Jump to content


Địa chất thủy văn - Địa chất công trình


  • Bạn không được tạo chủ đề mới
  • Please log in to reply
59 replies to this topic

#1 phamvancuong.dctv

phamvancuong.dctv

    Intermediate Member

  • Thành viên
  • PipPipPip
  • 142 Bài viết:
  • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 21 November 2009 - 12:51 AM

    Hãy chia sẻ vì sự tiến bộ của ngành và khẳng định vị thế của nhà Địa chất nói chung

    Edited by phamvancuong.dctv, 21 November 2009 - 12:56 AM.


    Facebook Comments

    #2 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 21 November 2009 - 01:46 AM

    Bộ môn Địa chất thủy văn
    Địa chỉ: Phòng 408, nhà C 12 tầng,- Trường Đại học Mỏ - Địa chất
    Đông Ngạc - Từ Liêm - Hà Nội
    Điện thoại: +84.4.8387809    Fax: +84.4.8389633
    E-mail: bmdctv@yahoo.com
    Homepage: http://www.humg.edu.vn


    Posted Image

    Chức năng, nhiệm vụ
         Bộ môn Địa chất Thuỷ văn là một Bộ môn chuyên ngành lớn của trường Đại học Mỏ - Địa chất có uy tín trong công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ trong các lĩnh vực Địa chất thủy văn, Địa chất công trình; môi trường nước.
    - Chương trình đào tạo theo 2 bậc: Bậc đại học với văn bằng Kỹ sư ĐCTV - ĐCCT; bậc sau đại học, gồm cao học và NCS với các văn bằng Thạc sĩ khoa học và Tiến sĩ địa chất (chuyên ngành ĐCTV);
    - Nghiên cứu, triển khai, ứng dụng khoa học và chuyển giao công nghệ mới vào thực tế sản xuất trong lĩnh vực ĐCTV - ĐCCT nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và trình độ chuyên môn;
    - Hợp tác Quốc tế trong lĩnh vực đào tạo và nghiên cứu khoa học.
    Mục tiêu đào tạo
    - Đào tạo các Kỹ sư chuyên ngành ĐCTV - ĐCCT có khả năng nghiên cứu, thiết kế phương án, tổ chức thi công các phương án điều tra, đánh giá, khai thác nước dưới đất và khảo sát ĐCCT phục vụ phát triển kinh tế xã hội;
    - Đào tạo Thạc sĩ, Tiến sĩ ngành ĐCTV nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ chuyên môn cao trong nghiên cứu khoa học, giảng dạy, quản lý và điều hành sản xuất.
    Nội dung chương trình đào tạo
    Các môn khoa học chuyên ngành
    ĐCTV - ĐCCT
    • Địa chất thủy văn đại cương;
    • Thuỷ lực và Thuỷ văn;
    • Thuỷ địa hoá - Nước khoáng;
    • Động lực học nước dưới đất;
    • Các phương pháp điều tra ĐCTV;
    • Đất xây dựng;
    • Cơ học đất và nền móng;
    • Cơ học đá;
    • Vật liệu xây dựng;
    • ĐCCT Viêt Nam;
    • ĐCCT Động lực;
    • ĐCCT chuyên môn;
    • ĐCTV chuyên môn;
    • ĐCTV và Tài nguyên Nước ngầm lãnh thổ Việt Nam;
    • Tìm kiếm, thăm dò và đánh giá trữ lượng nước dưới đất;
    • Tin học Địa chất thủy văn ứng dụng;
    • Bảo vệ tài nguyên nước và môi trường;
    • Cung cấp nước vµ xử lý nước;
    • Đánh giá Tác động Môi trường;
    • Tiếng Anh chuyên môn.
    • Địa chất thủy văn đồng vị.
    Các môn học dạy cho ngoài ngành
    • Địa chất Thuỷ văn Dầu khí;
    • Thuỷ lực ngầm;
    • Cơ sở Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình cho 7 chuyên ngành khác nhau
    • ĐCTV và tháo khô các mỏ khoáng sản cứng;
    • Đánh giá khai thác tài nguyên nước ngầm.
    Những thành tích đã đạt được
    Hoạt động đào tạo
    Bộ môn ĐCTV đã đào tạo được trên 2200 kỹ sư, 70 thạc sĩ, 23 tiến sĩ. Hiện hàng năm đang đào tạo hơn 200 sinh viên, 20 học viên cao học và 13 nghiên cứu sinh chuyên ngành ĐCTV.
    Hoạt động đối ngoại và các hoạt động khác
    -  Bộ môn đang duy trì, phát triển quan hệ hợp tác với nhiều Trường Đại học, viện và cơ quan ở các nước: Đan Mạch, Phần Lan, Thuỵ Điển, Italia,Trung Quốc, Nhật Bản, Pháp, Hàn Quốc, Thái Lan, Đức, Hà Lan...;
    - Thực hiện các dự án nghiên cứu với Thuỵ Điển, Đan Mạch, PhÇn Lan và Nhật Bản;
    - Sinh hoạt học thuật được đẩy mạnh, tham gia các cuộc hội thảo, các chương trình đào tạo trong nước và Quốc tế.
    - Tổ chức nhiều hội thảo khoa học quốc tế;
    Các lĩnh vực hoạt động và nghiên cứu khoa học trong thời gian tới
    - Điều tra, đánh giá nguồn nước dưới đất phục vụ phát triển kinh tế xã hội;
    - Lập cân bằng, quy hoạch, khai thác, sử dụng hîp lý và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất;
    - Nghiên cứu, xác định các thông số ĐCTV, các thông số môi trường địa chất;
    - Áp dụng các phương pháp hiện đại như viễn thám, đồng vị, cổ ĐCTV để giải quyết các vấn đề về tuổi, nguồn gốc và sự hình thành thành phần hóa học nước dưới đất;
    - Ứng dụng công nghệ tin học giải quyết các bài toán ĐCTV, quản lý và phát triển TNN, xây dựng cơ sở dữ liệu;
    - Quản lý khai thác, sử dụng tài nguyên nước, đánh giá hiện trạng và quy hoạch tổng thể vệ sinh môi trường;
    - Tính toán thoát nước mỏ, đánh giá trữ lượng nước dưới đất, đánh gi¸ sự dịch chuyển vật chất trong nước dưới đất. Điều tra đánh giá tình trạng nhiễm bẩn và cạn kiệt nước dưới đất;
    - Điều tra đánh giá tài nguyên nước khoáng, nóng;
    - Nghiên cứu, áp dụng các công nghệ phân tích nước, xử lý nước cho ăn uống, nước thải, nước rác;
    - Nghiên cứu, tính toán xây dựng các công trình bổ sung nhân tạo nước dưới đất;
    - Đánh giá tác động môi trường, xây dựng các quy trình, quy phạm, hướng dẫn kỹ thuật khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên môi trường nước dưới đất …;
    - Khảo sát địa chất công trình, địa kỹ thuật.

    Edited by phamvancuong.dctv, 26 November 2009 - 12:07 AM.


    #3 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 26 November 2009 - 12:35 AM

    http://img405.images...sotaytnnvn.pdf/

    #4 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 26 November 2009 - 02:49 PM

    Tạp chí Bộ môn ĐCTV
    NGUỒN GỐC VÀ SỰ HÌNH THÀNH CỦA ASEN
    TRONG NƯỚC DƯỚI ĐẤT KHU VỰC HÀ NỘI
      ĐỖ VĂN BÌNH, Trường Đại học Mỏ-Địa Chất


    Tóm tắt: Vấn đề nguồn gốc Asen trong nước ngầm hiện vẫn chưa được giải quyết thấu đáo. Từ kết quả phân tích các loại mẫu, bài báo chứng minh nguồn gốc Asen trong nước dưới đất các trầm tích Đệ tứ khu vực Hà Nội có nguồn gốc tự nhiên. Bài báo cũng đã giải thích quá trình hình thành của Asen trong nước khu vực Hà Nội liên quan mật thiết với quá trình khử theo 2 cơ chế chính là: Cơ chế khử oxyhydroxit (Fe3+OOHAs) giải phóng As do vi sinh vật và Cơ chế khử As hấp phụ trên oxit sắt hoặc oxyhydroxit bị thay thế bởi Bicacbonat. Quá trình oxyhoa khoáng vật chứa As cần có những nghiên cứu tỉ mỉ hơn.
    1. Nguồn gốc của Asen (As) trong NDĐ
    As trong nước ngầm có 2 nguồn nguồn gốc: tự nhiên và nhân tạo. Nguồn gốc tự nhiên  do các quá trình tự nhiên sinh ra: quá trình ôxihoa, quá trình khử, quá trình sinh hoá. Nguồn gốc nhân tạo bao gồm các hoạt động nhân sinh sinh ra: đốt cháy hoá thạch, khí thải, nước thải chứa As, sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc trừ sâu, tưới, các chất thải công nghiệp...
    Trên cơ sở kết quả phân tích As trong các mẫu nước sông, nước hồ, nước thải, nước ngầm, đất có thể nhận định rằng As trong NDĐ các trầm tích Đệ Tứ vùng Hà Nội có nguồn gốc tự nhiên hay nguồn gốc địa chất.
    + Nước thải được thải ra từ nhiều nguồn: sinh hoạt, công nghiệp, y tế, thủ công, dịch vụ văn hoá, bài tiết của động vật và con người,…Trong tổng số 245 mẫu [2] nước thải được phân tích có tới 204 mẫu có hàm lượng As nhỏ hơn 0,05mg/l, chiếm 83%. Chỉ có 41 mẫu có hàm lượng As cao hơn 0,05 mg/l, chiếm 17%.  Giá trị As cao nhất trong các mẫu nước được phân tích ở sông Tô Lịch và Kim Ngưu đều cao hơn mức 0,05 mg/l nhưng giá trị trung bình của tập mẫu đều rất thấp.
    + Kết quả phân tích As trong các mẫu nước sông Hồng và sông Nhuệ đều cho thấy hàm lượng As khá thấp. Trong số 90 kết quả phân tích mẫu nước sông Hồng, không có mẫu nào có hàm lượng As vượt giá trị 0,05 mg/l, chiếm 0%. Trong số 130 kết quả phân tích nước sông Nhuệ chỉ có 4 mẫu có hàm lượng As vượt giá trị 0,05mg/l, chiếm 3%. Tổng số mẫu có hàm lượng As cao hơn 0,05 mg/l ở cả hai sông là 4/220 mẫu, chiếm 1,8%.
    + Hàm lượng As trong nước nhiều ao, hồ trên địa bàn toàn thành phố khá thấp. Trong số 42 mẫu phân tích chỉ có duy nhất 1 mẫu có hàm lượng As cao hơn 0,05 mg/l (hồ Phù Ninh), các mẫu còn lại đều có hàm lượng As thấp, nằm dưới mức 0,05mg/l.
    Khu vực tưới bao gồm diện tích trồng trọt của các huyện ngoại thành. Kết quả phân tích mẫu tại các lỗ khoan P44, P54, P67 và P79 nằm trong vùng tưới đều cho thấy As trong nước thấp, dưới 0,05 mg/l.
    Một phần nhỏ As có nguồn gốc từ hoạt động nhân tạo, trong một số mẫu nước thải có hàm lượng As cao. Mặc dù chưa có số liệu minh chứng đầy đủ nhưng việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, các hoá phẩm bảo quản gỗ, sơn, mỹ phẩm... sẽ cung cấp một lượng As nhất định cho nước ngầm, nhất là tầng chứa nước nằm trên cùng (qh).
    Từ những phân tích hàm lượng As trong nước sông, nước ao, hồ, nước thải, tưới... đối sánh với hàm lượng As trong nước ngầm của các TCN cho phép nhận định rằng As trong nước ngầm các TCN Đệ Tứ vùng Hà Nội chủ yếu có nguồn gốc từ tự nhiên (nguồn gốc địa chất)[1].
    2. Sự hình thành của As trong nước
    Sự hình thành và dạng tồn tại của As trong nước là những quá trình phức tạp, là sự tổng hợp của những quá trình địa hoá, thuỷ địa hoá, vi sinh vật...  Để thấy rõ sự hình thành của As từ đất vào nước chúng ta xem xét chu trình địa hoá của nó trong môi trường (hình 1).

