Jump to content


mỏ nhiệt dịch


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
No replies to this topic

#1 phamdao

phamdao

    Newbie

  • Thành viên
  • Pip
  • 7 Bài viết:
  • Joined 25-April 09
  • Reputation: 0

    Posted 06 October 2009 - 10:19 PM

    MỎ NHIỆT DỊCH


    I/Đại cương về mỏ nhiệt dịch:
             Các mỏ nhiệt dịch thuộc nhóm mỏ rất có giá trị trong thức tế, nó gồm những mỏ kim loại màu (Cu, Pb,Zn, Ni, Co), kim loại hiếm (Sn, W, Mo, Hg, As, Sb), kim loại quý (Au, Ag), kim loại đen (Fe, Mn), và một số khoáng sản phi kim loại như atbet, tan, manhezit…
             Các mỏ nhiệt dịch phất triển nhiều ở các đới uốn nếp, còn ở các miền nền thì gặp ít hơn rất nhiều. Tất cả những mỏ này đều được thành tạo từ những dung dịch khoáng hóa nóng lẫn khí có liên quan với các macma theo chu kỳ hoạt động của chúng.
             Nhiệt độ thành tạo của các mỏ nhiệt dịch xảy ra chủ yếu trong khoảng từ 400-50oC.Độ sâu thành tạo của các mỏ nhiệt dịch rất khác nhau,có thể ở dưới sâu 3-5km,ở độ sâu trung bình 1-3km,và ở nông 1km hoặc gần mặt đất hơn.

    II/Đặc điểm mỏ nhiệt dịch:
    1.Mỏ nhiệt dịch sâu:
             Các mỏ nhiệt dịch sâu (mỏ nhiệt dich-xâm nhập) liên quan với các đá xâm nhập thành phần axit,axit vừa và kiềm vừa,được hình thành chủ yếu trong các miền uốn nếp và miền nền bị hoạt hóa.Chúng khá đa dạng về thành phần và phổ biến rất rộng rãi.Mỏ được thành tạo ở độ sâu 1-5km,nhiệt độ ban đầu khoảng 500oC,bộ phận quặng chủ yếu lắng đọng trong khoảng 400-300oC,cuối quá trình tạo khoáng nhiệt độ giảm  thấp dưới 100oC.
             Nhóm mỏ nhiệt dịch sâu bao gồm các mỏ anbitit-greizen,các mỏ quặng có thạch anh cộng sinh,sulfua cộng sinh và cacbonat cộng sinh.
       a)Mỏ anbitit-greizen:
             Chúng tập trung ở phần vòm và phần lộ ra của các khối xâm nhập axit và kiềm bị thay thế trao đổi kiềm sau macma.Các kim loại điển hình của anbitit là Zr, Nb, Th, còn đối với greizen là Be,Li,Sn, W…
             Mỏ anbitit và greizen được thành tạo đưới tác dụng của dung dịch của chính khối macma đó.Qúa trình xảy ra ở nhiệt độ cao 400-500oC và lớn hơn.Ở dây pha khí có vai trò đặc biệt quan trọng.
       b)Phụ nhóm nhiệt dịch sâu có thạch anh cộng sinh:
             Bao gồm các thành hệ quặng sau: thạch anh-vàng; thạchanh-asenopyrit-vàng; thạch anh-pyrit-vàng; thạch anh-tuamalin-vàng; thạch anh-casiterit; thạc anh-molipdenit; thạch anh-chancopyrit; thạch anh-enargit; thạch anh-silit; thạch anh-bismutin; thạch anh-uraninit; thạch anh-hematit; thạch anh-silit-vàng; thạch nah-barit; thạch anh pha lê.
       c)Phụ nhóm mỏ nhiệt  dịch sâu có sunfua cộng sinh:
             Bao gồm các thành hệ quặng sau: galenit-sphalerit-chancopyrit; galenit-sphalerit-pyrit-barit; sunfua-nasturan; asenopyrit; casiterit-galenit-sphalerit; casiterit- clorit pyrotin; vàng-antimonit.
       d)Phụ nhóm mỏ nhiệt dịch sâu có cacbonat cộng sinh:
             Thuộc phụ nhóm này có các mỏ quặng: siderit,manhezit,rodocrozit, mỏ canxit-tremonit-talc…

