặng biến chất. Tiêu biểu ở khu vực Thạch Khê – Hà Tĩnh. Quy mô lớn, nằm ở đói tiếp xúc giữa granitoit tuổi Mz và các đá carbonat tuổi Paleozo. Khoáng sản liên quan la sắt. Mỏ sắt Thạch Khê có trữ lượng lớn nhất cả nước


        Hình45 : Sơ đồ mặt cắt ngang mỏ sắt Thạch Khê – Hà Tĩnh

    Hình 46: Sơ đồ trường quặng biến chất


    Hình 47: Mỏ biến chất scottisl vùng highlands


    Hình 48: Đá hoa biến chất Quỳ Hợp-Nghệ An


    Hình 49: Đá biến chất granitoit và mỏ môzonit


    c. Các trường quặng siêu biến chất.

       Các trường, mỏ quặng loại này là những thành tạo metasomatit kiềm chứa quặng nằm trong những đứt gãy lớn của móng kết tinh và không thể hiện quan hệ rõ với các khối magma cụ thể. Các trường, mỏ quặng siêu biến chất được định vị trong đá granite gơnai hoặc những khe hẹp được lấp đầy bởi những tầng trầm tích – núi lửa bị biến chất. Quá trình thành tạo các loại mỏ quặng này liên quan mật thiết với các dung dịch nhiệt dịch sau biến chất có kali, natri hoạt tính cao và chứa quặng tantan, niobi. Các đứt gãy vây quanh những thành tạo metasomatit kéo dài hàng chục đôi khi hàng trăm km, dốc 60-70o và không kèm theo xâm nhập mafic hoặc siêu mafic chúng thường bao gồm nhiều hệ thống đứt gãy phức tạp chạy song song hoặc cắt chéo tạo thành các đới rộng 10-15km vị trí các trường, mỏ quặng trong các đứt gãy phụ thuộc vào các yếu tố cục bộ như các tầng đá thuận lợi, hình thành các kiến trúc, các màn chắn dung dịch nhiệt dịch.


          Hình 50: Sơ đồ siêu biến chất các trương quặng trong khu vực


    Hình 51: Trường quặng siêu biến chất




    KẾT LUẬN

        Như vậy, các kiểu kiến trúc trường quặng nói trên khống chế sự phân bố của các thân quặng trong phạm vi trường quặng và quyết định một phần hình thái các thân quặng đó. Tuy nhiên hình dạng của các thân quặng không những phụ thuộc các yếu tố kiến tạo, mà còn phụ thuộc vào thành phần trầm tích các đá vây quanh. Các tính chất vật lý của đá như: Độ dẻo và độ giòn, tính dễ biến dạng, độ thấm nước… cũng như hoạt tính hóa học quyết định hình thái các thân quặng nằm trong các đá đó. Trong các đá có hoạt tính hóa học, quá trình lắng đọng quặng thường xảy ra bằng cách thay thế trao đổi biến chất, nó cũng ảnh hưởng đến hình dạng thân quặng. Ở Việt Nam cũng có một số kiểu kiến trúc trường quặng điển hình như: trường pecmatit Thạch Khoán ở Phú Thọ, trường quặng thiếc ở Sơn Dương và trường quặng thiếc – vonfram ở Pia Oắc.

















    TÀI LIỆU THAM KHẢO

       1.Hoàng Đức Ngọc ( Chủ biên), Nguyễn Quang Luật,  2001 Bài giảng kiến trúc trường quặng,( Dùng cho sinh viên ngành Địa Chất)
    1. Lê Như Lai, 1998. Địa kiến tạo và sinh khoáng. NXB Giao thông vận tải Hà Nội.
    2. Lê Như Lai, 2001.Giáo trình địa chất cấu tạo. NXB Xây dựng.
    3. Nguyễn Quang Luật, 2009.Giáo trình địa chất mỏ khoáng.
    4. Nguồn intenet

    #3 tommit0

    tommit0

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 18 Bài viết:
    • Joined 26-November 11
  • Reputation: 1
    • Đến từ:DH KHTN TPHCM

    Posted 27 April 2014 - 04:22 PM

    Tài liệu rất hay.
    Nhưng không có hình hix

    #4 0olayvo0

    0olayvo0

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 21 Bài viết:
    • Joined 14-March 09
  • Reputation: 0

    Posted 01 May 2014 - 10:32 PM

    sách giáo khoa.com :)

    ---olayvo---




    Bài viết tương tự Collapse