    HAsO4                      AsH3                     CH3AsH2                  (CH3)2AsH            (CH3)3As      
                                                                                                                                                                                       Bio
    -H+    +H+                            Red                                     Red                                         Red                         +1/2O2       Red
                             Bio,Red                           + CH2+                                     +CH2+        
    HAsO4                       HAsO2              CH3AsO(OH)2         (CH3)2AsO(OH)          (CH3)2O        
                           +1/2O2                                  Bact                                        Bact    
    -H+    +H+                          +H+    -H+                             +H+   -H+                                 +H+     -H+      
                                                                                
    HAsO4                       AsO2-                          O    OH                         O
                                                                                                        
                                                                     CH3  -  As                       (CH3)2As - O-
                                                                          O-
    “Nguồn: David J Thomas, 2002”
    Hình 1. Tóm tắt địa hoá môi trường của As.
    Trong môi trường nước ngầm, tuỳ thuộc vào giá trị pH và Eh mà dạng tồn tại chính của As cũng thay đổi tuân theo quy luật thể hiện ở hình 2.

    “Nguồn:  Bibudhendra Sarkar, 2002” [3]
    Hình 2. Các dạng tồn tại của As phụ thuộc vào độ pH và Eh
    Từ hình 2 ta thấy rằng As(+5) tồn tại khá phổ biến ở nửa đồ thị phía trên, tức là trong điều kiện oxihoa (Eh>0), ngược lại trong điều kiện khử (Eh<0) thì As(+3) chiếm ưu thế (phần nửa đồ thì phía dưới). Theo giá trị pH ta thấy rằng khi pH<6,5 thì As chủ yếu tồn tại ở dạng H2AsO4- và khi pH>6,5 thì As chủ yếu tồn tại ở dạng HAsO42-. Như vậy khi nghiên cứu As, ngoài việc xác định trực tiếp As ở các dạng ion khác nhau bằng phương pháp phân tích mẫu, có thể gián tiếp biết được dạng tồn tại của chúng dựa vào giá trị Eh và pH đo được ở thực địa.
    Ngoài vai trò của pH và thế oxihoa khử, quá trình biến đổi địa hoá của As  trong đất di chuyển vào nước còn có sự đóng góp khá quan trọng của vi sinh vật. Vì vậy căn cứ vào loại trầm tích chúng ta có thể suy đoán định tính được mức độ giàu nghèo của As trong đất và nước chứa trong môi trường đó.
    3. As trong NDĐ  được hình thành từ quá trình khử  
    Nước ngầm trong các tầng chứa nước bở rời Đệ Tứ khu vực Hà Nội chủ yếu là loại nước bicacbonat canxi hoặc bicacbonat-canxi, magiê (hình 3a và 3b), một số lượng nhỏ mẫu nước là loại bicacbonat canxi natri. Hầu hết các kết quả phân tích thành phần hoá học của các mẫu nước trong các tầng chứa nước khu vực Hà Nội đều phản ánh điều đó. Hình 3a và hình 3b thể hiện loại nước trong các kết quả phân tích mẫu ở vùng Hà Nội trong mùa mưa và mùa khô.
      
                     a ) Mùa mưa 2003                                B) Mùa khô 2003
    Hình 3. Đồ thị Pipe thể hiện loại nước khu vực Hà Nội
    Đồ thị pipe của các mẫu nước ngầm khu vực Hà Nội được xây dựng trên cơ sở các kết quả phân tích thành phần hoá học mẫu nước vào mùa mưa. Tất cả các mẫu nước đều tập trung ở dạng bicacbonat canxi, magiê. Đồ thị pipe thể hiện bản chất nước ngầm khu vực Hà Nội xây dựng trên cơ sở kết quả phân tích thành phần hoá học nước vào mùa khô năm 2004.
    Tương quan giữa hàm lượng As trong nước ngầm và hàm lượng bicacbonat HCO3- (hay còn được gọi là độ kiềm) có quan hệ khá chặt chẽ (R2=0,8). Hình 4 thể hiện mối tương quan chặt chẽ đó.
          
    Hình 4. Quan hệ giữa bicacbonat và As trong mẫu nước ngầm (tháng 9/2004)
    Từ kết quả nghiên cứu ở trên có thể nhận định rằng As trong nước ngầm khu vực Hà Nội được sinh ra theo 2 cơ chế khử chính sau:
    • Cơ chế khử oxyhydroxit (Fe3+OOHAs) giải phóng As do vi sinh vật:      
    Trong đất đá luôn luôn có chứa một lượng As hấp phụ (Ravenscroft et al. 2001). Trong quá trình hấp phụ, As được “hút” và bám trên các hạt khoáng vật sắt được bồi lắng cùng với các hợp chất hữu cơ. Quá trình tích luỹ As và các vật chất chứa nó xảy ra trong quá trình địa chất lâu dài hình thành nên đồng bằng. Trong môi trường trầm tích, thiếu ô xi, dưới tác dụng của hoạt động vi sinh vật, các phức sắt (chứa As hấp phụ) sẽ chuyển đổi từ hoá trị +3 sang hoá trị +2 tan vào nước giải phóng ra As. Quá trình đó xảy ra theo các bước sau:
    Hợp chất hữu cơ (NOM) bị phân huỷ do hoạt động của vi sinh vật hoặc do quá trình hô hấp của rễ cây giải phóng CO2 và nước theo phương trình:
          CH2O + O2                CO2 + H2O                  H2CO3                  (1)
                             CH2O               CO2 + H2O               H2CO3                        (2)
    Trong đó H2CO3 là ký hiệu của quá trình hydrat hoá khí cacbonic.
    H2CO3   Enzym        CO2 + H2O  + HCO3-                                
    Các phức sắt hoá trị +3 sẽ bị tan tạo ra sắt hoá trị +2 theo phản ứng:
    Fe3+OOH(As) + CH2O + H+                 Fe2+   +  HCO3- + 6H2O  + HAsO42-       (3)