             Ngoài những mỏ đã nêu trên,trong nhóm mỏ nhiệt dịch xâm nhập còn gặp các mỏ không kim loại như: barit-viterit, fenankit-fluorit,graphit,…, đồng thời cũng gặp các mỏ quặng thuộc loại chuyển tiếp như thạch anh-sunfua; cacbonat-sunfua; thạch anh-cacbonat.
             Qúa trình tạo quặng mỏ nhiệt dịch sâu (nhiệt dịch-xâm nhập) thường trải qua nhiều giai đoạn.Các tổ hợp cộng sinh khoáng vật lắng đọng và thay thế nhau theo chiều hướng sau:ở giai đoạn đầu,các kim loại tách ra ở dạng hợp chất oxyt (thạch anh,manhetit,hematit,vonframit,casiterit…),ở giai đoạn giữa,các khoáng vật sunfua,sunfua muối và các hợp chất tương tự lắng đọng ồ ạt,ở giai đoạn cuối thì cacbonat giữ vai trò chủ yếu (canxit,dolomit,siderit,manhezit…).
             Ngoài greizen hóa,fenspat hóa,những hiện tượng biến đổi nhiệt dịch cạnh mạch quặng thường gặp là: xerixit hóa,clorit hóa,thạch anh hóa,pyrit hóa,propyrit hóa,listovelit hóa,đôi khi còn có secpentin hóa,hematit hóa.
             Kiến trúc quặng thường gặp là hạt nửa tự hình,hạt tha hình,kiến trúc porphia,kiến trúc emunxi (vân tinh,nhũ tương).Cấu tạo quặng đặc trưng là khối đặc xít,xâm nhiễm,đới,dải,mạch quặng,gân mạch.
             Thân quặng được thành tạo do lấp đầy khe nứt,do thay thế trao đổi và do phối hợp cả hai phương thức này.Thân quặng có kích thước dao động trong phạm vi rất lớn: từ vài met tới vài kilomet.
    2.Mỏ nhiệt dịch phun trào:
             Nhóm mỏ này liên quan chủ yếu tới các thành tạo núi lửa thành phần andezit-daxit trong các miền uốn nếp,vòng cung đảo và liên quan với phun trào kiềm ở miền nền hoạt hóa.Nét đặc trưng nhất là các mỏ này thường nằm trùng với họng núi lửa và phần rìa của những họng đó,trong các kiến trúc hình nón,hình vòng trong phạm vi họng và các kiến trúc khe nứt tỏa tia ngoài họng.
             Mỏ được thành tạo ở đới gần mặt đất (sâu từ vài chục met tới vài trăm mét,có khi tới 1-2km),trong điều kiện nhiệt độ và áp suất giảm đột ngột,còn thế oxy thì tăng nhanh.Nhiệt độ ban đầu của quá trình tạo quặng có thể cao (gần 500oC) nhưng sẽ giảm rất nhanh tới 100oC và thấp hơn nữa.Trong điều kiên đó,khoáng hóa xảy ra với tốc độ nhanh trong biên độ thẳng đứng hẹp,tạo nên quặng có tổ hợp cộng sinh đa dạng và phức tạp.
             Biến đổi đá vây quanh thường gặp là: thạch anh hóa,propylit hóa,alunit hóa,kaolinit hóa.Thường gặp các quặng có cấu tạo keo và kiến trúc biến keo.Thân quặng thường gặp dạng mạch,ống,bướu kích thước không lớn và hay bị vát nhọn ở dưới sâu.
             Các mỏ nhiệt dịch phun trào cso gia trị là:
    - Các mỏ thuộc thành hệ đa kim chứa vàng-bạc nằm trùng với đai núi lửa Đệ Tam vùng Cordilier ở Nam Mỹ và Bắc Mỹ,trong các đá phun trào vùng Karpat và trên các đảo ở Nhật Bản,Sumatra,Philipin,Niudilan…Thân quặng dạng mạch nằm trong các họng núi lửa.Quặng gồm có thạch anh,canxedon,opan,adule,cacbonat với pyrit,macazit,chancopyrit,galenit,sphalerit,argenit,stephanit,polibasit,vàng,b
    c tự sinh và các khoáng vật hiếm khác
