Jump to content


TIỀM NĂNG KHOÁNG SẢN RẮN CỦA MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
1 reply to this topic

#1 L0nelyB0y_88

L0nelyB0y_88

    Intermediate Member

  • Thành viên
  • PipPipPip
  • 169 Bài viết:
  • Joined 25-July 08
  • Reputation: 12
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Ha Noi
    • Interests:bóng đá, nghe nhạc

    Posted 10 December 2008 - 03:37 PM

    Tóm tắt: Đông Nam Á là nơi tiếp giáp của ba mảng kiến tạo lớn: mảng Á-Âu, mảng Thái Bình Dương và mảng Ấn Độ Dương và có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng.

    Campuchia có nhiều loại khoáng sản như đá quý, Au, bauxit, Fe và các khoáng sản không kim loại, trong đó saphir và rubi là nguồn khoáng sản chính và có ý nghĩa kinh tế to lớn.

    Indonesia là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á, với thế mạnh  chủ yếu là Au, Cu. Ni. Sn.

    Lào có tiềm năng khoáng sản tương đối lớn, Thế mạnh về khoáng sản của Lào chủ yếu là Au, Fe, Sn, bauxit, thạch cao, muối kali, đá quý, nguyên liệu xi măng.

    Malaysia giàu về Sn, có W đi kèm, ngoài ra còn có Fe, Au và Cu.

    Myanmar giàu về tài nguyên khoáng sản, với các loại quan trọng là Cu, Au, Pb, Zn, Ag, Sn, W, Sb, Cr, Ni và đá quý.

    Philippin có điều kiện địa chất thuận lợi cho thành tạo nhiều loại mỏ khoáng sản. Đó là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á, có thế mạnh chủ yếu là: Cu, Au, Ni, Cr, Fe.

    Thái Lan có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng. Khoáng sản quan trọng là Sn, Cu, Au, Pb, Zn, đá quý, muối kali, muối mỏ.



    Lời giới thiệu

    Đông Nam Á là nơi tiếp giáp của ba mảng kiến tạo lớn: mảng Á-Âu, mảng Thái Bình Dương và mảng Ấn Độ Dương. Về mặt địa chất, Đông Nam Á bao gồm các đá từ Tiền Cambri đến Đệ tứ, phát triển nhiều hoạt động magma có tuổi khác nhau, đặc biệt là các hoạt động magma Mesozoi và Kainozoi, ở đây có nhiều đới hút chìm, cung đảo núi lửa. Những điều kiện địa chất thuận lợi đã tạo cho các nước Đông Nam Á có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng. Trong số các nước Đông Nam Á thì mỗi nước đều có thế mạnh về một số loại khoáng sản, nhưng nhìn chung Indonesia, Philippines và Myanmar là những nước có tiềm năng khoáng sản lớn hơn cả.

    Campuchia

    Campuchia có nhiều loại khoáng sản như đá quý, vàng, bauxit, sắt và các khoáng sản không kim loại, trong đó đá quý, đặc biệt là saphir và rubi là nguồn khoáng sản chính và có ý nghĩa kinh tế to lớn.

    Quặng sắt đã được phát hiện ở nhiều nơi của Campuchia, hầu hết các điểm quặng sắt đều có nguồn gốc biến chất trao đổi tiếp xúc. Trong số đó, tụ khoáng quặng sắt Phnom Deck [5] là lớn nhất; ở đây thân quặng được hình thành nơi tiếp xúc giữa cát kết, đá sét vôi và khối granođiorit batholit lớn có tuổi sau Trias. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là hematit và magnetit. Tài nguyên ước tính là 6 triệu tấn với hàm lượng Fe: 51-56%.

    Bauxit gồm bauxit trầm tích và bauxit laterit, trong đó chỉ có bauxit laterit là có ý nghĩa kinh tế. Bauxit laterit tìm thấy ở Chlong Leu [5] ở Đông Bắc Campuchia có tiềm năng lớn. Sản phẩm phong hoá của bazan Pliocen - Đệ tứ là đất màu đỏ, thường có chứa các tảng bauxit laterit với hàm lượng Al2O3: 43-50%, SiO2 thấp, khoảng 1-2%. Tụ khoáng bauxit có diện phân bố rộng, chất lượng tốt, vị trí thuận lợi cho khai thác lộ thiên, có thể tương đương với bauxit trên cùng một cao nguyên bazan ở Việt Nam.

    Thiếc: Phát hiện được ở Angkor Borey [5], phía nam, tây nam thị xã Takeo 20 km. Khu vực này bao gồm các khối granit nhỏ có thể có tuổi Jura - Creta, trên các khối này là các lớp trầm tích eluvi, aluvi chứa sa khoáng cassiterit. Hiện nay chưa có đủ tài liệu về quy mô và thành phần khoáng vật của tụ khoáng thiếc này, nhưng ở cạnh đó, trên đất Thái Lan, đã phát hiện một mỏ thiếc quan trọng có hoàn cảnh địa chất tương tự.

    Vàng: Nhiều điểm quặng và mỏ nhỏ đã được phát hiện, đặc biệt ở các tỉnh phía bắc Campuchia như Battambang, Banteay Meanchey, Siemreap, Kompong Thom, Preah Vihear và Ratanakiri [5]. Công tác khảo sát địa chất gần đây đã phát hiện ra nhiều điểm quặng mới ở các tỉnh Ratanakiri, Mondulkiri, Kompong Cham và Kampot [5]. Hầu hết các điểm quặng đang được nhân dân địa phương khai thác thủ công. Trong số các điểm quặng vàng và tụ khoáng nói trên thì các tụ khoáng và mỏ sau đây là có ý nghĩa kinh tế:

    Mỏ vàng Bosuptrup [5] thuộc tỉnh Banteay Meanchey gồm các mạch thạch anh chứa vàng lấp đầy các khe nứt đá phiến và đá vôi tuổi Đevon – Permi. Mỏ được khai thác từ năm 1877 và ước tính khoảng 440.000 tấn quặng với hàm lượng vàng 15g/t. Năm 1960-1965 BRGM (Pháp) tiến hành nghiên cứu và xác định hàm lượng Au: 4-14 g/t và Ag: 3-74 g/t. Đây là khu vực có tiềm năng về vàng gốc và vàng sa khoáng.

    Mỏ Phnom Lung [5] gồm mạng mạch thạch anh chứa vàng trong đá granit Inđosini, theo báo cáo của BRGM, hàm lượng Au: 31 g/t.

    Mỏ Phnom Deck [5] là mỏ vàng sa khoáng; năm 1972, sản lượng khai thác của Phnom Lung và Phnom Deck khoảng 150 kg.

    Mỏ vàng Bokham [5] thuộc tỉnh Ratanakiri gồm các mạch thạch anh chứa vàng, liên quan với monzonit và điorit, hàm lượng vàng đạt đến 77 g/t, với trữ lượng khoảng 4,6 tấn vàng.

    Đá quý và đá trang sức: Corinđon (saphir và rubi) là nguồn khoáng sản chính của Campuchia, được phát hiện ở một số nơi và có hoàn cảnh địa chất tương tự. Saphir và rubi được khai thác từ các lớp eluvi, aluvi, sản phẩm phong hoá của bazan Pliocen - Đệ tứ.

    Mỏ Pailin-Samlot [5] là mỏ corinđon quan trọng nhất của Campuchia, được khai thác từ cuối thế kỷ 16. Từ năm 1990, khai thác cơ khí được áp dụng vào Pailin; tại một vị trí khai thác, mỗi ngày thu hồi được khoảng 1 kg đá quý.

    Ba tụ khoáng đá quý khác tìm thấy ở các tỉnh Koh Kong và Preah Vihear [5], chủ yếu là saphir có chất lượng tốt, nhưng nhỏ hơn mỏ Pailin. Ngoài saphir ra, zircon đi kèm với corinđon, các tinh thể màu xanh ôliu đạt chất lượng đá quý của periđot cũng tìm thấy ở vùng này. Một số tinh thể saphir màu xanh chất lượng tốt phát hiện được ở lòng sông Tonle San ở tỉnh Ratanakiri. Mặc dù các thân bazan lớn ở phía đông được coi là không có triển vọng về đá quý, nhưng phát hiện saphir mới đây trong bazan Đệ tứ ở gần biên giới với Việt Nam và trong cát lòng sông Tonle San, chứng tỏ khả năng corinđon có thể xuất hiện trong các thể bazan khác nhau.

    Indonesia

    Indonesia là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á. Thế mạnh về khoáng sản của Indonesia chủ yếu là Au, Cu. Ni, Sn.

    Đồng: Toàn bộ đồng porphyr ở Indonesia liên quan với cung núi lửa Miocen-Pliocen. Các vùng mỏ chính là Tapadaa và Sasak thuộc Sulawesi. Miền Đông Indonesia giàu kim loại không chất sắt đi kèm với đá siêu mafic. Các cung núi lửa - pluton chứa khoảng 1/6 trữ lượng đồng porphyr của thế giới. Các cung núi lửa Đệ tam giữa chứa khoảng 98% các mỏ đồng vàng đã biết của Indonesia [4].

    Có 6 mỏ Cu-Au porphyr, trong đó mỏ Batu Hijau ở Lesser Sunda [6] có khoảng 2,6 triệu tấn Cu và 233 tấn Au, mỏ Grasberg có khoảng hơn 9 triệu tấn Cu và 1.262 tấn Au, và mỏ Ertsberg có khoảng 825 ngàn tấn Cu và 26 tấn Au; các mỏ còn lại: Bulagidun, Tapadaa, Sungai Mak, Kayabulan Ridge, Cabang Kiri [6], thuộc cỡ trung bình với trữ lượng khoảng trên dưới nửa triệu tấn Cu và khoảng 10 đến 78 tấn Au mỗi mỏ.

    Vàng: gồm các mỏ Au, Au-Ag nhiệt dịch, cỡ trung bình, trong đó có 2 mỏ Au-Ag lớn nhất là mỏ Kelian [6] ở Kalimantan với trữ lượng khoảng 105 tấn Au, và mỏ Gunung Pongkor [5] ở đảo Java khoảng 102 tấn Au và 972 tấn Ag, 2 mỏ Au kiểu nhiệt dịch là Gunung Pani với trữ lượng 40 tấn Au và mỏ Awak Masmindo [6] ở Sulawesi với trữ lượng 26 tấn Au. 5 mỏ Au-Ag còn lại là Monsi, Tambang Sawah, Lebong Donok, Lebong Tandai, Mt Muro [6] với trữ lượng khoảng 24 đến 72 tấn Au mỗi mỏ, trong đó một số mỏ có trữ lượng bạc cao từ 230 đến 1080 tấn Ag.