    Như vậy, để có được phản ứng (3) thì cần có Fe3+OOHAs, các vi sinh vật (có nhiều trong vật chất hữu cơ của các lớp bùn sét) và điều kiện độ ẩm, môi trường thuận lợi.
    • Cơ chế khử As hấp phụ trên oxit sắt hoặc oxyhydroxit bị thay thế bởi Bicacbonat
    Theo quan điểm này[5], As sinh ra trong nước là do sự thay thế vị trí của nó bởi các ion khác mà trực tiếp là HCO3- trong các phức của sắt. Hiện tượng này được giải thích như sau: As trong nước sông đã cân bằng về mặt nhiệt động học với hàm lượng Bicacbonat. Khi mực nước ngầm bị hạ thấp, nước sông sẽ bổ cập cho tầng chứa nước. Mối cân bằng mới giữa oxit sắt hoặc hydrit sắt với bicacbonat sẽ được thiết lập. Nguồn bicacbonat trong trường hợp này đựợc tạo ra chủ yếu do quá trình hoà tan calcite hoặc Mg-calcite là những thành phần rất phổ biến trong các trầm tích ở bở rời ở đồng bằng. Quá trình sinh ra HCO3- được thể hiện bởi  các phản ứng (4); (5); (6); (7); (8); (9):
    CaCO3 + CO2 + H2O      Ca(HCO3)2                        (4)
    MgCO3 + CO2 + H2O     Mg(HCO3)2                       (5)
    SrCO3 +  CO2 + H2O      Sr(HCO3)2                         (6)
    Do các chất sinh ra ở vế phải là chất tan nên chúng phân ly tạo nên HCO3-:  
                        Ca(HCO3)2       Ca2+   +  2 HCO3-                                                         (7)
                        Mg(HCO3)2     Mg2+   +  2 HCO3-                                                        (8)
                        Sr(HCO3)2        Sr2+    +    2 HCO3-                                                     (9)
    Ion HCO3- sẽ thay thế As dạng H2AsO4- hoặc H2AsO3- hấp phụ trên hydro feric oxit  làm cho As đi vào trong nước theo phương trình (10).
             Fe3+OOHAs + HCO3-    FeOOH(HCO3) +  H2AsO4 2- ( H2AsO3 2-)     (10)                        
    Rõ ràng với sự có mặt của HCO3- một lượng As được giải phóng từ trong hợp chất của sắt chứa As. Quá trình giải phóng đó là sự thay thế của các ion. Sự bổ sung nước sông cho tầng chứa nước càng lớn thì quá trình sinh ra HCO3- càng nhiều và do đó As tan vào nước càng lớn. Điều này giải thích tại sao khu vực khai thác nước mạnh thì hàm lượng As trong nước thường tăng cao hơn các khu vực khác.
    Điều này một lần nữa kiểm chứng khi hàm lượng As cao thì hàm lượng Fe cũng cao và giữa As và Fe luôn luôn tồn tại tương đồng với nhau. Tuy nhiên không thể nói ngược lại là hàm lượng sắt cao thì hàm lượng As cao. Các phản ứng nêu ở các phương trình (4) đến (10) còn giải thích vì sao quan hệ giữa As với Fe không chặt chẽ trong khi các quan hệ với Ca, Sr, Mg ... là khá chặt chẽ. Sở dĩ như vậy vì hằng số phản ứng của Fe với HCO3- giải phóng As có K= 10-4 (khá lớn) trong khi hằng số phản ứng của nó với các nguyên tố còn lại là K= 10-6 và K= 10-7 (nhỏ hơn phản ứng của sắt từ 100 đến 1000 lần). Các phương trình nêu trên là thuận nghịch nên phản ứng của sắt sẽ xảy ra theo chiều ngược lại nhanh hơn. Vì vậy tương quan giữa As với sắt sẽ kém chặt chẽ hơn.
    4. As trong nướcdưới đất được hình thành do ôxihoa các khoáng vật
    Trong tự nhiên có hàng nghìn khoáng vật chứa As. Riêng nhóm hydroarsenat và arsenat đã có tới 213 khoáng vật, nhóm sulfurarsenat có 73 khoáng vật…Các khoáng vật có chứa hàm lượng As với tỉ lệ khác nhau, thường từ một vài mg/kg đến hàng trăm mg/kg. Trong đất có những mảnh khoáng vật chứa As với hàm lượng cao. Quá trình oxyhoa quặng Arsenopyrite, một khoáng vật chứa As được thể hiện qua phương trình (11a) và (11b):
              FeAsS(s) + 13 Fe3+ + 8H2O  14 Fe2+ + SO42-  +13H+ + H3AsO4        (11a)
             4 FeAsS(s) +13 O2 = 6 H2O   4SO42- + 4 H3AsO4 + 4Fe3+ + 12 H+     (11b)
    Axit asenic là một axit yếu nên chúng dễ phân ly theo các phương trình:    
           H3AsO4  H2AsO4-  + H+             pK1 = 2,2                   (12a)
                                   H2AsO4-  HAsO42-  + H+             pK2 = 7,0                   (12b)
                                   HAsO42-  AsO43-  + H+                         pK3 = 11,5                  (12c)
    Axit asenat H3AsO3 cũng là một axit yếu nên dễ phân ly theo phương trình 13(a,b,c)
          H3AsO3  H2AsO3-  + H+              pK1 = 9,23                   (13a)
                                H2AsO3  HAsO32-  + H+                pK2 = 13,52                (13b)
                                HAsO32-  AsO33-     +   H+                           pK3 > 15                   (13c)
    Vì lẽ đó trong nước luôn tồn tại As với hoá trị (+3) và (+5). Tỷ lệ As(+3) và As(+5) phụ thuộc vào điều kiện pH và thế oxhoá khử. Các nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới đã chứng minh ở điều kiện pH=7 As tồn tại 50% ở dạng HAsO42- và 50% ở dạng H2AsO4-.[4],[5]. Trong môi trường nước ngầm tự nhiên As(+3) thường tồn tại chủ yếu ở dạng trung hoà, tức là dạng axit asenơ H2AsO4-.(Lê Văn Cát, 2005).
    Đối với khu vực đồng bằng, các tài liệu về thành phần khoáng vật trong đất bở rời chưa có nhiều nên As có sinh ra do quá trình ôxihoa các quặng hay không, mức độ thế nào cần được nghiên cứu tỉ mỉ hơn.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Đỗ Văn Bình, 2007 “Sự hình thành và phân bố của Asen trong nước dưới đất các trầm tích Đệ tứ vùng Hà Nội. Đánh giá, dự báo và đề xuất các giải pháp phòng ngừa những ảnh hưởng của nó đến chất lượng nước phục vụ cho sinh hoạt”, Luận án tiến sĩ địa chất, Trường Đại học Mỏ - Địa chất.
    2. Nguyễn Văn Đản, Tống Ngọc Thanh (2001), “Về khả năng nhiễm bẩn arsenic các nguồn nước dưới đất ở Việt Nam”, Hội nghị về Asen trong nước sinh hoạt và kế hoạch hành động, Hà Nội,Trang 22-36.
    3.  Bibudhendra Sarkar  (2002), Arsenic in the Environment: A global perspective, The hospital for Sick Children and University of Toronto, Canada. 2002)
    4. P. L. Smedley, D.G Kinniburgh (2004), “A rewiew of the source, behavious and distribution of arsenic in natural waters”, Applied Geochemistry, www.elsevier. com/locate/apgeochem.
    5. Therese Olsson and Sofia Palmgren (2001), “Geochemical behavior of arsenic in the soil-shalow groundwater system in a part of the Mekong Delta”, Thesis report series 2001:25, Stockholm.
    SUMARY
      Source and forming of Arsenic in groundwater in Hanoi area
      DO VAN BINH, Hanoi University of Mining and Geology
       Source of arsenic in groundwater is not understand thoroughly. With the chemiscal analysis results of samples, this paper prove arsenic source in groundwater of Quarterary sediments in Hanoi area from natural source. In addition, this paper has explained the forming precessof arsenic in Hanoi area is close relevant with deoxidize process in two main strucrtures:oxyhydroxit deoxidize (Fe3+OOHAs) free As by organism and As absorb deoxydize with  oxydiron or oxyhydroxi has changed by Bicacbonat. As minerals oxydize had to more detain research.

    #5 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 26 November 2009 - 03:22 PM

    TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỎ ĐỊA CHẤT
    BỘ MÔN ĐỊA CHẤT THUỶ VĂN



    BÁO CÁO

    ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC KHAI THÁC, SỬ  DỤNGVÀ BẢO VỆ TAÌ NGUYÊN NƯỚC NGẦM LÃNH THỔ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020
    THUỘC ĐỀ TÀI : ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA VIỆC KHAI THÁC SỬ  DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦMLÃNH THỔ VIỆT NAM.
    ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC KHAI THÁC SỬ  DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI  NGUYÊN NƯỚC NGẦM ĐẾN NĂM 2020


    I.KHÁI QUÁT NƯỚC NGẦM LÃNH THỔ VIỆT NAM
    Khái niệm về nước ngầm : hiện nay các quan niệm về nước ngầm chưa thống nhất.
    Một số ngươì cho rằng tất cả nước nằm dưới mặt đất đều được coi là nước ngầm.Tuy nhiên họ lại không xếp nước khoáng vào nước ngầm mặc dù nước khoáng cũng nằm dưới mặt đất.
    Một số khác lại cho rằng nước ngầm là nước chứa trong tầng chứa nước thứ nhất kể từ mặt đất, nước ngầm không có áp lực còn các loại nước khác không phải là nước ngầm
    Một số khác lại cho rằng tất cả các lọai nước nằm dưới mặt đất được gọi là nước dưới đất  nó bao gồm cả nước trọng lực thông thường, nước ở các trạng thái vật lý khác nhau ( thể hơi, thể lỏng, thể cứng, liên kết vật lý, liên kết hoá học vv.), cả nước nóng nước khoáng, nước thường, cả nước có áp, không áp.
    Cho đến nay còn nhiều quan niệm khác nhau, trong đề tài này chúng tôi quan niệm nước ngầm là nước trọng lực dưới đất nó chịu tác động của các yếu tố bên ngoài ; nó có  tác động đến các hoạt động kinh tế và có thể  khai thác sử dụng chúng phục vụ kinh tế dân sinh.
    Với quan niệm này chúng tôi cho rằng nước ngầm bao gồm cả nước thông thường và nước khoáng nước nước nóng, nước ngầm có thể có áp hoặc không áp tuỳ thuộc cấu trúc địa chất , địa chất thuỷ văn; và nó chỉ bao gồm phần nước dưới đất ta có thể khai thác sử dụng hoặc ngăn ngừa tác động của nó đến các hoạt động kinh tế của con người.
    Nước ngầm lãnh thổ Việt Nam đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu trước đây. Tuy nhiên thường được đề cập dưới các tiêu đề điều kiện hoặc đặc điểm  địa chất thuỷ văn và như vậy nước ngầm thường được mô tả theo các cấu trúc ĐCTV hoặc các thành tạo đất đá chứa nước . Trong báo cáo này cac tác giả sẽ đề cập đến nước ngầm theo các lưu vực sông tuy nhiên dối với hai đồng bằng lớn là đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ sẽ được phản ảnh riêng . Việc mô tả nươc ngầm theo từng lưu vực sông phù hợp với xu hương hiện nay trong việc quản lý nước theo các lưu vực. Mặt khác nước ngầm và nước mặt trong các lưu vực sông thường có quan hệ thuỷ lực với nhau và chúng cùng nhau tạo nên cân bằng nước trong các lưu vực. Tuy nhiên do đặc điểm địa hình, thuỷ văn,cũng như do hạn chế tài liệu  nên trong báo cáo các tác giả nhóm các sông nhỏ thành các nhóm như : các sông ven biển Quảng Ninh; các sông ven biển từ Hà Tĩnh đến Hải Vân và gọi là các sông ven biển Bắc Trung Bộ; các sông thuộc Quảng Ngãi đến Bình Định được nhóm chung là các sông ven biển Trung Trung Bộ; các sông từ Khánh Hoà đến Bình Thuận đựơc gọi là các sông ven biển Nam Trung Bộ. Trên phạm vi Tây Nguyên các sông chảy đổ vào sông Mê Công được nhóm thành các sông thuộc lưu vực sông Se Xan và lưu vực sông Srêpok. Một số lưu vực của một số sông nhỏ chảy từ lãnh thổ Việt Nam vào Mê Công ở bắc Bộ và tây trung bộ được ghép chung với các lưu vực sông Đà , sông Mã và sông Cả.