    - Các mỏ thuộc thành hệ vàng-bạc với telua và selen nằm trong các đá phun trào bị propylit hóa.Gặp ở Viễn Đông,Nhật Bản,Indonesia,Mỹ,Mêhico.Quặng gồm các khoáng vật: pyrit,macazit,stibinit,argenit,pyracgirit,polibasit,selenua,thạch anh,canxedon,adule,fluorit và canxit.
    - Các mỏ thuộc thành hệ casiterit-vonframit-bismutin-argenit nằm trùng với các thể cán núi lửa thành phần axit tuổi Đệ Tam,có thành phần phức tạp.Ngoài 4 khoáng vật trên còn gặp pyrit,pyrotin,pyracgirit,chancopyrit,stanin và các sunfua khác.
    - Các mỏ thuộc thành hệ chancopyrit-enargit-chancosin (đôi khi có molipdenit,tuamalin).
    - Các mỏ thuộc thành hệ molipdenit-fluorit-nasturan liên quan với các đá phun trào andezit và trachit.
    - Mỏ fluorit-bertrandit (Tomas ở Mỹ).
    - Mỏ xinoba (Vuscovo ở Zakarpat).
    - Mỏ đồng tự sinh (Hồ Thượng ở Mỹ).
    - Spat băng đảo (Tunguska ở Xibiri).
    - Mỏ lưu huỳnh tự sinh,các sunfua của Fe & Cu trong các trầm tích của khí phun núi lửa (đảo Kuril,Nhật Bản,Italia).
    3.Mỏ sunfua pyrit khối đặc xít (mỏ conchedan):
             Mỏ sunfua pyrit liên quan mật thiết với thành hệ đá phun trào dưới nước,loại bazan-liparit.Chúng là thành viên của đai ofiolit hoạc đai đá lục.Mỏ sunfua pyrit đặc trưng cho loại nhiệt dịch phun trào,một bộ phận của chúng thuộc loại trầm tích phun trào.Do đó nhiều nhà nghiên cứu xem mỏ sunfua pyrit là loại mỏ trung gian giữa mỏ nội sinh và mỏ ngoại sinh.
             Thành phần quặng sunfua gồm chủ yếu pyrit,pyrotin,đôi khi có macasit,chancopyrit,bocnit,sphalerit,galenit,quặng đồng xám…Khoáng vật phi quặng có thạch anh,cacbonat,barit,thạch cao,anhydrit,xerixit,clorit…Quặng thường cso cấu tạo khối đặc xít,xâm nhiễm,keo…Đá vây quanh thường bị biến đổi: propilit hóa,clorit hóa,xerixit hóa,thạch anh hóa,pyrit hóa.
             Về phương diện công nghiệp có thể phân mỏ sunfua này thành 3 loại sau đây:
    - Mỏ pyrit (sunfua sắt) dùng để lấy lưu huỳnh làm nguyên liệu sản xuất axit sunfuric.
    - Mỏ sunfua đồng-pyrit dùng để khai thác lấy đồng và lưu huỳnh.
    - Mỏ sunfua đa kim-pyrit dùng để lấy Zn,Pb,Cu và cả lưu huỳnh.
             Các nguyên liệu khai thác kèm là barit Au, Ag, đôi khi thu hồi được cả Bi,As,Cd,Te,Se.
             Mỏ sunfua pyrit nhiệt dịch-phun trào được thành tạo ở đới gần mặt đất có thể ở độ sâu 50-700m cách mặt đất.Nhiệt độ thành tạo của suniua pyrit nhiệt dịch-phun trào (thay thế-trao đổi) thường dao động trong phạm vi rộng,có thể bắt đầu từ 450oC hoặc cao hơn,giảm xuống tới 200oC và thấp hơn.
             Đặc điểm nổi bật trong các mỏ sunfua pyrit khối đặc xít là trong đá mái và đá vụn núi lửa thường chứa các mảnh và dăm quặng.Đoi khi gặp các dăm quặng trong cả vỉa cuội kết nằm phủ trực tiếp lên thân quặng.Mảnh và dăm quặng có hình dạng và kích thước không cố định: dăm góc cạnh,tròn cạnh với kích thước thay đổi từ vài mm đến hàng chục cm (tiết diện).Chúng gồm các quặng pyrit đặc xít hoặc xâm nhiếm lẫn thạch anh,clorit,xerixit,đôi khi cả chancopyrit,sphalerit và một số khoáng vật khác nữa.
    4.Mỏ viễn nhiệt (mỏ phi macma,mỏ dạng tầng):
             Thường phân bố trên các diện tích phát triển đá trầm tích,nơi mà các hoạt động macma hoàn toàn vắng mặt.