    Nickel: Laterit nickel được khai thác ở Pomalaa và Soroako ở đông Sulawesi. Các biểu hiện nickel như garnierit và chrysopras trong lớp phủ tàn dư chứa đến 2-3% Ni. Platin biểu hiện cùng với vàng và kim cương trong aluvi cạnh núi ophiolit Meratus của đông nam Borneo. Có 5 mỏ Ni nguồn gốc phong hoá tàn dư, do quá trình phong hoá nhiệt đới mà Ni tập trung trong đới laterit tàn dư, liên quan với đá gốc periđotit. Mỏ Soroako có khoảng 3 triệu tấn Ni, mỏ Pomalaa có khoảng 1,9 triệu tấn Ni, mỏ Gagu 3,9 triệu tấn Ni, mỏ Waigeo 1,4 tr. tấn Ni còn mỏ Gebe là mỏ cỡ trung bình 0,5 triệu tấn Ni [6].  

    Thiếc: Có khoảng 10 mỏ thiếc sa khoáng và phong hoá, với trữ lượng 750.000 tấn thiếc [4], trong đó mỏ Benlinju và Pemali [6] thuộc cỡ lớn.

    Tóm lại, tiềm năng của các cung núi lửa - pluton được xác định khoảng 2.500 tấn vàng, 20 triệu tấn đồng, 8.000 tấn bạc, 1.468 triệu tấn quặng nickel (oxit và silicat), 750 triệu tấn bauxit, 750.000 tấn thiếc và 30 triệu tấn cát ven biển chứa quặng sắt [4].

    Ngoài các khoáng sản kim loại này ra còn có các khoáng sản công nghiệp như đá vôi, felspat, sét, lưu huỳnh, cát thạch anh và phosphat.

    Than: Một loạt các vỉa than trong các trầm tích Đệ tam chứa khoảng 36 tỷ tấn các kiểu than khác nhau và chỉ 11 tỷ tấn [4] được dự định khai thác dài hạn. Ba mỏ có thể khai thác phân bố ở phía nam Sumatra, đông và đông nam Kalimantan.

    Lào

    Lào có tiềm năng khoáng sản tương đối lớn, nhưng tiềm năng này chưa được phát triển đến công nghiệp khai khoáng. Thế mạnh về khoáng sản của Lào chủ yếu là vàng, sắt, thiếc, bauxit, thạch cao, muối kali, đá quý, nguyên liệu xi măng.

    Vàng: Trên cơ sở tài liệu hiện có, tiềm năng khoáng sản vàng có thể chia ra các đới sau [5]:

    - Đới đá núi lửa Sarakham-Paklay: địa chất của đới này được biết tương đối rõ và gần đây có một vài dự án thăm dò trong khu vực. Đây là phần kéo dài của đai đá núi lửa chứa vàng Loei ở Thái Lan. Các đá núi lửa anđesit có thể là nguồn chứa vàng, nhưng vàng được phân bố trong các mạch thạch anh và các đới biến đổi bên cạnh các khối granođiorit và porphyr cùng thời.

    - Đới đá núi lửa Xiêng Khoảng: đới này có triển vọng cao về vàng, bao gồm các đá ryolit tuổi Permi, bị các đá xâm nhập granođiorit cùng thời xuyên cắt, tạo nên đới đá biến chất trao đổi chứa pyrit. Trong đới đá biến đổi đã phát hiện được nhiều khu vực giàu đồng và sa khoáng vàng trong lưu vực sông Nậm Ngừm chảy từ vùng này ra.

    - Đới khoáng hoá vàng nhiệt dịch nhiệt độ thấp trong đá ryolit ở Champasak: Một khu vực rộng lớn lộ ra kề sát với biên giới Campuchia và có các dấu hiệu của biến đổi nhiệt dịch nhiệt độ thấp. Trong khu vực này đã phát hiện được 21 điểm sa khoáng vàng.

    - Đới Luang Phabang – Nam U: Đới này kéo dài dọc theo thung lũng sông Nậm U và có thể tiếp tục đến tỉnh Phongsaly và được biểu hiện bởi sa khoáng vàng và khoáng hoá Cu-Zn trong các mạch thạch anh.

    - Đới triển vọng vàng trong dãy Trường Sơn: Các khu vực triển vọng vàng trong các đá núi lửa tuổi P-T thuộc dãy Trường Sơn về phía ĐN tỉnh Xiêng Khoảng gồm có một số điểm quặng và tụ khoáng vàng được coi là thuộc kiểu nhiệt dịch nhiệt độ thấp. Các khu vực tương tự được tìm thấy ở ĐB Thakhek và vùng Nam Kok, tỉnh Savanakhet. Về phía bắc thị xã Sepon, tỉnh Savanakhet, trên một chiều dài khoảng 5 km, bảy mỏ vàng và một mỏ đồng đã được phát hiện, thăm dò và đã khai thác trong những năm gần đây [1]. Khoáng hoá Au có nhiều đặc điểm giống với các mỏ vàng kiểu carlin ở Nevada của Mỹ. Trữ lượng của các mỏ vàng ở Sepon khoảng 113 tấn Au, còn mỏ đồng Khanong là một thân quặng đồng oxit và chalcocit biểu sinh hàm lượng cao ở gần bề mặt.

    Một khu vực khác có khoáng hoá vàng phát triển trong đá granođiorit ở vùng ĐN Lào, có biểu hiện dị thường khoáng vật nặng về vàng do các chuyên gia Nga phát hiện. Ngoài ra, vàng sa khoáng tìm thấy nhiều nơi ở Lào, đặc biệt là dọc theo thung lũng sông Mekong ở Bắc Lào.

    Sắt: Nhiều tụ khoáng quặng sắt có ý nghĩa ở TB Viêng Chăn. Quặng sắt ở Xiêng Khoảng và Phalek được biết từ lâu. Quặng sắt ở Phu Nhuon (Xiêng Khoảng) gồm magnetit, hematit với hàm lượng Fe: 64%. Chưa có công trình thăm dò để tính trữ lượng. Quặng sắt ở Phalek đã được một công ty Mỹ tiến hành đo từ hàng không vào năm 1960 và các nhà địa chất Việt Nam đã tiến hành khảo sát sơ bộ trên mặt năm 1986 [5].

    Bauxit: Cao nguyên bazan Boloven ở Nam Lào có tiềm năng bauxit laterit với trữ lượng khoảng 2 tỷ tấn quặng bauxit [5].

    Thiếc và wolfram: Có hai khu vực có thiếc là: mỏ Nam Pathen [5] ở Trung Lào, đã khai thác khoảng 30 năm nay từ quặng aluvi và eluvi; đới chứa thiếc-wolfram Luang Namtha [5] phân bố ở tây bắc Lào, ở rìa đông nam của khối lục địa Shan - Thai, đới này là phần kéo dài của đới chứa thiếc Chiang Mai - Chiang Rai từ Thái Lan và kéo dài về phía Trung Quốc có biểu hiện cassiterit trong hệ thống sông suối từ dãy Trường Sơn [5] dọc theo biên giới với Việt Nam.

    Muối ăn và muối kali: Muối ăn được khai thác với quy mô nhỏ ở trũng Viêng Chăn và trũng Savanakhet [5], còn nguồn muối kali lớn có ở trũng Viêng Chăn có thể tạo nên cơ sở công nghiệp phân bón trong tương lai. Các tài liệu của 30 lỗ khoan do các nhà địa chất Lào và Việt Nam khoan trong thời gian 1983-1987 cho thấy muối kali-magnesi có chiều dày từ 10 đến 150 m, thành phần chủ yếu là carnalit, muối kali sylvit, cũng như các lớp giàu muối ăn halit. Tụ khoáng muối kali ở đồng bằng Viêng Chăn được coi là tụ khoáng lớn nhất của Lào và của khu vực*.

    ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

    * Cuối năm 2004, Liên đoàn Intergeo đã giúp phát hiện một tụ khoáng muối kali rất lớn ở Tây Savanakhet (BBT).

    Thạch cao: Trữ lượng thạch cao hiện có của ở trũng Savanakhet [5] đáp ứng các yêu cầu tiêu thụ hiện tại. Tại đây, thạch cao có nguồn gốc trầm tích bốc hơi, được khai thác lộ thiên bắt đầu từ năm1980; 95% sản lượng được xuất khẩu sang Việt Nam, phần còn lại được tiêu thụ trong nước. Mới đây một tụ khoáng mới được phát hiện ở Ban Bung Houa Na [5].

    Đá quý: Saphir được khai thác từ các nhánh của sông Mekong và Ban Houei Sai [5] ở TB Lào. Saphir có trong trầm tích eluvi và aluvi. Hoạt động khai thác saphir từ 1986-1990 do xí nghiệp khai khoáng nhà nước tiến hành. Năm 1991-1993, Chính phủ Lào đã cấp giấy phép trên một diện tích hạn chế cho một công ty Thái Lan, năm 1994, cấp giấy phép trên một diện tích hạn chế khác cho một công ty New Zealand thăm dò và khai thác đá quý. Ngoài ra, cao nguyên Boloven cũng được coi là có tiềm năng về saphir.

    Malaysia

    Khoáng sản ở Malaysia chủ yếu là thiếc, đi kèm với thiếc là wolfram; ngoài ra còn có sắt, vàng và đồng-vàng.

    Thiếc: Thiếc là khoáng sản chính của Malaysia. Phần phía tây Malaysia nằm trong trường thiếc Đông Nam Á, kéo dài từ phía bắc Myanmar qua Thái Lan, tây Malaysia, tới đảo thiếc của Indonesia, trong đó có các trường thiếc Kinta Valley, Kuala Lampur, Pahang-Nam Trengganu và các trường thiếc cỡ nhỏ Bakri, Nam Johore. Trữ lượng thiếc của Malaysia khoảng 1.200 ngàn tấn, wolfram khoảng 17 ngàn tấn [3].

    Sắt: Các tụ khoáng và mỏ quặng sắt được xác định là có tuổi từ Carbon đến Trias, phần lớn có nguồn gốc nhiệt dịch trao đổi thay thế. Điển hình là mỏ Pelepah Kanan thuộc vùng Kota Tunggi ở Johore, với khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit và martit. Trữ lượng quặng sắt của Malaysia khoảng 89 triệu tấn [3].

    Đồng-vàng: Mỏ Cu-Au porphyr Mamut ở tỉnh Sabah thuộc cỡ mỏ trung bình, với trữ lượng khoảng 856.000 tấn Cu và khoảng 126 tấn Au [6].