    1. Lưu vực các sông Bằng Giang Kỳ Cùng, F=10900km2
    * Nước ngầm trong các thành tạo bở rời : các thành tạo Đệ Tứ không phân chia (Q) phân bố hạn chế dọc các thung lũng sông, diện phân bố của (Q) lớn hơn cả nằm gần Lạng Sơn và Cao Bằng, ngoài ra chúng còn có mặt ở các thung lũng giữa núi. Thành phần đất đá chứa nước là cát, bột, cuội, sỏi, nói chung có chiều dày mỏng. Nước ngầm được nước mưa cung cấp và thường có quan hệ thuỷ lực với các sông suối, tuy nhiên vào mùa khô chúng thường tạo nên các tập cuội treo bị tháo khô nên khả năng khai thác nước ngầm ở đó bị hạn chế. Thành phần hoá học thường tương ứng với thành phần của nước sông, Trữ lượng động thể hiện qua modun ngầm (Mn) khoảng             2,5-3l/s. km2.
    * Nước ngầm trong các phức hệ chứa nước khe nứt - karst :  các thành tạo carbonat, carbonat biến chất hoặc carbonat xen lục nguyên tuổi C-P, D2và D3 phân bố ở rìa Tây Nam, Tây và Bắc của lưu vực xen lẫn với các thành tạo lục nguyên tuổi P2- T1 D1-3 J1-2,, nhưng các thành tạo carbonat chiếm diện tích lớn hơn. Các thành tạo carbonat bị karst hoá mạnh tới chiều sâu vài trăm mét tạo nên nhiều hang động và khe nứt cũng lớn.  Mặt khác do địa hình phân cắt mạnh nên mực xâm thực địa phương nằm khá sâu nên nhiều hang hốc karst trong mùa khô thường bị  khô không có nước  gây khó khăn lớn cho công việc tìm kiếm thăm dò cũng như khai thác nước ngầm. Tỷ lệ các lỗ khoan có lưu lượng đạt yêu cầu chiếm khoảng 1/3 tổng số các lỗ khoan. Các tài liệu thăm dò cho thấy ở vùng Cao Bằng karst phát triển mạnh đến độ sâu 80m. ở các độ sâu 40-45 m nước khá phong phú. Các lỗ khoan cho tỷ lưu lượng 0,1-0,3 l/s.m. Nước nhạt (M<0,5l/s) loại hình chủ yếu là bicarbonat  canxi. Nước mưa là nguồn cung cấp chủ yếu cho nước Karst ở vùng này. Các hệ thống sông Bằng Giang là nơi thoát nước karst trong vùng.  Modun dòng ngầm (Mng) tương đối lớn so với toàn vùng : 7- 9 l/s .km2. Đây là khu vực cung cấp nước chủ yếu cho hệ thống sông vào mùa khô .Nước ngầm thường có lọai hình là HCO3- Ca, khoáng hoá nhỏ thường gặp 0,4-0,5 g/l.
    * Nước ngầm trong các phức hệ chứa nước khe nứt :  gồm các thành tạo lục nguyên N1.2; J1-2 ;J3K; T1,2,3 ; P2-T1; D1-3 chiếm trên 70% diện tích lưu vực, trong đó các thành tạo T1,2,3 chiếm diện tích lớn hơn cả. Các thành tạo T1,2,3 phân bố trên diện tích rộng tới 60% lưu vực ở dải trung tâm; các thành tạo J1-2 ; J3-K phân bố ở Đông Nam lưu vực và phía Bắc thị xã Lạng Sơn. Các thành tạo P2-T1và D1-3 phân bố xen kẽ với các thành tạo carbonat ở rìaTây, Tây Nam và Bắc lưu vực, còn các thành tạo N1,2 lấp đấy các hố sụt Neogen tạo nên các khoảnh nhỏ dọc theo đứt gãy kiến tạo lớn kéo dài từ Hà Quảng qua Cao Bằng, Lạng Sơn đến Tiên Yên. Các thành tạo lục nguyên gồm sạn kết, cát kết, bột kết, sét kết và than đá, than nâu. Modun dòng ngầm nhỏ hơn 3l/s.km2.. Nước nhạt khoáng khoá nhỏ thường nhỏ hơn 0,3g/l, loại hình bicarbonát chiếm chủ yếu.
    * Nước ngầm trong các phức hệ đá xâm nhập: các thành tạo xâm nhập ít phổ biến nhưng các khe nứt kiến tạo lớn chứa nước
    Thành phần nước của toàn bộ lưu vực là HCO3- Ca, độ tổng khoáng hoá M<0,5g/l.
    2.  Lưu vực các sông ven biển Quảng Ninh , F=4420 km2
    Nhìn chung các sông ven biển Quảng Ninh có lưu vực nhỏ, sông ngắn và dốc. Lớn hơn cả đó là sông Tiên Yên. Các sông chảy trên nền đất đá Mezozoi và Paleozoi. Thành phần chủ yếu là các thành tạo lục nguyên, lục nguyên phun trào tuổi Silua, Devon, Triat Jura. Các thành tạo cacbonat tuổi cacbon - Pecmi chủ yếu phân bố ở các đảo thuộc Vịnh Hạ Long. Các thành tạo bở rời tuổi Đệ Tứ phân bố hẹp tạo nên các cánh đồng nhỏ ven biển.
    Nước ngầm trong các thành tạo carbonát phát triển  karst chủ yếu tồn tại trong đá vôi tuổi C-P, có diện phân bố không liên tục. Dọc theo các đứt gãy địa phương hình cánh cung kéo dài từ Uông Bí đến ĐôngTriều : các dải đá vôi C- P có mức độ phát triển karst rất mạnh. Dọc theo các đứt gãy xuất hiện các mạch nước có lưu lượng từ 0,01 1/s đến trên 10 1/s, tỷ lệ các mạch nước có lưu lượng trên 11/s khá lớn, đạt trên 50% số trường hợp. Các lỗ khoan cho tỷ lưu lượng từ 0,2 đến 1,2 1/s .m  Chiều sâu phát triển karst đạt đến 120m. Tuy nhiên do các hoạt động kinh tế của con người vàcác điều kiện tự nhiên khác nên nhiều hang hốc khe nứt karst bị lấp bởi các vật liệu bở rời, trong nhiều hang gặp bùn sét, nên nhiều lỗ khoan không cho kết quả mặc dù gặp nhiều hang hốc như tại vùng Cọc Sáu - Quảng Ninh.
    Thành phần hoá học của nước chủ yếu là bicacbonat với M<0,5 g/1. Ở một số lỗ khoan ven biển gặp nước Cl-Na với M  =  3 -  18 g/1.
    Do vùng ven biển Quảng Ninh có tiềm năng to lớn về than nên ven biển Quảng Ninh là một trong những nơi được nghiên cứu ĐCTV sớm nhất và nhiều nhất nước ta - đặc biệt từ Cửa Ông đến Phả Lại. Đến nay đã có hàng chục phương án tìm kiếm thăm dò nước ngầm đã xác định được trữ lượng khai thác  là 18.900 m3/ng ở cấp A ; 38.700 m3/ng ở cấp B ; 102.700 m3/ng ở cấp C1 và 85.038 m3/ng  ở cấp C2. Nhiều nơi nước ngầm đã được khai thác phục vụ cho việc ăn uống, sinh hoạt. Tuy nhiên do lượng nước yêu cầu sử dụng lớn, lại do quá trình khai thác than mạnh mẽ nên lượng nước ngầm không đủ để đáp ứng yêu cầu. Hầu hết nước dùng cung cấp nước cho các xí nghiệp mỏ ở Hòn Gai, Cẩm Phả, Bãi Cháy, Cửa Ông... đều là nước mặt. Song hiện nay nhiều dòng sông đã bị ô nhiễm làm chất lượng nước mặt giảm một cách đáng lo ngại. Nước ngầm trong các lưu vực sông hầu hết là nhạt, M<1 g/l; loại hình hoá học chủ yếu là HCO3-  Ca. Riêng vùng Hòn Gai - Cẩm Phả, do ảnh hưởng của khai thác mỏ và bãi thải nhiều nguồn nước có độ pH thấp và nước có thành phần Sulphat. Modun dòng ngầm biến đổi từ 2-6 l/s.km2. Tuy nhiên ở vùng khai thác than nhiều nơi dòng ngầm không còn nữa, do nước chảy vào các lò và các moong khai thác, nhiều suối trở nên khô cạn vào mùa khô.
    Trong các lưu vực sông ven biển Quảng Ninh đã phát hiện nguồn nước khoáng đáng lưu ý. Đó là nước khoáng Cl - Na có chứa Brom - Iod. Các nguồn nước đã được đưa vào khai thác sử dụng cho an dưỡng chữa bệnh và đóng chai phục vụ giải khát. Tổng công suất đóng chai đạt hàng triệu lít một năm .
    3. Lưu vực hệ thống sông Thái Bình , F = 12680 km2
    Các sông thuộc hệ thống sông Thái Bình chủ yếu bắt nguồn từ các núi vùng Đông Bắc. Đó là sông Thương, sông Cầu và sông Lục Nam.
    Ở phần thượng lưu của các sông phần lớn bao gồm các đất đá tuổi Paleozoi và Mezozoi, có mức độ chứa nước kém, chỉ có các thành tạo carbonat tuổi Carbon-Permi có mức độ chứa nước tốt song rất không đồng đều. Các thành tạo bở rời chủ yếu phân bố ở vùng trung lưu và các thung lũng hẹp. Các tài liệu điều tra địa chất thủy văn mới chỉ để thành lập bản đồ ĐCTV tỷ lệ 1:200.000 và 1:500.000. Các phương án tìm kiếm thăm dò nước chưa nhiều, chủ yếu tập trung ở vùng thành phố Thái Nguyên (Đồng Bẩm, Phổ Yên, Đồng Hỷ, Trại Cau...). Trữ lượng khai thác đã xác định được 45.700 m3/ng- đạt cấp A; 40.200 m3/ng- cấp B; 376.700 m3/ng- cấp 1. Tuy vậy việc khai thác nước ngầm chưa nhiều, mới chỉ có các lỗ khoan khai thác đơn lẻ.
    *Nước ngầm trong các thành tạo bở rời
    Các thành tạo bở rời chủ yếu có tuổi  Đệ Tứ không phân chia ( Q ) phân bố  dọc theo các sông suối tạo thành các dải hẹp, kéo dài. Đất đá chứa nước là cát, cuội sỏi, bột lẫn lộn, chiều dày  nhỏ thường trên dưới 10 m. Chủ yếu là nước nhạt, thành phần giống với nước sông suối. Khả năng cung cấp rất hạn chế chỉ có thể đáp ứng các yêu cầu cấp nước nhỏ  và cấp nước nông thôn bằng các công trình nông như giếng khơi. Các thành tạo bở rời thuộc hạ lưu hệ thống sông Thái Bình cùng với hệ thống sông Hồng đã tạo nên đồng bằng Bắc Bộ sẽ được mô tả chung cho hạ lưu của cả hai hệ thống sông ( xem mục     ).
    * Nước ngầm trong các thành tạo đá cứng nứt nẻ và hang hốc karst      
       Các thành tạo carbonat C-P  chiếm diện tích khoảng 10% lưu vực, phân bố thành dải nan quạt từ Bắc Thái Nguyên mở rộng sang hướng Đông chiếm phần lớn thượng nguồn bên phải sông Thương. Do khả năng chứa nước tốt hơn của các thành tạo này nên sông Thương về mùa cạn có lưu lượng tương đối lớn hơn so với sông Lục Nam khi diện tích lưu vực của chúng xấp xỉ nhau. Các điểm lộ địa chất thủy văn ở đây có lưu lượng từ 0,01 l/s đến 100 l/s, các lỗ khoan có tỷ lưu lượng 0,1 l/s.m đến 6,25 l/s.m. Các  điểm lộ và các lỗ khoan có mức độ phong phú nước chiếm tỷ lệ trên 50% trong số các lỗ khoan có nước. Theo các tài liệu khoan thăm dò nước thì chiều sâu phát triển Karst đến trên 100 m. Ở các độ sâu trên 100 m mức độ chứa nước giảm hẳn do mức độ phát triển các khe nứt karst giảm. Dọc theo các đứt gãy, xuất hiện nhiều mạch nước và các lỗ khoan có lưu lượng lớn. Ngay cả trong mùa khô, nhiều mạch nước vẫn có lưu lượng hàng chục lít/giây như Mỏ Gà-Võ Nhai : Mắt Rồng (Đồng Hỷ): Xa Đán, Mỏ Tào, Bơ Đin v.v... các kết quả thăm dò của Cục Địa chất tại khu vực Đồng Bẩm, Trại Cau đã xác định được trữ lượng công nghiệp trong các thành tạo carbonat của vùng này 65.696 m3/ng.
    Nước karst ởkhu vực nàycó tổng khoáng hoá nhỏ, hầu hết các mẫu nước cho M <0,5g/l, loại hình bicarbonat canxi. Modun dòng ngầm của các thành tạo C-P tương tự như lưu vực sông Bằng Giang - Kỳ Cùng: 6-9 l/s.km2.