    III/Các mỏ nhiệt dịch ở Việt Nam:
             Trong số các mỏ đã phát hiện được ở nước ta thì loại mỏ nhiệt dịch là phổ biến và phát triển nhất.Các mỏ nhiệt dịch giữ vai trò quan trọng về phương diện khai thác kim lọa màu,kim loại quý,kim loại hiếm.Các mỏ nhiệt dịch kim loại đen (sắt),kim loại phóng xạ,đất hiếm cũng khá phong phú.Một số khoáng sản phi kim như thạch anh,barit,fluorit,talc,amiang…cũng có nguồn gốc nhiệt dịch.Đa phần các mỏ nhiệt dịch phát triển trong thời kỳ hoạt hóa kiến tạo macma MZ-KZ,bao gồm các loại nhiệt dịch xâm nhập,nhiệt dịch phun trào và loại viễn nhiệt.
             Sau đây là ví dụ về một mỏ nhiệt dịch đã phát hiện được ở miền nam Trung bộ của Việt Nam:



    ĐAI CƠ VÀ QUẶNG HÓA VÀNG NHIỆT DỊCH VÙNG NAM AN KHÊ, GIA LAI


             Trong các đai cơ,đá mạch giữ một vị trí quan trọng trong sự tạo lập các phức hệ macma xâm nhập,xâm nhập-phun trào và hoạt động tạo quặng nhiệt dịch.Mặc dù chúng không phải là yếu tố bắt buộc thường xuyên phải có trong các mỏ nhiệt dịch,song các thành tạo đai cơ,đã mạch luôn được xem là cầu nối giữa hoạt động macma và quá trình tạo quặng nhiệt dịch.Do đó,việc nghiên cứu đai cơ,đá mạch nói chung trong các mỏ nội sinh và đặc biệt trong các mỏ nhiệt dịch nói riêng đã được nhiều nhà địa chất nước ngoài quan tâm.
             Ở nước ta,việc nghiên cứu đai cơ và các quặng hóa nhiệt dịch liên quan,đặc biệt là quặng hóa vàng mới được chú ý trong thời gian gần đây.Bài báo này trình bày kết quả nghiên cứu về quặng hóa vàng ở vùng nam An Khê.