    Mỏ vàng Penjom phân bố ở Trung Malaysia. Công ty Avocet Mining [1] đã sản xuất hơn 154 kg Au kể từ khi bắt đầu khai thác (năm 1996). Tài nguyên xác định hiện nay là 2,39 triệu tấn quặng với hàm lượng 5,2 g/t, tương đương với 1 tấn Au; tài nguyên dự báo bổ sung 1,62 triệu tấn quặng với hàm lượng 4,2 g/t. Trữ lượng tổng cộng bao gồm cả các thể ống là 2,67 triệu tấn, với hàm lượng 5 g/t. Khoáng hoá Au liên quan với các mạch thạch anh ankerit-đolomit sulfur và mạng mạch ở trong đá tonalit hoặc ở nơi tiếp xúc giữa tonalit và đá trầm tích.

    Các biểu hiện khoáng hoá sulfur kiểu Kuroko đã tìm thấy trong các đá núi lửa và đá vụn núi lửa Permi-Trias; các thân quặng này có quy mô nhỏ.

    Myanmar

    Myanmar giàu về tài nguyên khoáng sản, các khoáng sản quan trọng là đồng, vàng, chì kẽm, bạc, thiếc, wolfram, antimon, chromit, nickel, đá quý, về mặt tiềm năng khoáng sản, Myanmar được xếp vào một trong số những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á.

    Về mặt địa chất, Myanmar bao gồm các đá từ Tiền Cambri đến Đệ tứ và được chia ra làm bốn đới kiến tạo theo phương bắc-nam, các đới này từ đông sang tây như sau: cao nguyên phía đông, đới trung tâm, đới phía tây và đới bờ biển Rakhin. Hầu hết các biểu hiện quặng như Pb, Zn, Cu, Ag, Sn, W, Sb, Au và Fe tìm thấy ở cao nguyên phía đông. Đồng porphyr, Au, than tìm thấy ở đới trung tâm. Ni, Cr và kim loại nhóm platin tìm thấy ở đới phía tây. Đới bờ biển Rakhin có tiềm năng khoáng sản thấp nhất, chỉ có một số biểu hiện của dầu khí.

    Đồng: Hơn 50 điểm quặng đồng phân bố dọc ba đơn vị kiến tạo chính của Myanmar, trong đó có ba mỏ đồng porphyr ở gần vùng Chindwin Hạ [5]. Tụ khoáng Monywa [6] thuộc loại lớn với quặng nguyên sinh chỉ có 0,1-0,3% Cu. Nhờ làm giàu biểu sinh mà hàm lượng Cu lên tới 0,9%, với trữ lượng 2,4 triệu tấn Cu và mỏ Latpadaung Taung [6] có khoảng 400 triệu tấn quặng, với hàm lượng 0,5% Cu (2 triệu tấn Cu). Đó là những mỏ có trữ lượng cỡ thế giới.

    Sắt: Tụ khoáng sắt có trữ lượng khoảng 100 triệu tấn ở Pengpet, miền nam Myanmar, có thể giúp phát triển một nhà máy thép mới [5].

    Chì, kẽm, bạc được khai thác ở mỏ Bawdwin, Bawsaing và Yadamatheingi [5]. Mỏ Bawdwin là mỏ đa kim gồm Pb-Zn-Ag dạng mạch nhiệt dịch, thuộc cỡ lớn với trữ lượng 9 triệu tấn Pb, 5,2 triệu tấn Zn. Ngoài ra còn có 13.950 tấn Ag [6]. Mỏ này được coi là giàu bạc nhất thế giới.  

    Vàng gốc và vàng sa khoáng có ở các vùng khác nhau. Các mỏ vàng nằm ở Phayaung Taung và Thayetkhone, Shwekyin và gần Myitkyina, dọc theo sông Ayeyawady. Ngoài ra, ở vùng Kyaukpahto và phụ cận có tiềm năng vàng đang được các công ty trong nước và nước ngoài thăm dò [5].

    Nickel: Các tụ khoáng nickel tìm thấy ở Mwetaung thuộc bang Chin, 30 km về phía tây bắc Mandalay. Trữ lượng ước tính 30 triệu tấn quặng, với hàm lượng trung bình 1,1% Ni, khoảng 0,3 triệu tấn Ni. Trữ lượng tiềm tàng là 80 triệu tấn, với hàm lượng 1% Ni, tương đương với 0,8 triệu tấn Ni. Tụ khoáng Tagaung Taung có nguồn gốc phong hoá tàn dư, cỡ trung bình, với trữ lượng khoảng 40 triệu tấn quặng với hàm lượng 1,4% Ni, tương đương với 0,5 triệu tấn Ni [6].

    Có 7 mỏ Sn và Sn-W gốc và sa khoáng, thuộc cỡ trung bình, trong đó mỏ Mauchi ở Keyash có dạng mạch nhiệt dịch với trữ lượng 214 ngàn tấn Sn-W và mỏ Dawna Range ở Keyin với trữ lượng 11 ngàn tấn Sn và 6 ngàn tấn WO3 [6].

    Có 2 mỏ Sb dạng mạch nhiệt dịch cỡ trung bình là mỏ Lebeyin Area với trữ lượng 9.646 tấn Sb, mỏ Paan với trữ lượng 14.900 tấn Sb [6].

    Than đá: Các tụ khoáng than đá phần lớn là than bán bitum với trữ lượng khoảng 200 triệu tấn ở khu vực phía bắc, trong đó tụ khoáng Kalewa là tụ khoáng duy nhất có ý nghĩa. Ngoài ra còn có tụ khoáng than ở vùng Tanintharyi. Công ty khai thác chính của Myanmar đang quan tâm thăm dò và khai thác tụ khoáng này [5].

    Đá quý: Rubi được khai thác ở vùng Mogok, đông bắc Mandalay, saphir và các loại đá quý có màu sắc khác nhau gồm spinel, granat, periđot, tourmalin, aquamarin, amethyst, citrin, zircon, đá mặt trăng v.v…đều được khai thác từ vùng Mogok. Ba khu vực đá quý mới được phát hiện là Pyinlon, Namsakha, Mongshu, trong đó phát hiện dấu vết đá quý ở Mongshu là có ý nghĩa nhất. Kim cương và đá quý có chất lượng tốt cũng được tìm thấy khi đãi thiếc ở Theindaw và Tanintharyi, bang Shan. Myanmar cũng nổi tiếng về ngọc bích và được phân loại thành 3 nhóm theo màu sắc ánh, cấu tạo và độ hạt. Loại tốt là ngọc bích hoàng đế, mà nổi tiếng là ngọc lục bảo được dùng làm đồ trang sức và chế tác đồ trang trí. Jađeit cũng tìm thấy có đủ các màu sắc từ trắng đến đen.

    Đá ốp lát: Có nhiều điểm lộ đá granit và đá hoa với nhiều màu sắc và mẫu mã khác nhau. Sáu mỏ granit ở vùng Kyaikhto và Ye ở bang Mon và 18 mỏ ở Myeik và quần đảo Dawei, khu vực Tanintharyi. Trữ lượng ước tính ở bang Mon là 3,7 tỷ tấn, trữ lượng tổng cộng ở Tanintharyi là 57 tỷ tấn. Trữ lượng đá vôi của Myanmar khoảng 563 tỷ tấn [5].

    Philippines

    Philippines có lịch sử lâu đời về khai thác mỏ và có điều kiện địa chất thuận lợi cho thành tạo nhiều loại mỏ khoáng sản, là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á. Thế mạnh về khoáng sản của nước này chủ yếu là: Cu, Au, Ni, Cr. Fe

    Sắt: Các mỏ quặng sắt liên quan chặt chẽ với các đá điorit tuổi Đệ tam, điển hình là mỏ Larap. Quặng chủ yếu là magnetit, có chứa một hàm lượng đồng, molypđen, vàng, urani và cobalt. Trữ lượng quặng sắt khoảng 77 triệu tấn [3].

    Đồng: Có ba vùng khoáng hoá đồng quan trọng. Vùng phía bắc liên quan với đới hút chìm về phía đông biển Đông Việt Nam, với tuổi khoáng hoá Miocen giữa đến Miocen muộn; vùng giữa liên quan với đới hút chìm của biển Sulu, có tuổi Paleocen muộn. Vùng phía đông liên quan với đới hút chìm Thái Bình Dương, có tuổi Pliocen. Có 15 mỏ Cu và Cu-Au kiểu porphyr, trong đó các mỏ lớn như mỏ Atlas Biga ở Sebu thuộc vùng giữa với khoảng 5 triệu tấn Cu, là mỏ đồng lớn nhất. Mỏ thứ hai là Sipalay ở phía đông Negros với trữ lượng khoảng 3 triệu tấn Cu, mỏ Lepanto far Southeast ở Luzon với hơn 1 triệu tấn Cu và 286 tấn Au. Các mỏ còn lại cỡ trung bình với trữ lượng dưới 1 triệu tấn Cu và dưới 100 tấn Au. Mỏ Cu-Au Lepanto kiểu nhiệt dịch nhiệt độ thấp ở Luzon có đến 900 ngàn tấn Cu và 122 tấn Au [6].

    Ngoài ra, còn có các mỏ Cu-Au-Pb-Zn Bagacay và mỏ Cu-Au-Ag Surat ở đảo Samar [6] được coi là thuộc kiểu kuroko giả tầng. Mỏ Bagacay có pyrit, chalcopyrit, bornit, sphalerit và galen dạng lớp đặc sít hoặc thấu kính dẹt chỉnh hợp trong các trầm tích Pliocen bên cạnh các đá núi lửa và vụn núi lửa Miocen, với 33 ngàn tấn Cu, 32 ngàn tấn Pb-Zn. Mỏ Cu-Au-Ag giả tầng Surat ở Samar có 198 ngàn tấn Cu, 20 tấn Au và 682 tấn Ag.

    Vàng: Có 4 mỏ Au-Ag, Au-Cu và Au-Te nhiệt dịch dạng mạch ở vùng Luzon và Mindanao [6]. Khoáng hoá vàng-bạc nhiệt độ thấp thể hiện ở mức cao hơn đồng porphyr; còn vàng-bạc, telur và đồng có thể cùng tồn tại như ở Baguio. Mỏ Placer ở Mindanao có 54 tấn Au, các mỏ còn lại: khoảng 21 đến 23 tấn Au.

    Nickel: Có 7 mỏ Ni phong hoá tàn dư laterit trên các đá siêu mafic, trong đó mỏ Rio Tuba ở Palawan: 220 ngàn tấn Ni và mỏ Nonoc 1 ở Dinagat: 930 ngàn tấn Ni; hai mỏ này thuộc cỡ lớn, các mỏ còn lại cỡ trung bình với trữ lượng khoảng 100 đến 200 ngàn tấn Ni [6].