    Ở vùng Đông Khê-Trùng Khánh vận động tồn tại trong các khe nứt hang hốc karst của các thành tạo cacbonat có tuổi C-P, P2, phân bố rộng rãi ở Đông Khê, Hà Giang, Quảng Bạ, Lang CaPhu...Nước ngầmở đây nằm khá sâu, các hang hốc karst không chỉ thu hút nước mưa, mà ngay cả nước mặt cũng bị hút xuống các hang đó. Các mạch nước xuất lộ ở đáy các thung lũng và lưu lượng nhỏ hầu hết là <0,5 l/s, chỉ ở sát các đứt gãy kiến tạo mới gặp các mạch nước có lưu lượng lớn hơn(đến chục lít/ giây).
    Vùng Hà Giang, nước karst chủ yếu tồn tại trong các đá hoa, đá vôi hoa hoá có tuổi Cambri giữa (C2) . Độ sâu phát triển karst đến vài trăm mét. Tại Hà Giang đã thăm dò và xác định được trữ lượng nước cấp công nghiệp trong các đá vôi C2 là 5.551 m3 /ng trong đó cấp A là 2.846 m3/ng.
    Các thành tạo chứa nước carbonat xen lục nguyên tuổi C3-O1;O3-S;D1,2,3 phân bố rộng rãi ở thượng lưu sông Công và sông Cầu tạo nên các cánh cung Ngân Sơn và sông Gâm. Chiều sâu phát triển khe nứt, karstcủa các thành tạo carbonat và carbonat xen lục nguyên tới 80 m hoặc lớn hơn. Modun dòng ngầm của thượng lưu sông Công và sông Cầu từ 4-6 l/s.km2.
    Trên lưu vực thuộc hệ thống sông Thái Bìnhđã có một số công trình khai thac nước ngầm từ các thành tạo carbonát phục vụ cấp nước cho dân sinh và công nghiệp như ở  huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ
    Tuy nhiên trong những năm gần đây do quá trình khai thác rừng, khai thác mơ bừa bãi đã gây tác hại đến nước cactơ trong vùng. Nhiều lỗ khoan gặp hamg hốc karst nhưng bị sét, bùn lấp đầy, nước khai thác nên quá đục không thể sử dụng được như vùng Hữu Lũng.
    * Nước ngầm khe nứt trong các thành tạo lục nguyên: Các thành tạo lục nguyên gồm cát kết, bội kết, sét kết xen lẫn phun trào riolit tuổi T1,2,3 phân bố ở trung lưu sông Công và toàn bộ diện tích sông Lục Nam (T1,2,3). Do có sự xen kẽ các tập hạt mịn và hạt thô nước ngầm ở đây thường tạo nên các tầng chứa nước có áp. Tuy nhiên do hạt mịn chiếm ưu thế nên mức độ chứa nước thờng kém và môđun dòng ngầm  nhỏ chỉ đạt giá trị 2-4 l/s.km2.
    Các thành tạo sét bột và cát kết J1-2 phân bố ở Nam Thái Nguyên chứa nước kém, môđun dòng ngầm 2-3 l/s.km2.
    *Nước ngầm trong các đá xâm nhập
    Các thành tạo granit phát triển không  rộng rãi ở các lưu vực thuộc hệ thống sông Thái Bình , mức độ chứa nước kém , Mng = 2,5-4 l/s.km2.
    * Nước ngầm trong các đới khe nứt kiến tạo: Các đới chứa nước khe nứt kiến tạo từ Thái Nguyên trở lên phía Bắc có dạng vòng cung hướng toả tia về phía Đông Bắc, Đông và Đông Nam. Các đứt gãy lớn, nhỏ đều chứa nước tốt, chiều sâu dập vỡ tới 120 m hoặc lớn hơn, phổ biến là 50-60 m.
    Nước ngầm trong các lưu vực thuộc hệ thống sông Thái Bình chủ yếu là HCO3-Ca; với tổng khoáng hoá nhỏ ( M  hầu hết  <0,5 g/l   ).
    Trên phạm vi các lưu vực thuộc hệ thống sông Thái Bình cũng đã phát hiện một số nguồn nước khoáng như nguồn La Hiên, Biển Động.
    4. Lưu vực hệ thống sông Hồng , F = 61400 km2
    Các lưu vực thuộc hệ thống sông Hồng chạy gần song song theo hướng Tây Bắc-Đông Nam : gồm lưu vực sông Lô- Gâm ở phía trái ; sông Thao ở giữa và sông Đà ở phía phải. Các sông gặp nhau ở Việt Trì.
    Lưu vực sông Lô- Gâm bao gồm chủ yếu các phức hệ chứa nước khe nứt, khe nứt vỉa, các thành tạo lục nguyên, biến chất cổ sinh (C- O, S2-D 1-2), các thành tạo carbonat thuộc Cambri giữa, Devon giữa và magma xâm nhập. Các phức hệ chứa nước thành tạo lục nguyên, lục nguyên phun trào Mezozoi tương đối phổ biến. Các thành tạo bở rời chứa nước tốt chiếm diện tích nhỏ ven các sông.
    Phần thượng lưu Sông Lô - Gâm thuộc vùng mưa nhiều nhất nước ta, địa hình lại dốc nên modun dòng ngầm biến đổi mạnh, có nơi đạt đến 20 l/s.km2 như vùng Bắc Quang.
    Nước trong lưu vực sông Lô - Gâm nhìn chung có M nhỏ, hầu hết < 0,5 g/l, nhiều nơi < 0,1 g/l. Loại hình hóa học phổ biến là Bicarbonat. ở những nơi có M <0,1 g/l phổ biến là nước clorua – bicarbonat natri. Nước sử dụng tốt cho ăn uống, sinh hoạt và công nghiệp. Song nhìn chung mức độ chứa nước của đất đá không cao, chỉ trong các tập carbonat xen kẹp, các đứt gãy kiến tạo, các đới tiếp xúc bất chỉnh hợp mới có mức độ chứa nước tốt. Công tác điều tra ĐCTV và tìm kiếm thăm dò nước ngầm còn ít, mới tập trung ở khu vực thị xã Tuyên Quang.
    Trong lưu vực sông Lô- Gâm cũng đã phát hiện một số nguồn nước khoáng có giá trị. Trong đó một số nguồn đã được khai thác sử dụng phục vụ an dưỡng, chữa bệnh có hiệu quả tốt như nguồn Mỹ Lâm (Tuyên Quang). Nguồn nước khoáng này còn  được thí nghiệm khai thác nhiệt để sấy chè và dược phẩm cho kết quả tốt. Có nguồn đã được khai thác đóng chai giải khát như nguồn Bình Ca.
    Lưu  vực sông Thao kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, các thành tạo chứa nước chủ yếu là các đất đá trầm tích biến chất cổ Proterozoi, các magma xâm nhập và các phun trào xen trầm tích lục nguyên Jura-Kreta. Các thành tạo carbonat kém phổ biến. Địa hình dốc, mưa nhiều tạo modun dòng ngầm khá lớn (từ 5 - 20 l/s.km2) song mức độ  chứa nước của đất đá từ trung bình đến nghèo nước. Trên thung lũng sông Thao , nhiều lỗ khoan có mực nước cao hơn mặt đất, nhưng nhìn chung là mức nước nằm sâu (>5m). Nước có độ tổng khoáng hoá nhỏ, tổng khoáng hoá các mạch nước thường <0,5 g/l, tỷ lệ các mạch nước có M<0,1 g/l khá lớn (40-50%); loại hình hoá học Bicarbonat, Bicarbonat - Clorua chiếm ưu thế khi M>0,l/l; khi M<01g/l loại hình phổ biến là clorua, clorua -  bicarbonat.
    Các đất đá bở rời chứa nước lỗ hổng chỉ phân bố dọc thung lũng sông và một vài thung lũng hẹp (Nghĩa Lộ, Than Uyên ).Tuy nhiên do nước trong các thành tạo bở rời phân bố dọc sông thường có quan hệ thuỷ lực chặt chẽ với nước sông nên nước ngầm khá phong phú. Thí dụ tại vùng Lâm Thao - Bãi Bằng đã xác định được trữ lượng khai thác cấp A là 69.800 m3/ng ; cấp B là 60.200 m3 /ng, song rất tiếc lại không được đưa vào khai thác sử dụng . Ngoài ra trên  phạm vi lưu vực sông Thao còn có một vài phương án tìm kiếm thăm dò nước ngầm tập trung ở vùng Việt Trì, Phú Thọ, như các phương án : Việt Trì, Quất Lưu- Đạo Tú, Phú Thọ nhằm cấp nước cho dân sinh và  công nghiệp của vùng.
    Trong phạm vi lưu vực sông Thao cũng đã phát hiện được nhiều nguồn nước khoáng nóng ở các vùng Trạm Tấu, Tú Lệ, Cam Đường... Nước khoáng chủ yếu thuộc loại sulphat- canxi với M = 2 - 3 g/l, nhiệt độ 32-50 0C. Nhiều nguồn nước khoáng nóng đã được nhân dân khai thác để tắm  như ở Trạm Tấu, Tú Lệ, Vàng Pó. Một điều đáng chú ý là nhiều nơi xuất lộ  các nguồn nước khoáng có mối quan hệ nào đó với các thành tạo carbonat.
    - Lưu vực sông Đà kéo dài theo hướng Tây Bắc -  Đông Nam. Điều đáng lưu ý là trên lưu vực sông Đà đặc biệt phổ biến các thành tạo carbonat phát triển karst tuổi Devon, Cacbon-Pecmi và phổ biến hơn cả là T2đg.
    Phức hệ chứa nước cacbonat T2a gồm chủ yếu là đá vôi phân bố thành dải kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam trên diện tích lớn của lưu vực từ Phong Thổ - Lai Châu đến Yên Khánh tạo thành các cao nguyên rộng lớn: Phong Thổ - Tam Đường, Quỳnh Nhai - Sơn La, Mộc Châu, Hoà Bình- Nho Quan , chiếm phần trung tâm của nếp lõm Sông Đà. Chiều sâu phát triển karst tới 120 m hoặc lớn hơn, phổ biến ở mức 80-100 m. Trong vùng này có nhiều mạch lộ với lưu lượng rất lớn, phổ biến 1-20 l/s, nhiều hố sụt tạo thành các hố chứa nước, càng về phía Đông Nam hố càng lớn và nhiều nước. Modun dòng ngầm đạt 6-10l/s.km2 riêng vùng Sơn La -Mộc Châu có giá trị nhỏ hơn 2-5l/s.km2. Nước trong khe nứt và hang hốc karst có độ tổng khoáng hoá thường nhỏ  hơn 0,5g/l, loại hình HCO3- Ca, riêng phần tiếp xúc với đồng bằng ở Phủ Lý - Ninh Bình trong các thành tạo còn gặp nước lợ và mặn, loại hình C1 - Na.
    Phức hệ chứa nước carbonat C-P phát triển tương đối hạn chế thành 4 khu vực tương đối lớn hơn : Mường Tè, Phong Thổ, Quỳnh Nhai, Cao Nguyên Vạn Yên, ngoài ra còn nhiều khoảnh nhỏ rải rác ở lưu vực sông Đà. Karst phát triển ở độ sâu 150 m, các mạch lộ đa số có lưu lượng nhỏ hơn 0,5l/s; gần các đứt gãy kiến tạo lưu lượng mạch lộ mạch lộ tăng lên tới hàng chục l/s. Modun dòng ngầm 5-10l/s.km2.
    Trong lưu vực sông đà có hai vùng nước Karst Mộc Châu- Sơn la và Hoà Bình-Ninh Bình
    Vùng  Sơn La -Mộc Châu  - Nước dưới đất trong các thành tạo carbonat vùng Mộc Châu -Sơn La tồn tại và vận động trong các khe nứt, hang hốc karst của đá và chủ yếu có tuổi Triat giữa thuộc hệ tầng Đồng Giao (T2 đg) phân bố rất rộng rãi ở Mộc Châu, Sơn La, Phong Thổ. Các đá vôi ở vùng  này có độ cao khá lớn, thường từ 600-1000 m. Nước phân bố không liên tục và các mạch lộ có lưu lượng 0,002 l/s đến hàng chục l/s. Cá biệt có các mạch đạt trên 100l/s. Những hố sụt karst, những mạch lộ có lưu lượng lớn thường phát hiện dọc các đứt gãy kiến tạo. Ví dụ hố sụt gần bệnh viện Mộc Châu có đường kính 30 m, sâu trên 10 m hút nước với lưu lượng ổn định 30  l/s mực nước chỉ hạ thấp có 0,12 m. Các tài liệu khoan thăm dò nước và đo vẽ thành lập bản đồ ĐCTV cho thấy, nước karst phong phú ở độ sâu 100 m, ở độ sâu lớn hơn mức độ phong phú giảm đi.Tuy nhiên các tài liệu cũng cho thấy ở các độ sâu 60-80 m nước trong các lỗ khoan về mùa khô rất ít, còn mùa mưa lại rất phong phú. Ở các độ sâu lớn hơn lưu lượng nước không lớn lắm song lại khá ổn định. Điều đó cho thấy ở các độ sâu 60-80 m các thành tạo này vẫn chỉ nằm trong đới dao động theo mùa chứ chưa nằm hẳn trong đới vận động sâu.