    I/Đặc điểm địa chất và sự phân bố quặng vàng:
    1.Sự phân bố của quặng vàng:
             Vùng quặng nam An Khê là một bộ phận của đới kiến trúc sinh khoáng sông Ba có phương á kinh tuyến do đứt gãy sâu sông Ba khống chế.Đứt gãy sâu này xuất hiện vào đầu Paleozoi,tái hoạt động vào Mesozoi và đầu Kainozoi.Đá vây quanh các thân quặng vàng là các thành tạo xâm nhập thuộc các phức hệ khác nhau,chủ yếu là granotoit phức hệ Bến Giàng,Quế Sơn,Vân Canh,đặc biệt ở nam An Khê phát triển dày đặc loại đá mạch có thành phần rất đa dạng trong đó loại đá mạch sẫm màu chiếm ưu thế.
             Quặng vàng phân bố không đồng đều trong diện tích vùng,thường xuất hiện và tập trung ở các nút phá hủy kiến tạo,đới dập vỡ,nơi giao nhau của các hệ thống đứt gẫy phương TB-ĐN,ĐB-TN với hệ thống phương á kinh tuyến,đồng thời cũng là nơi phát triển nhiều loại đá mạch.Các thân quặng vàng cũng thường phát triển phù hợp với các phương đá mạch,chủ yếu là phương ĐB-TN,phương á kinh tuyến,có tí mạch quặng có phương TB-ĐN và á vĩ tuyến,tạo hệ thống mạch quặng song song với nhau hoặc xuất hiện ở dạng mạch đơn lẻ.Yếu tố phá hủy đứt gãy-khe nứt có vai trò cự kỳ quan trọng để quặng vàng cư trú.
    2.Hình thái và cấu trúc thân quặng:
             Các thân quặng thạch anh-sunfua-vàng chủ yếu có dạng mạch,mạch dạng thấu kính,mạch sâu chuỗi,mạch phân nhánh,đới mạch song song.Các mạch quặng dài từ 50-60m đến hàng trăm mét,bề dày thay đổi từ 0.4-0.5m đến 1-1.5m, cá biệt tới 2.7m.Các thân quặng phương BĐB có phương vị góc dốc 290o < 40-65o,các thân quặng phương TB-ĐN có phương vị góc dốc 230o < 60o.Ngoài ra còn gặp thân quặng phương á vĩ tuyến với phương vị góc dốc thay đổi từ 310o < 40-45o đến 345o < 40-45o.Có chỗ thân quặng bị cong và bị vát nhọn theo phương và hướng dốc.Ranh giới thân quặng với đá vây quanh khá tương phản kèm theo các riềm biến đổi nhiệt dịch ở vách và trụ dao động khoảng 0.3-0.7m.
             Trong thân quặng,có nơi trở thành khoáng trụ có bề dày và hàm lượng vàng tăng cao đột ngột.Đặc biệt gặp thân quặng nằm trong khe nứt có gương trượt,bám theo thể đá mạch đaxit porphyr bị berezit hóa và cacbonat hóa mạnh mẽ.Trong thân quặng còn có các ổ sót đaxit porphyr bị biến đổi chứa xâm nhiễm pyrit với các gân mạch,dải mỏng cacbonat xuyên cắt.Đáng chú ý có các thân quặng phương TB-ĐN chạy song song với nhay nhưng phương vị góc dốc hoàn toàn ngược nhau 210-220o < 45-60o và 330-340o < 40-80o.Phần lớn các mạch quặng vàng nằm trong hệ khe nứt cắt,số ít trong khe nứt tách và có sự phân nhánh.