    Chromit: Nguồn chromit lớn nhất là từ tập hợp ophiolit ở tỉnh Zabarez. Có 2 mỏ chromit cỡ lớn ở tỉnh Zambarez có nguồn gốc magma, liên quan với các đá siêu mafic, là mỏ Acoje: 640 ngàn tấn Cr2O3 và mỏ Coto/Masinloc: khoảng 1,7 triệu tấn Cr2O3 [6].

    Thái Lan

    Thái Lan có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng, một số tụ khoáng đang được khai thác. Khoáng sản quan trọng là Sn, Cu, Au, Pb, Zn, đá quý, muối kali, muối mỏ.

    Thiếc là khoáng sản chính, được khai thác và chế biến trong vòng hơn 100 năm nay và là khoáng sản xuất khẩu chính, đưa lại thu nhập lớn cho đất nước trong nhiều năm. Tuy vậy, cuộc khủng hoảng về thiếc năm 1985 dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong công nghiệp khai thác thiếc và khoảng 50% mỏ thiếc phải đóng cửa. Sản lượng thiếc hiện nay chủ yếu là từ sa khoáng cassiterit ở ngoài khơi vùng núi Phuket-Phangnga-Tukuapa và một số mỏ trên đất liền, phân bố dọc theo dãy núi chạy từ bắc đến nam theo rìa phía tây của đất nước. Có 5 mỏ thiếc sa khoáng lớn ở Ranong, Tukua Pa/Phang Nga ngoài khơi, Tukua Pa/Phang Nga trên đất liền, Phuket ngoài khơi và Nakhon Si Thammarat [5]. Thiếc gốc tìm thấy trong đá granit, hoặc trong đá vây quanh dưới dạng mạch nhỏ, các thân pegmatit, aplit và các đới greisen chứa thiếc. Một số nơi tìm thấy cassiterit kiểu skarn ở nơi tiếp xúc giữa granit và đá vôi. Trữ lượng thiếc của Thái Lan khoảng 337 ngàn tấn Sn

    Wolfram chủ yếu dưới dạng wolframit, được thu hồi từ các mỏ thiếc cả sa khoáng lẫn thiếc gốc. Tụ khoáng ferberit (FeWO4) được tìm thấy trong đá sét bị silic hoá, sheelit thấy ở Doi Mok, trong đá skarn nằm giữa granit biotit và đá vôi, đá phiến sét [5]. Nhìn chung, wolframit có quy mô nhỏ.

    Quặng sắt ở Thái Lan được thăm dò ở Phu Yang, Phu Ang, Phu Lech, Phu Hia, tỉnh Loei [5]. Đây là các tụ khoáng sắt biến chất trao đổi tiếp xúc; thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là hematit và magnetit với trữ lượng 27 triệu tấn, hàm lượng 52% Fe. Ngoài ra, quặng sắt còn có ở vùng Uem Kruem khoảng 4,8 triệu tấn, hàm lượng 40% Fe, vùng Khao Thab Kwai khoảng 7,6 triệu tấn quặng với hàm lượng 44.4% Fe. Tổng trữ lượng quặng sắt khoảng 49 triệu tấn.

    Mangan tìm thấy dưới dạng giả tầng, mạch và tàn dư dạng túi. Hầu hết các mỏ mangan phát hiện được ở miền Bắc Thái Lan và ở tỉnh Loei [5], sản lượng vừa đủ cho công nghiệp pin và luyện kim trong nước.

    Đồng: Đồng porphyr tìm thấy ở Phu Thong Daeng và Phu Hin Lech Fai ở tỉnh Loei [5], khoáng vật quặng chủ yếu là chalcopyrit, pyrit, chalcocit đặc sít hoặc xâm tán trong tuf hoặc điorit porphyr hoặc mạng mạch. Ở Phu Thong Daeng, trữ lượng chắc chắn và tương đối chắc chắn là 1 triệu tấn quặng và trữ lượng dự báo 12 triệu tấn quặng với hàm lượng 1% Cu. Ở Phu Hin Lech Fai, trữ lượng khoảng 15 triệu tấn quặng với hàm lượng 1% Cu và trữ lượng dự báo là 50 triệu tấn quặng. Tụ khoáng Cu-Au Phu Lon tỉnh Nọong Khai [5] gồm đới khoáng hoá trong đá skarn và monzonit thạch anh porphyr. Khoáng vật quặng chủ yếu là pyrit, chalcopyrit dưới dạng mạch nhỏ hoặc xâm tán trong đá skarn. Trữ lượng khoảng 18,5 triệu tấn quặng, với hàm lượng Cu: 1%, Au: 0,8 -1,2g/t, Ag: 4-5g/t. Tổng trữ lượng khoảng 96 triệu tấn quặng với hàm lượng 1% Cu.

    Chì: Nhiều tụ khoáng quặng chì tìm thấy ở Song Toh, Nong Phai và Bo Ngam, tỉnh Kanchanaburi [5] với trữ lượng khoảng 1,8 triệu tấn quặng, hàm lượng 10% Pb. Bạc thường đi kèm với chì (0,6-1,4 g/t).

    Kẽm được khai thác ở mỏ Mae Sot, tỉnh Tak từ năm 1984. Ở mỏ Pa Deang [5], quặng có trong cát kết vôi và đá vôi tuổi Trias với trữ lượng 4,5 triệu tấn quặng, hàm lượng Zn: 24%.

    Vàng: Vàng được tìm thấy ở một số nơi, phần lớn trong sa khoáng từ các mạch gốc. Mạch thạch anh chứa vàng thường quan sát thấy trong granit, điorit, đá núi lửa và trong một số đá biến chất.

    Mỏ vàng nổi tiếng của Thái Lan là Tok Moh ở tỉnh Narathiwat gần biên giới với Malaysia, là mỏ duy nhất khai thác vàng từ các mạch thạch anh với trữ lượng khoảng 6-9 tấn Au. Các tỉnh khác có tiềm năng về vàng là Loei, Udom Thani, Nong Khai, Pracin Buri, Phrae, Lampang, Phetchabun, Chiang Rai và Prachuap Khiri Khan [5].

    Muối kali và muối mỏ tìm thấy trong trầm tích Creta ở Đông Bắc Thái Lan, nơi có hai trũng evaporit Sakhon Nakhon và Khorat được xác định từ 1973. Các lỗ khoan đã chỉ ra có ba tầng sản phẩm evaporit, muối mỏ chứa carnalit, sylvit và muối mỏ thông thường. Trữ lượng khoảng 400 tỷ tấn carnalit, 7 tỷ tấn sylvit, và 18.000 tỷ tấn muối mỏ [5].

    Thạch cao: Hai mỏ thạch cao hiện đang khai thác ở Nakhon Sawan - Phichit ở tỉnh Surat Thani và Nakhon Si Thammarat, miền Nam Thái Lan; thạch cao nằm phủ trên đá vôi Carbon-Permi. Trữ lượng các mỏ phía bắc khoảng 99 triệu tấn và 70 triệu tấn ở các mỏ phía nam. Một tụ khoáng thạch cao mới phát hiện gần đây ở Wang Saphung, Loei đông bắc Thái Lan. Trữ lượng có thể không ít hơn 35 triệu tấn [5].

    Đá quý: Thái Lan được biết như một nước cung cấp đá quý nổi tiếng của thế giới. Đá quý chủ yếu là rubi và saphir, thu được từ các đá núi lửa Kainozoi, phổ biến là từ bazan kiềm. Hầu hết đá quý như corinđon được khai thác từ đất tàn dư của bazan, trầm tích coluvi, đeluvi, eluvi và aluvi và một vài mỏ được khai thác từ các thể bazan lấp đầy họng núi lửa. Các mỏ đá quý ở Chanthaburi, Trat và Kanchanaburi chủ yếu chứa rubi và saphir. Đá quý được khai thác ở Phrae, Sukhothai, Phetchabun, Sisaket và Ubo Ratchathani. Các vùng này nổi tiếng về rubi, và saphir màu xanh [5]. Một số đá quý như spinel, pyroxen, granat, zircon và saniđin cũng đi kèm với rubi và saphir. Các loại đá nửa quý tìm thấy ở nhiều nơi của Thái Lan, đó là thạch anh tinh thể, amethyst, thạch anh màu hồng. Kim cương thu hồi được từ khai thác thiếc sa khoáng gần Phuket và Phangnga với kích thước từ 1,8 đến 10 mm (0,4 – 6,79 carat) [5].

    Than: Thái Lan bắt đầu sản xuất một khối lượng nhỏ than vào năm 1975. Mãi đến cuối năm 1992, tổng sản phẩm than đạt đến 94 triệu tấn, chủ yếu từ 12 bể than ở phía bắc, không kể bể than quan trọng Karabi ở phía nam. Các bể than này có trữ lượng 1,5 tỷ tấn. Ở bể than Mac Moh và Karabi, 95% trữ lượng là than lignit. Thái Lan có nguồn than đủ đáp ứng yêu cầu cho những năm đầu của thập kỷ 2000 [5].

    VĂN LIỆU

    1. Asian update on mineral exploration and development. AIG Bulletin, 39. Australian Institute of Geoscientists, Sydney, 2000.

    2. ESCAP, 1997. Towards sustainable minerals supply in the Asian and Pacific Region. Review of emerging mineral policies and development activities, 3, UN, New York.

    3. ESCAP, 1997. Minerals and metal trade for sustainable supply within the regional and global contexts for countries of Northeast Asia and Southeast Asia. Workshop on Sustainable Minerals Supply in the Asian-Pacific Region, Bangkok, Thailand.

    4. ESCAP, 1999. Sustainable development of land and mineral resources in Asia and the Pacific. National policy initiatives and trends in mining taxation, 5. UN New York.

    5. ESCAP, 1999. Integrated assessment and development of mineral resources in the Great Mekong Subregion, vol. 11, UN, New York.