    Mức độ chứa nước thay đổi mạnh ở vùng Sơn La, tỷ lệ các lỗ khoan gặp nước khá thấp( 1/7 ), ở Mộc Châu tỷ lệ các lỗ khoan gặp nước đã khá lớn ( 1/3 ). Tỷ lưu lượng các lỗ khoan gặp nước thường từ 0,2-1,0 l/s.m, đôi khi lớn hơn. Nước có M ~ 0,1=0,4 g/l, thành phần bicarbonat- canxi, đôi khi gặp nước bicarbonat-sulphat. Nước được nước mưa cung cấp và thoát ra các mạch nước cùng mạng xâm thực địa phương.
    Các hiện tượng hang hốc karst bị bùn sét lấp làm cho nhiều lỗ khoan mặc dù gặp hang hốc karst nhưng chứa nước kém, hoặc nuớc từ các hang hốc karst chảy ra trong mùa mưa có độ đục rất lớn do tác động của các hoạt động phá rừng cũng xảy ra ở vùng  này. Đặc biệt trong trận bão lụt ở Sơn La năm 1992 cũng liên quan đến các hoạt động của nước trong các hang hốc karst.
    Trong thập kỷ 60-70, Bộ Nông nghiệp đã khoan nhiều lỗ khoan khai thác nước trong các thành tạo carbonat tuổi T2 đg ở vùng Sơn La, Mộc Châu phục vụ cấp nước cho các nông trường Tô Hiệu, Mộc Châu. Nhiều lỗ khoan hiện nay không hoạt động vì không được bảo dưỡng thường xuyên.
    Vùng Hoà Bình-Ninh Bình- Ở vùng này, nước tồn tại, vận động trong các hang hốc khe nứt hang hốc karst của đá vôi chủ yếu có tuổi T2 thuộc hệ tầng Đồng Giao, ngoài ra còn có tuổi C-P, D2.
    Các thành tạo carbonat ở đây có mức độ chứa nước tốt. Các mạch lộ có lưu lượng từ 0,02 l/s đến 20 l/s, không hiếm các mạch nước có lưu lượng đến 100 lít/giây. Các lỗ khoan phát hiện nước karst phong phú đến độ sâu 100 m. Ở vùng Đính- Rịa các lỗ khoan các mạch lộ có lưu lượng lớn phát hiện dọc đứt gãy (có tới 70% số mạch lộ có lưu lượng  Q>10 l/s). Còn ở Bỉm Sơn có 9 trong số 14 lỗ khoan phong phú nước đều gặp trong các đứt gãy tầng T2đg.
    Tỷ lưu lượng các lỗ khoan biến đổi từ 0,05-1,2 l/s m. Động thái nước Karst ở đây biến đổi mạnh. Tại Bỉm Sơn đã quan sát lưu lượng các mạch nước trong mùa mưa lớn hơn trong mùa khô đến 100 lần.
    Nước ngầm có M biến đổi từ 0,2 đến 0,4 g/l, loại hình chủ yếu là biarbonat canxi. Ở phần Nam gặp nước có M đạt 3-8 g/l, thành phần clorua natri. Nhìn chung nước ngầm trong các khe nứt, hang hốc karst của các đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao ở Tây Bắc  nói chung và lưu vực sông Đà nói riêng có các đặc điểm cơ bản sau:
    - Mức độ chứa nước có xu hướng giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, điều này được phản ánh qua các tài liệu:
    + Số lượng lỗ khoan gặp nước từ Sơn La đến Mộc Châu, Xuân Mai, Đồng Giao tăng lên.
    + Tỷ lưu lượng các lỗ khoan cũng tăng lên theo hướng đó.
    - Chiều sâu gặp nước karst giảm theo hướng Tây Bắc Đông Nam. Ở Sơn La, Mộc Châu các lỗ khoan gặp đới chứa nước ổn định thường ở độ sâu 60-80 m và 80-100 m. Ở Xuân Mai chỉ ở các độ sâu 50-60 m xuống phía Nam chiều sâu các lỗ khoan nhỏ hơn 50 m đã gặp các đới chứa nước phong phú.
    - Theo hướng Tây Bắc-Đông Nam độ tổng khoáng hóa của nước có xu hướng tăng dần, loại hình hóa học của nước chuyển dần từ bicarbonat sang hỗn hợp bicarbonat- clorua và clorua.
    Ngoài các phức hệ chứa nước khe nứt karst, vùng lưu vực sông Đà còn có mặt các đơn vị chứa nước vỉa các thành tạo lục nguyên, lục nguyên xen kẹp carbonat, lục nguyên phun trào Mezozoi và các thành tạo Paleozoi và magma xâm nhập. Mức độ chứa nước của các thành tạo này nhỏ. Modun dòng ngầm đạt 5-6 l/s.km2.
    Các thành tạo bở rời phân bố hẹp theo các sông suối thường có quan hệ thuỷ lực với nước sông chính vì vậy khi khai thác tạo trữ lượng cốn theo thuận lợi cho việc cấp nước . Cần tận dụng những khu vực như vậy đẻ giải quyết nhu cầu sử dụng nước cho kinh tế dân sinh. Thí dụ như khu vực Thịnh Lang thuộc thị xã Hoà Bình.
    Nước trong các phức hệ thuộc lưu vực sông Đà thường có độ tổng khoáng hoá biến đổi trong khoảng 0,3-0,5g/l. Loại hình hoá học chủ yếu là bicarbonat  canxi.
    Công tác tìm kiếm nước dưới đất chưa nhiều, song nhiều nơi lại có cáclỗ khoan khai thác phục vụ cấp nước cho sinh hoạt. Các lỗ khoan tập trung  trong các thành tạo  carbonat ở vùng Mộc Châu và một số nông trường trước đây.
    Trong lưu vực sông Đà cũng đã phát hiện nhiều nguồn nước khoáng. Thành phần nước khoáng chủ yếu thuộc loại Sulphat - Canxi, M~ 1- 3 g/l, nhiệt độ từ 32- 45C.
    Nước ngầm trong đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Thái Bình
    Phần hạ lưu hai hệ thống sông Thái Bình và sông Hồngđã tạo nên đồng bằng rộng lớn ở miền Bắc nước ta đó là đồng bằng Bắc Bộ. Với diện tích trên 17000km2, đồng bằng Bắc Bộ là trung văn hoá, chính trị, dân cư, kinh tế vào loại lớn nhất của đất nước. Do kinh tế ngày càng phát triển nhu cầu sử dụng nước ngày càng cao cả về chất và lượng. Trên phạm vi đồng bằng Bắc Bộ từ những năm 60 của thế kỷ trước đã tiến hành nhiều phương án tìm kiếm thăm dò nước ngầm, và hiện là cũng là nơi khai thác nước ngầm lớn nhất đất nước.Trên đồng bằng bắc Bộ , nước ngầm chủ yếu được chứa trong cac thành tạo bở rời và có thể chia thành các tầng chứa nước:
    1. Tầng chứa nước lỗ hổng thành tạo bở rời đa nguồn gốc Holocen (QIV , qhI , Qc)
    Đây là tầng chứa nước trên cùng tính từ mặt đất. Trong một số các báo cáo gần đây, trên bản đồ tỷ lệ 1/200000, các tác giả Nguyễn Văn Đản và M. Rakhimov đã chia tầng chứa nước này thành 2 đơn vị chứa nước nhỏ hơn, phân cách nhau bởi các tầng lớp thấm nước kém, không liên tục. Trong báo cáo này chúng tôi vẫn sử dụng thang phân chia địa tầng ĐCVT của Nguyễn Kim Ngọc và một số tác giả trước đây, nghĩa là gộp chúng thành 1 tầng chứa nước, vì trên phạm vi  toàn đồng bằng có thể coi như chúng có chung một mực nước.
    Tầng chứa nước QIV phân bố rộng khắp đồng bằng Bắc Bộ với bề dầy thay đổi từ 10 m ở ven rìa đến 30 - 40m hoặc lớn hơn ở phía trung tâm và về phía Đông Nam của đồng bằng. Khả năng chứa nước của tầng này kém hơn nhiều so với tầng chứa nước  QII-III nằm dưới nó. Mực nước ngầm cách mặt đất  từ 6-10m (mùa khô) đến 0,5-3m (mùa mưa), hệ số thấm K từ 1 đến 5 -6m/ngày, Tỷ lưu lượng biến đổi trong khoảng rộng  từ 0,1l/sm  đến vài l/s.m .Tầng chứa nước này chỉ đáp ứng các nhu cầu cung  cấp nước nhỏ cho sinh hoạt.  Hầu hết các giếng  và các lỗ khoan nhỏ kiểu UNICEF của nhân dân đều lấy nước từ tầng  chứa nước này .
    Thành phần hoá học của tầng chứa nước QIV thay đổi khá phức tạp. Trên bản đồ phân vùng thuỷ hoá cho thấy ở phần Tây Bắc của đồng bằng, nước có độ tổng khoáng hoá thấp, chủ yếu là nước nhạt. Phần còn lại, chỗ mặn, chỗ nhạt, phân bố không có quy luật. Càng gần biển, mật độ các khoảnh bị mặn càng tăng. Ở hai rìa của đồng bằng, các khu vực Phủ Lý, Gia Lương xuống phía Nam, nước có tổng khoáng hoá cao hơn so với phía Tây Bắc và phần trung tâm. Các giá trị đặc trưng về thành phần hoá học của nước tầng QIV có thể được  tổng hợp và thể hiện trong bảng (  1  ).
    Hiện nay ranh giới giữa các vùng thuỷ hoá khác nhau trong tầng chứa nước QIV mới được khoanh định một cách tương đối, việc giải thích nguyên nhân làm thay đổi thành phần hoá học của nước dưới đất tầng này vẫn còn là vấn đề cần được nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn.
    2. Tầng chứa nước lỗ hổng các thành tạo bở rời cát, cuội, sỏi nguồn gốc sông lũ (QII-III qp , Qa )
    Tầng chứa nước QII-III phân bố rộng khắp đồng bằng và được ngăn cách với tầng  chứa nước QIV bởi lớp sét nguồn gốc hỗn hợp, thấm nước kém, dày vài mét đến hàng chục mét (ambQIII). Vì vậy đây là tầng chứa nước áp lực, với cột nước áp lực cách nóc tầng từ vài mét đến vài chục mét, tăng dần từ ven rìa đến trung tâm và ra biển. Bề dày của tầng chứa nước thay đổi từ vài mét đến hơn 10 m ở rìa đồng bằng đến vài chục mét ở vùng trung tâm và ở gần biển đạt tới gần trăm mét, hệ số thấm K từ 0,5 đến 50 - 60 m/ngày. Nhiều nơi ở trung tâm đồng bằng, về mùa mưa mực nước tĩnh cao hơn mặt đất  0,2- 1,0m  lưu lượng trung bình ở các lỗ khoan đạt hàng chục l/s.Với qui mô và khả năng  chứa nước lớn như vậy, tầng chứa nước QII- III  là nguồn cung cấp nước chủ yếu và  quan trọng cho dân cư, công nghiệp và nông nghiệp của đồng bằng bắc Bộ
    Tầng chứa nước QII - III   hầu hết bị tầng cách nước QIII. Phủ lên trên Tuy nhiên ở một số nơi tầng cách nước QIII  bị sông bóc mòn (như dọc sông Hồng từ Sơn Tây về nam Hà Nội , hay dọc sông Đuống từ Thượng Cát về Phù Đổng ), có nơi bị vát nhọn và có nơi  được thay thế bằng các trầm tíc cát min .Những nơi đó đã tạo cho hai tầng chứa nước  QIV  và QII - III  có quan hệ thuỷ lực với nhau.
    Nhìn chung thành phần  hoá học của nước tầng  QII - III  thay đổi có quy luật  rõ rệt hơn so với tầng QIV. Ranh giới phân vùng thuỷ khoáng  đã thể  hiện rõ 3 vùng có độ khoáng hoá khác nhau (<0.5g/l, 0,5 - 1 g/l và >1,0 - g/l) và theo hướng tăng dần về phía biển . Các tài liệu nghiên cứu mới đây đã phát hiện một số thấu kính nước nhạt trong tầng chứa nước  naỳ . Theo kết quả tính toán của một số nhà nghiên cứu thì trữ lượng các thấu kính nước nhạt cũng không lớn ; ở Hải Phòng chúng chỉ đạt giá trị khoảng 50.000m3/ng; còn ở Hải Hậu cũng chỉ có trữ lượng tương tự như hải Phòng