    II/Đặc điểm thành phần khoáng vật của quặng vàng và các giai đoạn tạo khoáng:
    1.Thành phần khoáng vật,cấu tạo và kiến trúc quặng:
             Quặng vàng vùng nam An Khê thuộc kiểu thạch anh-sunfua-vàng. Trong nhóm sunfua phổ biến là pyrit, galenit, chancopyrit, sphalerit, thứ yếu có pyrotin, đồng xám,asenopyrit.Vàng tự sinh bao gồm cả electrum có ý nghĩa chủ yếu.Ngoài ra còn gặp manhetit,hematit với số lượng không đáng kể. Khoáng vật mạch và phi quặng phổ biến là: thạch anh, serixit, muscovit, epidot, clorit, canxit, kaolinit, fluorit. Trong quặng vàng-thạch anh-sunfua đa kim bị oxy hóa thường gặp limonit, gơtit, hydromanhetit ,bocnit, colevin, chancozin, malachit, sét và vàng biểu sinh.
             Quặng vàng-thạch anh-sunfua có cấu tạo xâm nhiễm,mạch đốm,mạng mạch,dải xuyên lấp,gắn liền,đặc xit,tinh đám.Quặng bị oxy hóa và bán oxy háo có cấu tạo dải, đốm, màng mỏng, nhũ keo, kế thừa, gắn kết, dắm kết, tinh đám, mạch lưới, khung xương, vành riềm, vỉ lỗ hổng.
             Kiến trúc quặng nguyên sinh phổ biến:hạt tự hình,nửa tự hình,tha hình,hạt không đều,hạt cà nát,hạt gặm mòn,hạt tàn dư,dạng xương,hạt thay thế,ban biến tinh cà nát,nhũ tương…quặng ôxy hóa có kiến trúc keo,đới keo,giả hình,bột.
    2.Các giai đoạn tạo khoáng nhiệt dịch và tổ hợp cộng sinh khoáng vật:
             Trên cơ sở nghiên cứu cấu trúc các thân quặng,sự phân bố không gian các tổ hợp khoáng vật,các cấu tạo và kiến trúc quặng có thể phân chia được các giai đoạn tạo khoáng sau đây:
    a)Giai đoạn thạch anh (phi quặng):
             Thường gặp các mạch thạch anh dày đơn khoáng,cấu tạo khối đặc xit màu trắng sữa,đôi khi có xâm nhiễm thưa pyrit hạt lớn.Biến đổi nhiệt dịch,thạch anh hóa.
    b)Thạch anh-pyrit-vàng:
             Đặc trưng là thạch anh-pyrit hạt nhỏ,không đều,đôi khi có pyrotin và manhetit,asenopyrit.Vàng cộng sinh với thạch anh và pyrite,thường xâm nhiễm trong thạch anh hoặc tiếp xúc với hạt pyrite.Biến đổi nhiệt dịch,beresit hóa.
    c)Thạch anh-cacbonat-sunfua đa kim-vàng:
             Với tổ hợp khoáng vật cộng sinh đặc trưng vàng-thạch anh-canxit-pyrit-galenit-chancopyrit-sphalerit.Sản phẩm của giai đoạn tạo khoáng này thường xuyên cắt,gặm mòn,thay thế,đôi khi gắn kết các thành tạo khoáng vật của giai đoạn trước.Ngoài các khoáng vật phổ biến nêu trên,trong giai đoạn tạo khoáng này còn gặp đồng xám,argentit,bocnit và một số dạng terurua Au,Ag và bạc tự sinh với số lượng rất không đáng kể.Biến đổi nhiệt dịch:serixit,cacbonat và kaolinit hóa.
    d)Giai đoạn thạch anh-cacbonat (phi quặng):
             Đặc trưng cho giai đoạn này là các mạch thạch anh (dạng canxedon),cacbonat đi cùng clorit đôi khi có xâm nhiễm pyrite và thạch anh tinh đám xuyên lấp các thành tạo khoáng vật tạo trước.

    III/Nguồn gốc quặng vàng vùng nam An Khê:
             Việc nghiên cứu các pha biến dạng,phá hủy,khe nứt,đặc điểm phân bố,thành phần vật chất của các thành tạo đai cơ và quặng vàng,đặc điểm biến đổi nhiệt dịch đai cơ và các đá vây quanh quặng,nghiên cứu các giai đoạn tạo khoáng,tổ hợp cộng sinh khoáng vật của quặng vàng,nhiệt độ đồng hóa bao thể,các phân tích nhiệt,ronghen,phân tích cấu tạo và kiến trúc quặng cũng như tỷ lệ Au:Ag…cho phép ta rút ra những nhận xét sau đây về nguồn gốc và điều iện thành tạo quặng vàng:
    -Các thân quặng vàng vùng nam An Khê phân bố trong các thành tạo xâm nhập thuộc các phức hệ khác nhau (Bến Giàng,Quế Sơn, Vân Canh),thường tập trung ở gần các nút,đới phá hủy kiến tạo,cư trú trong các hệ thống khe nứt đi kèm (cắt,tách) chủ yếu có phương TB-ĐN,á vĩ tuyến với góc dốc thay đổi từ hơi dốc đến dốc và gần dốc đứng.
    -Các thân quặng chủ yếu ở dạng mạch đơn giản,mạch dạng thấu kính,mạch sâu chuỗi,đôi khi phân nhánh nằm song song với nhau tạo thành hệ mạch hoặc mạch đơn lẻ.Thân quặng có ranh giới khá rõ với đá vây quanh,vách và trụ thường có riềm và đới biến đổi nhiệt dịch với bề dày biến động tùy thuộc vào quy mô và bề dày mạch,thường chứa xâm nhiễm pyrite hạt nhỏ.