    6. Metal Mining Agency of Japan, 1998. List of metallic mineral deposits in Asia. Tokyo.

    Live : Family **_No1_**-Hà nội


       Posted Image


      _____*yeu*_*yeu*________*yeu*_*yeu*_____ ___*yeu*______*yeu*_*yeu*_______*yeu*___ __*yeu*__________*yeu*__________*yeu*___ __*yeu*________________________*yeu*___ ___*yeu*________**_____*yeu*_____ ____*yeu*____________________*yeu*______ ______*yeu*________________*yeu*________ ________*yeu*____________*yeu*__________ __________*yeu*________*yeu*____________ ____________*yeu*____*yeu*______________ ______________*yeu**yeu*________________
      
      
      Yahoo: h04ngtu_d3pzai8x  ; cong_vigmr
    Mobile: 093.44.96.678
    Email: ; cong.vigmr.vn@gmail.com; cong.geologydc51@gmail.com
    Hotmail: cong.vigmr.vn@hotmail.com
    Skype: cong.vigmr.vn@skype.com
    Office: Viện khoa học Địa chất  và Khoáng sản - VIGRM

    _Knowledge is the golden key helps us opening all the door in the life _  [/size]

    #2 popomap

    popomap

      Member

    • Thành viên
    • PipPip
    • 13 Bài viết:
    • Joined 23-November 08
  • Reputation: 0
    • Gender:Female

    Posted 10 December 2008 - 07:18 PM

    View PostL0nelyB0y_88, on Dec 10 2008, 04:37 PM, said:

    Tóm tắt: Đông Nam Á là nơi tiếp giáp của ba mảng kiến tạo lớn: mảng Á-Âu, mảng Thái Bình Dương và mảng Ấn Độ Dương và có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng.

    Campuchia có nhiều loại khoáng sản như đá quý, Au, bauxit, Fe và các khoáng sản không kim loại, trong đó saphir và rubi là nguồn khoáng sản chính và có ý nghĩa kinh tế to lớn.

    Indonesia là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á, với thế mạnh  chủ yếu là Au, Cu. Ni. Sn.

    Lào có tiềm năng khoáng sản tương đối lớn, Thế mạnh về khoáng sản của Lào chủ yếu là Au, Fe, Sn, bauxit, thạch cao, muối kali, đá quý, nguyên liệu xi măng.

    Malaysia giàu về Sn, có W đi kèm, ngoài ra còn có Fe, Au và Cu.

    Myanmar giàu về tài nguyên khoáng sản, với các loại quan trọng là Cu, Au, Pb, Zn, Ag, Sn, W, Sb, Cr, Ni và đá quý.

    Philippin có điều kiện địa chất thuận lợi cho thành tạo nhiều loại mỏ khoáng sản. Đó là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á, có thế mạnh chủ yếu là: Cu, Au, Ni, Cr, Fe.

    Thái Lan có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng. Khoáng sản quan trọng là Sn, Cu, Au, Pb, Zn, đá quý, muối kali, muối mỏ.



    Lời giới thiệu

    Đông Nam Á là nơi tiếp giáp của ba mảng kiến tạo lớn: mảng Á-Âu, mảng Thái Bình Dương và mảng Ấn Độ Dương. Về mặt địa chất, Đông Nam Á bao gồm các đá từ Tiền Cambri đến Đệ tứ, phát triển nhiều hoạt động magma có tuổi khác nhau, đặc biệt là các hoạt động magma Mesozoi và Kainozoi, ở đây có nhiều đới hút chìm, cung đảo núi lửa. Những điều kiện địa chất thuận lợi đã tạo cho các nước Đông Nam Á có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng. Trong số các nước Đông Nam Á thì mỗi nước đều có thế mạnh về một số loại khoáng sản, nhưng nhìn chung Indonesia, Philippines và Myanmar là những nước có tiềm năng khoáng sản lớn hơn cả.

    Campuchia

    Campuchia có nhiều loại khoáng sản như đá quý, vàng, bauxit, sắt và các khoáng sản không kim loại, trong đó đá quý, đặc biệt là saphir và rubi là nguồn khoáng sản chính và có ý nghĩa kinh tế to lớn.

    Quặng sắt đã được phát hiện ở nhiều nơi của Campuchia, hầu hết các điểm quặng sắt đều có nguồn gốc biến chất trao đổi tiếp xúc. Trong số đó, tụ khoáng quặng sắt Phnom Deck [5] là lớn nhất; ở đây thân quặng được hình thành nơi tiếp xúc giữa cát kết, đá sét vôi và khối granođiorit batholit lớn có tuổi sau Trias. Thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là hematit và magnetit. Tài nguyên ước tính là 6 triệu tấn với hàm lượng Fe: 51-56%.

    Bauxit gồm bauxit trầm tích và bauxit laterit, trong đó chỉ có bauxit laterit là có ý nghĩa kinh tế. Bauxit laterit tìm thấy ở Chlong Leu [5] ở Đông Bắc Campuchia có tiềm năng lớn. Sản phẩm phong hoá của bazan Pliocen - Đệ tứ là đất màu đỏ, thường có chứa các tảng bauxit laterit với hàm lượng Al2O3: 43-50%, SiO2 thấp, khoảng 1-2%. Tụ khoáng bauxit có diện phân bố rộng, chất lượng tốt, vị trí thuận lợi cho khai thác lộ thiên, có thể tương đương với bauxit trên cùng một cao nguyên bazan ở Việt Nam.

    Thiếc: Phát hiện được ở Angkor Borey [5], phía nam, tây nam thị xã Takeo 20 km. Khu vực này bao gồm các khối granit nhỏ có thể có tuổi Jura - Creta, trên các khối này là các lớp trầm tích eluvi, aluvi chứa sa khoáng cassiterit. Hiện nay chưa có đủ tài liệu về quy mô và thành phần khoáng vật của tụ khoáng thiếc này, nhưng ở cạnh đó, trên đất Thái Lan, đã phát hiện một mỏ thiếc quan trọng có hoàn cảnh địa chất tương tự.

    Vàng: Nhiều điểm quặng và mỏ nhỏ đã được phát hiện, đặc biệt ở các tỉnh phía bắc Campuchia như Battambang, Banteay Meanchey, Siemreap, Kompong Thom, Preah Vihear và Ratanakiri [5]. Công tác khảo sát địa chất gần đây đã phát hiện ra nhiều điểm quặng mới ở các tỉnh Ratanakiri, Mondulkiri, Kompong Cham và Kampot [5]. Hầu hết các điểm quặng đang được nhân dân địa phương khai thác thủ công. Trong số các điểm quặng vàng và tụ khoáng nói trên thì các tụ khoáng và mỏ sau đây là có ý nghĩa kinh tế:

    Mỏ vàng Bosuptrup [5] thuộc tỉnh Banteay Meanchey gồm các mạch thạch anh chứa vàng lấp đầy các khe nứt đá phiến và đá vôi tuổi Đevon – Permi. Mỏ được khai thác từ năm 1877 và ước tính khoảng 440.000 tấn quặng với hàm lượng vàng 15g/t. Năm 1960-1965 BRGM (Pháp) tiến hành nghiên cứu và xác định hàm lượng Au: 4-14 g/t và Ag: 3-74 g/t. Đây là khu vực có tiềm năng về vàng gốc và vàng sa khoáng.

    Mỏ Phnom Lung [5] gồm mạng mạch thạch anh chứa vàng trong đá granit Inđosini, theo báo cáo của BRGM, hàm lượng Au: 31 g/t.

    Mỏ Phnom Deck [5] là mỏ vàng sa khoáng; năm 1972, sản lượng khai thác của Phnom Lung và Phnom Deck khoảng 150 kg.

    Mỏ vàng Bokham [5] thuộc tỉnh Ratanakiri gồm các mạch thạch anh chứa vàng, liên quan với monzonit và điorit, hàm lượng vàng đạt đến 77 g/t, với trữ lượng khoảng 4,6 tấn vàng.

    Đá quý và đá trang sức: Corinđon (saphir và rubi) là nguồn khoáng sản chính của Campuchia, được phát hiện ở một số nơi và có hoàn cảnh địa chất tương tự. Saphir và rubi được khai thác từ các lớp eluvi, aluvi, sản phẩm phong hoá của bazan Pliocen - Đệ tứ.

    Mỏ Pailin-Samlot [5] là mỏ corinđon quan trọng nhất của Campuchia, được khai thác từ cuối thế kỷ 16. Từ năm 1990, khai thác cơ khí được áp dụng vào Pailin; tại một vị trí khai thác, mỗi ngày thu hồi được khoảng 1 kg đá quý.

    Ba tụ khoáng đá quý khác tìm thấy ở các tỉnh Koh Kong và Preah Vihear [5], chủ yếu là saphir có chất lượng tốt, nhưng nhỏ hơn mỏ Pailin. Ngoài saphir ra, zircon đi kèm với corinđon, các tinh thể màu xanh ôliu đạt chất lượng đá quý của periđot cũng tìm thấy ở vùng này. Một số tinh thể saphir màu xanh chất lượng tốt phát hiện được ở lòng sông Tonle San ở tỉnh Ratanakiri. Mặc dù các thân bazan lớn ở phía đông được coi là không có triển vọng về đá quý, nhưng phát hiện saphir mới đây trong bazan Đệ tứ ở gần biên giới với Việt Nam và trong cát lòng sông Tonle San, chứng tỏ khả năng corinđon có thể xuất hiện trong các thể bazan khác nhau.

    Indonesia

    Indonesia là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á. Thế mạnh về khoáng sản của Indonesia chủ yếu là Au, Cu. Ni, Sn.

    Đồng: Toàn bộ đồng porphyr ở Indonesia liên quan với cung núi lửa Miocen-Pliocen. Các vùng mỏ chính là Tapadaa và Sasak thuộc Sulawesi. Miền Đông Indonesia giàu kim loại không chất sắt đi kèm với đá siêu mafic. Các cung núi lửa - pluton chứa khoảng 1/6 trữ lượng đồng porphyr của thế giới. Các cung núi lửa Đệ tam giữa chứa khoảng 98% các mỏ đồng vàng đã biết của Indonesia [4].

    Có 6 mỏ Cu-Au porphyr, trong đó mỏ Batu Hijau ở Lesser Sunda [6] có khoảng 2,6 triệu tấn Cu và 233 tấn Au, mỏ Grasberg có khoảng hơn 9 triệu tấn Cu và 1.262 tấn Au, và mỏ Ertsberg có khoảng 825 ngàn tấn Cu và 26 tấn Au; các mỏ còn lại: Bulagidun, Tapadaa, Sungai Mak, Kayabulan Ridge, Cabang Kiri [6], thuộc cỡ trung bình với trữ lượng khoảng trên dưới nửa triệu tấn Cu và khoảng 10 đến 78 tấn Au mỗi mỏ.

    Vàng: gồm các mỏ Au, Au-Ag nhiệt dịch, cỡ trung bình, trong đó có 2 mỏ Au-Ag lớn nhất là mỏ Kelian [6] ở Kalimantan với trữ lượng khoảng 105 tấn Au, và mỏ Gunung Pongkor [5] ở đảo Java khoảng 102 tấn Au và 972 tấn Ag, 2 mỏ Au kiểu nhiệt dịch là Gunung Pani với trữ lượng 40 tấn Au và mỏ Awak Masmindo [6] ở Sulawesi với trữ lượng 26 tấn Au. 5 mỏ Au-Ag còn lại là Monsi, Tambang Sawah, Lebong Donok, Lebong Tandai, Mt Muro [6] với trữ lượng khoảng 24 đến 72 tấn Au mỗi mỏ, trong đó một số mỏ có trữ lượng bạc cao từ 230 đến 1080 tấn Ag.