    Nguồn hình thành trữ lượng nước dưới đất trong trầm tích Đệ Tứ.
    Sự ngăn cách không liên tục giữa hai tầng chứa nước QIV  và Q II - III  ở các khu vực  ĐCTV   là điều kiện để các  tầng chứa nước này liên hệ với nhau. Theo kết quả nghiên cứu động thái nước dưới đất đồng bằng Bắc Bộ thì tầng chứa nước QIV và QII-III  có quan hệ thủy lực chặt chẽ với nhau, thời gian trao đổi nước ngắn và theo mùa trong năm. Nước từ tầng QIV và sông Hồng là nguồn cung cấp chủ yếu cho tầng QII - III. Mối liên hệ thủy lực giữa các tầng chứa nước được chứng minh bằng các tài liệu đo mực nước và tài liệu bơm hút mực nước thí nghiệm ở một số khu vực trên đồng bằng. Sự chênh lệch áp lực giữa hai tầng chứa nước là nguyên nhân chủ yếu tạo ra quá trình thấm xuyên và sự sự thâm nhập của nước từ tầng QIV và sông qua các cửa sổ ĐCTV cung cấp cho tầng   QII - III.
    Ta thấy hai tầng chứa nước QIV và QII - III vừa là miền cung cấp, vừa là miền thoát của nhau thông qua các “Cửa sổ ĐCTV” và đều có nguồn gốc ngấm do nước mưa rơi trực tiếp trên bề mặt đồng bằng. Theo các  tính toán của Trần Minh, năm 1981 nước sông Hồng chiếm tới 70% trong thành phần trữ lượng khai thác (Q = 37m3/m  ngày)
    Đặc điểm động thái nước dưới đất trong trầm tích Đệ Tứ.
    Dựa vào đặc điểm động thái của nước dưới đất ở từng khu vực khác nhau, các nhà nghiên cứu đã chia ra 3 kiểu động thái như sau :
    - Kiểu thuỷ lực : Phân bố dọc các sông với chiều rộng 3 - 4 km về hai phía, nước dưới đất lặp lại biên độ dao động của nước sông.
    - Kiểu khí tượng : được chia thành hai phụ kiểu, phụ kiểu ảnh hưởng  trực tiếp, phân bố ở vùng cung cấp, mực nước dao động theo mùa, biên độ dao động là 1 - 2 m, phụ kiểu ảnh hưởng gián tiếp, phân bố ở vùng bị phủ. Dao động mực nước ở những khu vực này diễn ra từ từ và lệch pha với phụ kiểu  trên từ 1 đến 2 tháng. Biên độ dao động từ 0,5 đến 1,5m.
    - Kiểu phá huỷ : phân bố ở khu vực Hà Nội, do quá trình khai thác nước gây ra. Do quá trình khai thác nước tập trung quy mô lớn  đồng thời trong những năm dần đây hàng chụ nghìn lỗ khoan nhỏ cũng tham gia vào quá trình khai thác làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp rất rõ ràng.Thí dụ tại Hà Nội tầng chứa nước QVI đã tạo một phễu hạ thấp  từ nội thành kéo lên Tây bắc khu Ngọc Hà -Văn Công. Còn tầng chứa nước Q II-III đã tạo phễu hạ thấp với cốt cao mực nước 0m có diện tích xấp xỉ 200km2 ; cốt cao –14m đã liên tục tăng lên dến nay dã đạt diện tích trên 30km2 tăng lên hơn năm lần so với 10 năm trước.
    Hướng chảy của nước dưới đất trong trầm tích Đệ tứ:
    Tầng chứa nước QVI  có liên hệ mật thiết với nước mặt, nước mưa trên vùng nghiên cứu. Mùa mưa, nước mưa và nước mặt là nguồn cung cấp chủ yếu cho nước tầng QIV. Mùa khô, tuỳ thuộc vào vị trí cấu trúc cụ thể của tầng chứa nước  mà  nước dưới đất có thể chảy vào sông hoặc ngược lại. Tầng chứa nước QII - III  có hướng chảy chủ yếu là : Từ  Tây Bắc đến Đông Nam.và từ rìa vào trung tâm.