        BẢNG KẾT QUẢ PHÂN TÍCH AU,AG TRONG ĐÁ MẠCH KHU KÔNG CHÔ RÔ


    STT Sốhiệumẫu Đámạch(đai cơ) Gíađãi(hạt vàng) Nungluyện (g/T) Hấpthụ nguyên tử
    (ppm)
    1 CĐ – 1 Spesartit 1
    2 CĐ – 508 Spesartit 10 1.4 10
    3 CĐ–513/13 Spesartit 1
    4 CĐ – 513/1 Spesartit 4 0.4 1.9
    5 CĐ – 513/3 Spesartit 1.8 5.2
    6 CĐ – 541 Andesit porphyrit 6
    7 CĐ – 542/2 Spesartit 2 0.6 10 0.5 0.8
    8 CĐ – 552 Spesartit 40
    9 CĐ – 571 Spesartit 0.4
    10 CĐ – 597 Spesartit 5 1 10
    11 CĐ – 612/8 Ddaxxit porphyr 0.4 0.2
    12 2795 Spesartit 2.8 4.6
    13 4118 Spesartit 0.2 2.9
        
         -Các đai cơ (sẫm màu,sáng màu) thuộc nhóm pluton và á phun trào thành phần trung tính-axit tuổi trẻ lien quan với macma sialic vỏ có ý nghĩa quan trọng trong quá trình tạo quặng vàng ở nam An Khê,các đai cơ này thuộc thành tạo trước tạo quặng có quan hệ không gian,huyết thống và thời gian thành tạo gần gũi với quá trình tạo quặng.
             -Qúa trình tạo quặng phát triển mạng tính mạch động có quan hệ mật thiết với các pha hoạt động khe nứt và mức độ tách mở của chúng,trong đó xác lập được 2 giai đoạn vàng sản phẩm: vàng-thạch anh-pyrit và vàng-thạch anh-sunfua đa kim.Hàm lượng Au,Ag và sunfua cộng sinh phân bố rất không đồng đều trong mạch quặng.Cá biệt có nơi vàng tập trung cao tạo khoáng trụ cục bộ khi có yếu tố hình thái và cấu trúc, thế nằm thân quặng thay đổi.
             -Biến đổi nhiệt dịch đã vây quanh chủ yếu là beresit hóa,cacbonat hóa,kaolinit hóa,clorit hóa,epidot hóa.Đá mạch,đai cơ sẫm màu thường bị lục hóa (propylit).
             -Thành phần khoáng vật của quặng vàng thuộc loại đơn giản.Các nguyên tố đồng hành chỉ thị đối với quặng vàng (bạc) trong vùng nam An Khê là: Cu,Pb,Zn. Độ tinh khiết của vàng (tuổi vàng) dao động trong phạm vi 600 – 700 (vàng tuổi thấp và electrum). Kết quả nghiên cứu cho phép xếp quặng vảng vào nguồn gốc nhiệt dịch nhiệt độ trung bình,được thành tạo vào đầu Kainozoi.
             -Về kiểu thành hệ quặng và kiểu quặng có thể xếp quặng vàng ở nam An Khê vào kiểu thành hệ vàng-thạch anh-sunfua đa kim với 3 kiểu quặng công nghiệp: vàng-thạch anh (pyrite), vàng-thạch anh—pyrite-chancopyrit-galenit và vàng-thạch anh-galenit.



    Bài viết tương tự Collapse