    Nickel: Laterit nickel được khai thác ở Pomalaa và Soroako ở đông Sulawesi. Các biểu hiện nickel như garnierit và chrysopras trong lớp phủ tàn dư chứa đến 2-3% Ni. Platin biểu hiện cùng với vàng và kim cương trong aluvi cạnh núi ophiolit Meratus của đông nam Borneo. Có 5 mỏ Ni nguồn gốc phong hoá tàn dư, do quá trình phong hoá nhiệt đới mà Ni tập trung trong đới laterit tàn dư, liên quan với đá gốc periđotit. Mỏ Soroako có khoảng 3 triệu tấn Ni, mỏ Pomalaa có khoảng 1,9 triệu tấn Ni, mỏ Gagu 3,9 triệu tấn Ni, mỏ Waigeo 1,4 tr. tấn Ni còn mỏ Gebe là mỏ cỡ trung bình 0,5 triệu tấn Ni [6].  

    Thiếc: Có khoảng 10 mỏ thiếc sa khoáng và phong hoá, với trữ lượng 750.000 tấn thiếc [4], trong đó mỏ Benlinju và Pemali [6] thuộc cỡ lớn.

    Tóm lại, tiềm năng của các cung núi lửa - pluton được xác định khoảng 2.500 tấn vàng, 20 triệu tấn đồng, 8.000 tấn bạc, 1.468 triệu tấn quặng nickel (oxit và silicat), 750 triệu tấn bauxit, 750.000 tấn thiếc và 30 triệu tấn cát ven biển chứa quặng sắt [4].

    Ngoài các khoáng sản kim loại này ra còn có các khoáng sản công nghiệp như đá vôi, felspat, sét, lưu huỳnh, cát thạch anh và phosphat.

    Than: Một loạt các vỉa than trong các trầm tích Đệ tam chứa khoảng 36 tỷ tấn các kiểu than khác nhau và chỉ 11 tỷ tấn [4] được dự định khai thác dài hạn. Ba mỏ có thể khai thác phân bố ở phía nam Sumatra, đông và đông nam Kalimantan.

    Lào

    Lào có tiềm năng khoáng sản tương đối lớn, nhưng tiềm năng này chưa được phát triển đến công nghiệp khai khoáng. Thế mạnh về khoáng sản của Lào chủ yếu là vàng, sắt, thiếc, bauxit, thạch cao, muối kali, đá quý, nguyên liệu xi măng.

    Vàng: Trên cơ sở tài liệu hiện có, tiềm năng khoáng sản vàng có thể chia ra các đới sau [5]:

    - Đới đá núi lửa Sarakham-Paklay: địa chất của đới này được biết tương đối rõ và gần đây có một vài dự án thăm dò trong khu vực. Đây là phần kéo dài của đai đá núi lửa chứa vàng Loei ở Thái Lan. Các đá núi lửa anđesit có thể là nguồn chứa vàng, nhưng vàng được phân bố trong các mạch thạch anh và các đới biến đổi bên cạnh các khối granođiorit và porphyr cùng thời.

    - Đới đá núi lửa Xiêng Khoảng: đới này có triển vọng cao về vàng, bao gồm các đá ryolit tuổi Permi, bị các đá xâm nhập granođiorit cùng thời xuyên cắt, tạo nên đới đá biến chất trao đổi chứa pyrit. Trong đới đá biến đổi đã phát hiện được nhiều khu vực giàu đồng và sa khoáng vàng trong lưu vực sông Nậm Ngừm chảy từ vùng này ra.

    - Đới khoáng hoá vàng nhiệt dịch nhiệt độ thấp trong đá ryolit ở Champasak: Một khu vực rộng lớn lộ ra kề sát với biên giới Campuchia và có các dấu hiệu của biến đổi nhiệt dịch nhiệt độ thấp. Trong khu vực này đã phát hiện được 21 điểm sa khoáng vàng.

    - Đới Luang Phabang – Nam U: Đới này kéo dài dọc theo thung lũng sông Nậm U và có thể tiếp tục đến tỉnh Phongsaly và được biểu hiện bởi sa khoáng vàng và khoáng hoá Cu-Zn trong các mạch thạch anh.

    - Đới triển vọng vàng trong dãy Trường Sơn: Các khu vực triển vọng vàng trong các đá núi lửa tuổi P-T thuộc dãy Trường Sơn về phía ĐN tỉnh Xiêng Khoảng gồm có một số điểm quặng và tụ khoáng vàng được coi là thuộc kiểu nhiệt dịch nhiệt độ thấp. Các khu vực tương tự được tìm thấy ở ĐB Thakhek và vùng Nam Kok, tỉnh Savanakhet. Về phía bắc thị xã Sepon, tỉnh Savanakhet, trên một chiều dài khoảng 5 km, bảy mỏ vàng và một mỏ đồng đã được phát hiện, thăm dò và đã khai thác trong những năm gần đây [1]. Khoáng hoá Au có nhiều đặc điểm giống với các mỏ vàng kiểu carlin ở Nevada của Mỹ. Trữ lượng của các mỏ vàng ở Sepon khoảng 113 tấn Au, còn mỏ đồng Khanong là một thân quặng đồng oxit và chalcocit biểu sinh hàm lượng cao ở gần bề mặt.

    Một khu vực khác có khoáng hoá vàng phát triển trong đá granođiorit ở vùng ĐN Lào, có biểu hiện dị thường khoáng vật nặng về vàng do các chuyên gia Nga phát hiện. Ngoài ra, vàng sa khoáng tìm thấy nhiều nơi ở Lào, đặc biệt là dọc theo thung lũng sông Mekong ở Bắc Lào.

    Sắt: Nhiều tụ khoáng quặng sắt có ý nghĩa ở TB Viêng Chăn. Quặng sắt ở Xiêng Khoảng và Phalek được biết từ lâu. Quặng sắt ở Phu Nhuon (Xiêng Khoảng) gồm magnetit, hematit với hàm lượng Fe: 64%. Chưa có công trình thăm dò để tính trữ lượng. Quặng sắt ở Phalek đã được một công ty Mỹ tiến hành đo từ hàng không vào năm 1960 và các nhà địa chất Việt Nam đã tiến hành khảo sát sơ bộ trên mặt năm 1986 [5].

    Bauxit: Cao nguyên bazan Boloven ở Nam Lào có tiềm năng bauxit laterit với trữ lượng khoảng 2 tỷ tấn quặng bauxit [5].

    Thiếc và wolfram: Có hai khu vực có thiếc là: mỏ Nam Pathen [5] ở Trung Lào, đã khai thác khoảng 30 năm nay từ quặng aluvi và eluvi; đới chứa thiếc-wolfram Luang Namtha [5] phân bố ở tây bắc Lào, ở rìa đông nam của khối lục địa Shan - Thai, đới này là phần kéo dài của đới chứa thiếc Chiang Mai - Chiang Rai từ Thái Lan và kéo dài về phía Trung Quốc có biểu hiện cassiterit trong hệ thống sông suối từ dãy Trường Sơn [5] dọc theo biên giới với Việt Nam.

    Muối ăn và muối kali: Muối ăn được khai thác với quy mô nhỏ ở trũng Viêng Chăn và trũng Savanakhet [5], còn nguồn muối kali lớn có ở trũng Viêng Chăn có thể tạo nên cơ sở công nghiệp phân bón trong tương lai. Các tài liệu của 30 lỗ khoan do các nhà địa chất Lào và Việt Nam khoan trong thời gian 1983-1987 cho thấy muối kali-magnesi có chiều dày từ 10 đến 150 m, thành phần chủ yếu là carnalit, muối kali sylvit, cũng như các lớp giàu muối ăn halit. Tụ khoáng muối kali ở đồng bằng Viêng Chăn được coi là tụ khoáng lớn nhất của Lào và của khu vực*.

    ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

    * Cuối năm 2004, Liên đoàn Intergeo đã giúp phát hiện một tụ khoáng muối kali rất lớn ở Tây Savanakhet (BBT).

    Thạch cao: Trữ lượng thạch cao hiện có của ở trũng Savanakhet [5] đáp ứng các yêu cầu tiêu thụ hiện tại. Tại đây, thạch cao có nguồn gốc trầm tích bốc hơi, được khai thác lộ thiên bắt đầu từ năm1980; 95% sản lượng được xuất khẩu sang Việt Nam, phần còn lại được tiêu thụ trong nước. Mới đây một tụ khoáng mới được phát hiện ở Ban Bung Houa Na [5].

    Đá quý: Saphir được khai thác từ các nhánh của sông Mekong và Ban Houei Sai [5] ở TB Lào. Saphir có trong trầm tích eluvi và aluvi. Hoạt động khai thác saphir từ 1986-1990 do xí nghiệp khai khoáng nhà nước tiến hành. Năm 1991-1993, Chính phủ Lào đã cấp giấy phép trên một diện tích hạn chế cho một công ty Thái Lan, năm 1994, cấp giấy phép trên một diện tích hạn chế khác cho một công ty New Zealand thăm dò và khai thác đá quý. Ngoài ra, cao nguyên Boloven cũng được coi là có tiềm năng về saphir.

    Malaysia

    Khoáng sản ở Malaysia chủ yếu là thiếc, đi kèm với thiếc là wolfram; ngoài ra còn có sắt, vàng và đồng-vàng.

    Thiếc: Thiếc là khoáng sản chính của Malaysia. Phần phía tây Malaysia nằm trong trường thiếc Đông Nam Á, kéo dài từ phía bắc Myanmar qua Thái Lan, tây Malaysia, tới đảo thiếc của Indonesia, trong đó có các trường thiếc Kinta Valley, Kuala Lampur, Pahang-Nam Trengganu và các trường thiếc cỡ nhỏ Bakri, Nam Johore. Trữ lượng thiếc của Malaysia khoảng 1.200 ngàn tấn, wolfram khoảng 17 ngàn tấn [3].

    Sắt: Các tụ khoáng và mỏ quặng sắt được xác định là có tuổi từ Carbon đến Trias, phần lớn có nguồn gốc nhiệt dịch trao đổi thay thế. Điển hình là mỏ Pelepah Kanan thuộc vùng Kota Tunggi ở Johore, với khoáng vật quặng chủ yếu là magnetit và martit. Trữ lượng quặng sắt của Malaysia khoảng 89 triệu tấn [3].

    Đồng-vàng: Mỏ Cu-Au porphyr Mamut ở tỉnh Sabah thuộc cỡ mỏ trung bình, với trữ lượng khoảng 856.000 tấn Cu và khoảng 126 tấn Au [6].

    Mỏ vàng Penjom phân bố ở Trung Malaysia. Công ty Avocet Mining [1] đã sản xuất hơn 154 kg Au kể từ khi bắt đầu khai thác (năm 1996). Tài nguyên xác định hiện nay là 2,39 triệu tấn quặng với hàm lượng 5,2 g/t, tương đương với 1 tấn Au; tài nguyên dự báo bổ sung 1,62 triệu tấn quặng với hàm lượng 4,2 g/t. Trữ lượng tổng cộng bao gồm cả các thể ống là 2,67 triệu tấn, với hàm lượng 5 g/t. Khoáng hoá Au liên quan với các mạch thạch anh ankerit-đolomit sulfur và mạng mạch ở trong đá tonalit hoặc ở nơi tiếp xúc giữa tonalit và đá trầm tích.

    Các biểu hiện khoáng hoá sulfur kiểu Kuroko đã tìm thấy trong các đá núi lửa và đá vụn núi lửa Permi-Trias; các thân quặng này có quy mô nhỏ.

    Myanmar

    Myanmar giàu về tài nguyên khoáng sản, các khoáng sản quan trọng là đồng, vàng, chì kẽm, bạc, thiếc, wolfram, antimon, chromit, nickel, đá quý, về mặt tiềm năng khoáng sản, Myanmar được xếp vào một trong số những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á.

    Về mặt địa chất, Myanmar bao gồm các đá từ Tiền Cambri đến Đệ tứ và được chia ra làm bốn đới kiến tạo theo phương bắc-nam, các đới này từ đông sang tây như sau: cao nguyên phía đông, đới trung tâm, đới phía tây và đới bờ biển Rakhin. Hầu hết các biểu hiện quặng như Pb, Zn, Cu, Ag, Sn, W, Sb, Au và Fe tìm thấy ở cao nguyên phía đông. Đồng porphyr, Au, than tìm thấy ở đới trung tâm. Ni, Cr và kim loại nhóm platin tìm thấy ở đới phía tây. Đới bờ biển Rakhin có tiềm năng khoáng sản thấp nhất, chỉ có một số biểu hiện của dầu khí.

    Đồng: Hơn 50 điểm quặng đồng phân bố dọc ba đơn vị kiến tạo chính của Myanmar, trong đó có ba mỏ đồng porphyr ở gần vùng Chindwin Hạ [5]. Tụ khoáng Monywa [6] thuộc loại lớn với quặng nguyên sinh chỉ có 0,1-0,3% Cu. Nhờ làm giàu biểu sinh mà hàm lượng Cu lên tới 0,9%, với trữ lượng 2,4 triệu tấn Cu và mỏ Latpadaung Taung [6] có khoảng 400 triệu tấn quặng, với hàm lượng 0,5% Cu (2 triệu tấn Cu). Đó là những mỏ có trữ lượng cỡ thế giới.

    Sắt: Tụ khoáng sắt có trữ lượng khoảng 100 triệu tấn ở Pengpet, miền nam Myanmar, có thể giúp phát triển một nhà máy thép mới [5].

    Chì, kẽm, bạc được khai thác ở mỏ Bawdwin, Bawsaing và Yadamatheingi [5]. Mỏ Bawdwin là mỏ đa kim gồm Pb-Zn-Ag dạng mạch nhiệt dịch, thuộc cỡ lớn với trữ lượng 9 triệu tấn Pb, 5,2 triệu tấn Zn. Ngoài ra còn có 13.950 tấn Ag [6]. Mỏ này được coi là giàu bạc nhất thế giới.  

    Vàng gốc và vàng sa khoáng có ở các vùng khác nhau. Các mỏ vàng nằm ở Phayaung Taung và Thayetkhone, Shwekyin và gần Myitkyina, dọc theo sông Ayeyawady. Ngoài ra, ở vùng Kyaukpahto và phụ cận có tiềm năng vàng đang được các công ty trong nước và nước ngoài thăm dò [5].

    Nickel: Các tụ khoáng nickel tìm thấy ở Mwetaung thuộc bang Chin, 30 km về phía tây bắc Mandalay. Trữ lượng ước tính 30 triệu tấn quặng, với hàm lượng trung bình 1,1% Ni, khoảng 0,3 triệu tấn Ni. Trữ lượng tiềm tàng là 80 triệu tấn, với hàm lượng 1% Ni, tương đương với 0,8 triệu tấn Ni. Tụ khoáng Tagaung Taung có nguồn gốc phong hoá tàn dư, cỡ trung bình, với trữ lượng khoảng 40 triệu tấn quặng với hàm lượng 1,4% Ni, tương đương với 0,5 triệu tấn Ni [6].

    Có 7 mỏ Sn và Sn-W gốc và sa khoáng, thuộc cỡ trung bình, trong đó mỏ Mauchi ở Keyash có dạng mạch nhiệt dịch với trữ lượng 214 ngàn tấn Sn-W và mỏ Dawna Range ở Keyin với trữ lượng 11 ngàn tấn Sn và 6 ngàn tấn WO3 [6].

    Có 2 mỏ Sb dạng mạch nhiệt dịch cỡ trung bình là mỏ Lebeyin Area với trữ lượng 9.646 tấn Sb, mỏ Paan với trữ lượng 14.900 tấn Sb [6].

    Than đá: Các tụ khoáng than đá phần lớn là than bán bitum với trữ lượng khoảng 200 triệu tấn ở khu vực phía bắc, trong đó tụ khoáng Kalewa là tụ khoáng duy nhất có ý nghĩa. Ngoài ra còn có tụ khoáng than ở vùng Tanintharyi. Công ty khai thác chính của Myanmar đang quan tâm thăm dò và khai thác tụ khoáng này [5].

    Đá quý: Rubi được khai thác ở vùng Mogok, đông bắc Mandalay, saphir và các loại đá quý có màu sắc khác nhau gồm spinel, granat, periđot, tourmalin, aquamarin, amethyst, citrin, zircon, đá mặt trăng v.v…đều được khai thác từ vùng Mogok. Ba khu vực đá quý mới được phát hiện là Pyinlon, Namsakha, Mongshu, trong đó phát hiện dấu vết đá quý ở Mongshu là có ý nghĩa nhất. Kim cương và đá quý có chất lượng tốt cũng được tìm thấy khi đãi thiếc ở Theindaw và Tanintharyi, bang Shan. Myanmar cũng nổi tiếng về ngọc bích và được phân loại thành 3 nhóm theo màu sắc ánh, cấu tạo và độ hạt. Loại tốt là ngọc bích hoàng đế, mà nổi tiếng là ngọc lục bảo được dùng làm đồ trang sức và chế tác đồ trang trí. Jađeit cũng tìm thấy có đủ các màu sắc từ trắng đến đen.

    Đá ốp lát: Có nhiều điểm lộ đá granit và đá hoa với nhiều màu sắc và mẫu mã khác nhau. Sáu mỏ granit ở vùng Kyaikhto và Ye ở bang Mon và 18 mỏ ở Myeik và quần đảo Dawei, khu vực Tanintharyi. Trữ lượng ước tính ở bang Mon là 3,7 tỷ tấn, trữ lượng tổng cộng ở Tanintharyi là 57 tỷ tấn. Trữ lượng đá vôi của Myanmar khoảng 563 tỷ tấn [5].

    Philippines

    Philippines có lịch sử lâu đời về khai thác mỏ và có điều kiện địa chất thuận lợi cho thành tạo nhiều loại mỏ khoáng sản, là một trong những nước giàu khoáng sản ở Đông Nam Á. Thế mạnh về khoáng sản của nước này chủ yếu là: Cu, Au, Ni, Cr. Fe

    Sắt: Các mỏ quặng sắt liên quan chặt chẽ với các đá điorit tuổi Đệ tam, điển hình là mỏ Larap. Quặng chủ yếu là magnetit, có chứa một hàm lượng đồng, molypđen, vàng, urani và cobalt. Trữ lượng quặng sắt khoảng 77 triệu tấn [3].

    Đồng: Có ba vùng khoáng hoá đồng quan trọng. Vùng phía bắc liên quan với đới hút chìm về phía đông biển Đông Việt Nam, với tuổi khoáng hoá Miocen giữa đến Miocen muộn; vùng giữa liên quan với đới hút chìm của biển Sulu, có tuổi Paleocen muộn. Vùng phía đông liên quan với đới hút chìm Thái Bình Dương, có tuổi Pliocen. Có 15 mỏ Cu và Cu-Au kiểu porphyr, trong đó các mỏ lớn như mỏ Atlas Biga ở Sebu thuộc vùng giữa với khoảng 5 triệu tấn Cu, là mỏ đồng lớn nhất. Mỏ thứ hai là Sipalay ở phía đông Negros với trữ lượng khoảng 3 triệu tấn Cu, mỏ Lepanto far Southeast ở Luzon với hơn 1 triệu tấn Cu và 286 tấn Au. Các mỏ còn lại cỡ trung bình với trữ lượng dưới 1 triệu tấn Cu và dưới 100 tấn Au. Mỏ Cu-Au Lepanto kiểu nhiệt dịch nhiệt độ thấp ở Luzon có đến 900 ngàn tấn Cu và 122 tấn Au [6].

    Ngoài ra, còn có các mỏ Cu-Au-Pb-Zn Bagacay và mỏ Cu-Au-Ag Surat ở đảo Samar [6] được coi là thuộc kiểu kuroko giả tầng. Mỏ Bagacay có pyrit, chalcopyrit, bornit, sphalerit và galen dạng lớp đặc sít hoặc thấu kính dẹt chỉnh hợp trong các trầm tích Pliocen bên cạnh các đá núi lửa và vụn núi lửa Miocen, với 33 ngàn tấn Cu, 32 ngàn tấn Pb-Zn. Mỏ Cu-Au-Ag giả tầng Surat ở Samar có 198 ngàn tấn Cu, 20 tấn Au và 682 tấn Ag.

    Vàng: Có 4 mỏ Au-Ag, Au-Cu và Au-Te nhiệt dịch dạng mạch ở vùng Luzon và Mindanao [6]. Khoáng hoá vàng-bạc nhiệt độ thấp thể hiện ở mức cao hơn đồng porphyr; còn vàng-bạc, telur và đồng có thể cùng tồn tại như ở Baguio. Mỏ Placer ở Mindanao có 54 tấn Au, các mỏ còn lại: khoảng 21 đến 23 tấn Au.

    Nickel: Có 7 mỏ Ni phong hoá tàn dư laterit trên các đá siêu mafic, trong đó mỏ Rio Tuba ở Palawan: 220 ngàn tấn Ni và mỏ Nonoc 1 ở Dinagat: 930 ngàn tấn Ni; hai mỏ này thuộc cỡ lớn, các mỏ còn lại cỡ trung bình với trữ lượng khoảng 100 đến 200 ngàn tấn Ni [6].

    Chromit: Nguồn chromit lớn nhất là từ tập hợp ophiolit ở tỉnh Zabarez. Có 2 mỏ chromit cỡ lớn ở tỉnh Zambarez có nguồn gốc magma, liên quan với các đá siêu mafic, là mỏ Acoje: 640 ngàn tấn Cr2O3 và mỏ Coto/Masinloc: khoảng 1,7 triệu tấn Cr2O3 [6].

    Thái Lan

    Thái Lan có nguồn khoáng sản phong phú và đa dạng, một số tụ khoáng đang được khai thác. Khoáng sản quan trọng là Sn, Cu, Au, Pb, Zn, đá quý, muối kali, muối mỏ.

    Thiếc là khoáng sản chính, được khai thác và chế biến trong vòng hơn 100 năm nay và là khoáng sản xuất khẩu chính, đưa lại thu nhập lớn cho đất nước trong nhiều năm. Tuy vậy, cuộc khủng hoảng về thiếc năm 1985 dẫn đến sự thay đổi mạnh mẽ trong công nghiệp khai thác thiếc và khoảng 50% mỏ thiếc phải đóng cửa. Sản lượng thiếc hiện nay chủ yếu là từ sa khoáng cassiterit ở ngoài khơi vùng núi Phuket-Phangnga-Tukuapa và một số mỏ trên đất liền, phân bố dọc theo dãy núi chạy từ bắc đến nam theo rìa phía tây của đất nước. Có 5 mỏ thiếc sa khoáng lớn ở Ranong, Tukua Pa/Phang Nga ngoài khơi, Tukua Pa/Phang Nga trên đất liền, Phuket ngoài khơi và Nakhon Si Thammarat [5]. Thiếc gốc tìm thấy trong đá granit, hoặc trong đá vây quanh dưới dạng mạch nhỏ, các thân pegmatit, aplit và các đới greisen chứa thiếc. Một số nơi tìm thấy cassiterit kiểu skarn ở nơi tiếp xúc giữa granit và đá vôi. Trữ lượng thiếc của Thái Lan khoảng 337 ngàn tấn Sn

    Wolfram chủ yếu dưới dạng wolframit, được thu hồi từ các mỏ thiếc cả sa khoáng lẫn thiếc gốc. Tụ khoáng ferberit (FeWO4) được tìm thấy trong đá sét bị silic hoá, sheelit thấy ở Doi Mok, trong đá skarn nằm giữa granit biotit và đá vôi, đá phiến sét [5]. Nhìn chung, wolframit có quy mô nhỏ.

    Quặng sắt ở Thái Lan được thăm dò ở Phu Yang, Phu Ang, Phu Lech, Phu Hia, tỉnh Loei [5]. Đây là các tụ khoáng sắt biến chất trao đổi tiếp xúc; thành phần khoáng vật quặng chủ yếu là hematit và magnetit với trữ lượng 27 triệu tấn, hàm lượng 52% Fe. Ngoài ra, quặng sắt còn có ở vùng Uem Kruem khoảng 4,8 triệu tấn, hàm lượng 40% Fe, vùng Khao Thab Kwai khoảng 7,6 triệu tấn quặng với hàm lượng 44.4% Fe. Tổng trữ lượng quặng sắt khoảng 49 triệu tấn.

    Mangan tìm thấy dưới dạng giả tầng, mạch và tàn dư dạng túi. Hầu hết các mỏ mangan phát hiện được ở miền Bắc Thái Lan và ở tỉnh Loei [5], sản lượng vừa đủ cho công nghiệp pin và luyện kim trong nước.

    Đồng: Đồng porphyr tìm thấy ở Phu Thong Daeng và Phu Hin Lech Fai ở tỉnh Loei [5], khoáng vật quặng chủ yếu là chalcopyrit, pyrit, chalcocit đặc sít hoặc xâm tán trong tuf hoặc điorit porphyr hoặc mạng mạch. Ở Phu Thong Daeng, trữ lượng chắc chắn và tương đối chắc chắn là 1 triệu tấn quặng và trữ lượng dự báo 12 triệu tấn quặng với hàm lượng 1% Cu. Ở Phu Hin Lech Fai, trữ lượng khoảng 15 triệu tấn quặng với hàm lượng 1% Cu và trữ lượng dự báo là 50 triệu tấn quặng. Tụ khoáng Cu-Au Phu Lon tỉnh Nọong Khai [5] gồm đới khoáng hoá trong đá skarn và monzonit thạch anh porphyr. Khoáng vật quặng chủ yếu là pyrit, chalcopyrit dưới dạng mạch nhỏ hoặc xâm tán trong đá skarn. Trữ lượng khoảng 18,5 triệu tấn quặng, với hàm lượng Cu: 1%, Au: 0,8 -1,2g/t, Ag: 4-5g/t. Tổng trữ lượng khoảng 96 triệu tấn quặng với hàm lượng 1% Cu.

    Chì: Nhiều tụ khoáng quặng chì tìm thấy ở Song Toh, Nong Phai và Bo Ngam, tỉnh Kanchanaburi [5] với trữ lượng khoảng 1,8 triệu tấn quặng, hàm lượng 10% Pb. Bạc thường đi kèm với chì (0,6-1,4 g/t).

    Kẽm được khai thác ở mỏ Mae Sot, tỉnh Tak từ năm 1984. Ở mỏ Pa Deang [5], quặng có trong cát kết vôi và đá vôi tuổi Trias với trữ lượng 4,5 triệu tấn quặng, hàm lượng Zn: 24%.

    Vàng: Vàng được tìm thấy ở một số nơi, phần lớn trong sa khoáng từ các mạch gốc. Mạch thạch anh chứa vàng thường quan sát thấy trong granit, điorit, đá núi lửa và trong một số đá biến chất.

    Mỏ vàng nổi tiếng của Thái Lan là Tok Moh ở tỉnh Narathiwat gần biên giới với Malaysia, là mỏ duy nhất khai thác vàng từ các mạch thạch anh với trữ lượng khoảng 6-9 tấn Au. Các tỉnh khác có tiềm năng về vàng là Loei, Udom Thani, Nong Khai, Pracin Buri, Phrae, Lampang, Phetchabun, Chiang Rai và Prachuap Khiri Khan [5].

    Muối kali và muối mỏ tìm thấy trong trầm tích Creta ở Đông Bắc Thái Lan, nơi có hai trũng evaporit Sakhon Nakhon và Khorat được xác định từ 1973. Các lỗ khoan đã chỉ ra có ba tầng sản phẩm evaporit, muối mỏ chứa carnalit, sylvit và muối mỏ thông thường. Trữ lượng khoảng 400 tỷ tấn carnalit, 7 tỷ tấn sylvit, và 18.000 tỷ tấn muối mỏ [5].

    Thạch cao: Hai mỏ thạch cao hiện đang khai thác ở Nakhon Sawan - Phichit ở tỉnh Surat Thani và Nakhon Si Thammarat, miền Nam Thái Lan; thạch cao nằm phủ trên đá vôi Carbon-Permi. Trữ lượng các mỏ phía bắc khoảng 99 triệu tấn và 70 triệu tấn ở các mỏ phía nam. Một tụ khoáng thạch cao mới phát hiện gần đây ở Wang Saphung, Loei đông bắc Thái Lan. Trữ lượng có thể không ít hơn 35 triệu tấn [5].

    Đá quý: Thái Lan được biết như một nước cung cấp đá quý nổi tiếng của thế giới. Đá quý chủ yếu là rubi và saphir, thu được từ các đá núi lửa Kainozoi, phổ biến là từ bazan kiềm. Hầu hết đá quý như corinđon được khai thác từ đất tàn dư của bazan, trầm tích coluvi, đeluvi, eluvi và aluvi và một vài mỏ được khai thác từ các thể bazan lấp đầy họng núi lửa. Các mỏ đá quý ở Chanthaburi, Trat và Kanchanaburi chủ yếu chứa rubi và saphir. Đá quý được khai thác ở Phrae, Sukhothai, Phetchabun, Sisaket và Ubo Ratchathani. Các vùng này nổi tiếng về rubi, và saphir màu xanh [5]. Một số đá quý như spinel, pyroxen, granat, zircon và saniđin cũng đi kèm với rubi và saphir. Các loại đá nửa quý tìm thấy ở nhiều nơi của Thái Lan, đó là thạch anh tinh thể, amethyst, thạch anh màu hồng. Kim cương thu hồi được từ khai thác thiếc sa khoáng gần Phuket và Phangnga với kích thước từ 1,8 đến 10 mm (0,4 – 6,79 carat) [5].

    Than: Thái Lan bắt đầu sản xuất một khối lượng nhỏ than vào năm 1975. Mãi đến cuối năm 1992, tổng sản phẩm than đạt đến 94 triệu tấn, chủ yếu từ 12 bể than ở phía bắc, không kể bể than quan trọng Karabi ở phía nam. Các bể than này có trữ lượng 1,5 tỷ tấn. Ở bể than Mac Moh và Karabi, 95% trữ lượng là than lignit. Thái Lan có nguồn than đủ đáp ứng yêu cầu cho những năm đầu của thập kỷ 2000 [5].

    VĂN LIỆU

    1. Asian update on mineral exploration and development. AIG Bulletin, 39. Australian Institute of Geoscientists, Sydney, 2000.

    2. ESCAP, 1997. Towards sustainable minerals supply in the Asian and Pacific Region. Review of emerging mineral policies and development activities, 3, UN, New York.

    3. ESCAP, 1997. Minerals and metal trade for sustainable supply within the regional and global contexts for countries of Northeast Asia and Southeast Asia. Workshop on Sustainable Minerals Supply in the Asian-Pacific Region, Bangkok, Thailand.

    4. ESCAP, 1999. Sustainable development of land and mineral resources in Asia and the Pacific. National policy initiatives and trends in mining taxation, 5. UN New York.

    5. ESCAP, 1999. Integrated assessment and development of mineral resources in the Great Mekong Subregion, vol. 11, UN, New York.

    6. Metal Mining Agency of Japan, 1998. List of metallic mineral deposits in Asia. Tokyo.
    ok



    Bài viết tương tự Collapse

      Chủ đề Diễn đàn Người gửi Thống kê Thông tin bài viết cuối