    5. Lưu vực sông Mã, F=17600km2
    Nước lỗ hổng  chứa trong các thành tạo Đệ Tứ không phân chia Q phân bố thành dải hẹp dọc sông hoặc các thung lũng giữa núi. Thành phần đất đá chứa nước là cát cuội sỏi, thường bị phủ bởi sét bột cát. Chiều dày thường không quá 10 m. Trữ lượng nuớc không đáng kể, có quan hệ thuỷ lực với sông, chủ yếu là nước nhạt, thành phần HCO3- Ca.
    Tầng chứa nước QIV phân bố rộng khắp đồng bằng Thành Hoá trừ các dải hẹp trược núi. Đất đá chứa nước là cát mịn, trung phân bố đến chiều sâu từ 5-6m tới 20 m, chiều dày đất đá chứa nước từ vài ba mét tới 10-12 m, tăng dần về phía sông Mã và phía biển. Tầng chứa nước QIV chứa nước lợ và nước mặn ở vùng ven biển  và dọc sông gần tới Thanh Hoá. Những nơi cát lộ trên mặt đất  ở các vùng ven biển, phía trên thường là nước nhạt tới chiều sâu 5-6m, phía dưới là nước lợ hoặc nước mặn, thành phần nước mặn và nhạt đều là Cl - Na. Các phần xa biển và sông không  bị ảnh hưởng triều đều chứa nước nhạt, loại hình HCO3- Ca - Na hoặc Cl- Na- Ca nhưng thỉnh thoảng vẫn gặp các khối nước lợ.                                      
    Tầng chứa nước QII-III phân bố rộng khắp đồng bằng tới chiều sâu 10 m vùng ven núi, tới trên 60 m ở vùng cửa sông. Thành phần đất đá là cát trung thô sạn sỏi chiều dày từ 1-2 m tới 20-30 m ở vùng ven sông và cửa sông. Phức hệ chứa nước QII-III bị mặn trên diện tích lớn: các dải ven biển bị mặn rộng hơn so với tầng trên, toàn bộ phía Tây và phía Nam thị xã Thanh Hoá. Phía Tây Bắc chứa nước nhạt. Thành phần nước nhạt: HCO3- Cl - Ca - Na, nước lợ và mặn : Cl - Na.
    *Các tầng chứa nước khe nứt - karst
    Tầng chứa nước T2a phân bố chủ yếu ở bờ trái sông Mã, nhiều nhất ở lưu vực sông Bưởi-  là nhánh đổ vào bên trái sông Mã. Đá vôi T2a bị phong hoá, karst hoá mạnh mẽ tới chiều sâu khoảng 60 m . Do các đứt gãy đều phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và đất đá đổ về hướng Đông Bắc nên lượng nước ngầm thoát theo hệ thống đứt gãy và hệ thống khe nứt theo mặt nước về phía lưu vực sông Hồng và thoát ngầm, lượng nước thoát ra sông Bưởi tương đối nhỏ, modun dòng ngầm 4-5 l/s.km2.
    Nước ngầm trong các thành tạo lục nguyên gồm các loại cát kết, bội kết, sét kết có tuổi K2: T1-2: P2-T1: D2; O-D1 và các đá biến chất cổ C3-O1, PR-C1, phân bố rộng rãi ở bờ phải sông Mã (PR-C1; C3-O1; O-D1: K2) thượng lưu ( O-D) và trung lưu sông Chu (J1-2). Mức độ chứa nước của các loại đất đá này thuộc loại kém, nước ngầm chứa trong đới phong hoá dày khoảng 20 m và  trong các đứt gãy. Modun dòng ngầm 2-6 l/s.
    Các đá magma phân bố thành phân bố thành dải không liên tục theo bờ trái sông Mã suốt từ Tuần Giáo xuống đồng bằng, bên phải ở thượng và trung lưu sông Chu gồm granit, riôlit bazan  cổ chứa nước trong đới phong và đới dập vỡ dọc các đứt gãy. Tính chất chứa nước thay đổi trong phạm vi rộng từ kém đến tốt. Môđun dòng ngầm thay đổi từ 2-10 l/s.km2.
    Các hệ thống đứt gãy chứa nước chủ yếu phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, dày đặc nhất ở phía Tây Bắc đồng bằng Thanh Hoá làm nhiều loại đất đá kém chứa nước như đất đá tuổi P2-T1 cũng trở lên chứa nước tốt.
    Nước ngầm vùng đồi núi của lưu vực sông Mã đều là nước nhạt loại hình chủ yếu là HCO3-Ca-Mg hoặc HCO3-SO4-Ca-Mg.
    6. Lưu vực sông Cả , F=17730 km2
    Nước lỗ hổng trong các thành tạo Đệ tứ không phân chia Q phân bố khá rộng rãi ở các thung lũng sông và thung lũng trước núi, tạo lên các dải đồng bằng và thung lũng khá rộng. Thành phần đất đá gồm cát, bột, cuội sỏi sét đa nguồn gốc. Chiều dày đất đá chứa nước từ 2-15 m. Trữ lượng tự nhiên ít nhưng trữ lượng cuốn theo lớn. M ng = 5-10 l/s.km2
    Tầng chứa nước QIV. phân bố rộng rãi ở đồng bằng Nghệ Tĩnh và ven biển trừ dải giáp núi. Đất đá chứa nước là  cát trung, cát mịn lẫn sạn sỏi. Chiều dày nước chứa nước 6-14 m. Nước chứa trong cát của QIV chủ yếu là nước nhạt, thành phần HCO3-Cl-Na-Ca. Các dải  ven biển bị mặn do ảnh hưởng của nước biển. Modun dòng ngầm từ 5-10 l/s.km2.
    Tâng chứa nước QI-III phân bố rộng khắp đồng bằng và lộ trên mặt đất ở dải sát núi, còn phần lớn đều bị phủ bởi các thành tạo QIV. Giữa hai tầng này có lớp sét bột, bùn sét ngăn cách. Thành phần đất đá chứa nước chủ yếu là cát các loại lẫn cuội sỏi có chiều dày tăng dần về phía sông Cả và phía biển, từ 5-15 m tới 40 m hoặc hơn và chia thành nhiều lớp. Mức độ chứa nước tốt, tỷ lưu lượng các lỗ khoan phần lớn các trường hợp đều lớn hơn 1 l/s.m, có khi tới 17 l/s.m . Hầu như toàn bộ tầng chứa nước QI-III đều bị mặn từ 1-3 g/l, chỉ có các diện nhỏ ở phía Bắc và phía Tây đồng bằng với diện tích khoảng 20km2 là chứa nước nhạt, thành phần Cl - HCO3 - Na - Ca.                                        
    Các tầng chứa nước - karst gồm đá vôi T2a; C-P và sa diệp thạch xen kẹp đá vôi tuổi O-D1. Đá vôi T2a phân bố tương đối hạn chế thành các dải hẹp riêng biệt ở phía Bắc lưu vực sông diện tích không đáng kể. Các thành tạo C-P phân bố tương đối rộng rãi ở thượng lưu sông Hiếu, trung và thượng lưu sông Cả. Các thành tạo O-D1 phân bố chủ yếu ở thượng lưu sông Ngàn Sâu, trung lưu sông Ngàn Sâu và sông Cả ở phía bên trái. Đây là các thành tạo chứa nước tốt, không có số liệu về chiều sâu phát triển Karst nhưng các lỗ khoan sâu ở Thạch Khê tới độ sâu 120 m vẫn gặp hốc Karst. Modun dòng ngầm từ 3-10 l/s.km2, có hiện tượng nước ngầm thoát ra biển qua các thành tạo cêrbonat.
    Các tầng chứa nước khe nứt trong các thành tạo lục nguyên gồm sa diệp thạch, cát, bột, sét kết J1-2; T1-2;D2-3; O-D1; C3-O1 phân bố rộng rãi ở ven rìa Tây và giữa đồng bằng Nghệ Tĩnh, giữa lưu vực của sông Hiếu và sông Cả (J1-2;T1-2);các đá có tuổi già hơn phân bố ở phía Tây của hệ thống sông. Các thành tạo lục nguyên chứa nước kém, môđun dòng ngầm ở phía Bắc lưu vực phổ biến 2-5 l/s.km2, ở phía Nam 5-10 l/s.km2.
    Các thành tạo magma gồm bazan  QII-IV ở lưu vực sông Hiếu, các khối granit có diện tích lớn ở phía Tây sông Ngàn Sâu và nhiều khối granit cổ trung bình và nhỏ dải rác khắp lưu vực nhưng tập trung ở nhiều phía Bắc và phía Nam lưu vực. Đới phong hoá có chiều dày 20-30 m và các đới khe nứt kiến tạo là các thể chứa nước chính trong loại đá này. Modun dòng chảy ngầm 2-10 l/s.km2.
    Phần miền núi đồi của lưu vực sông nước ngầm đều nhạt, nhưng ở ven biển hoặc ở dưới diện tích bị mặn của phức hệ chứa nước  và QII-III nước trong đá gốc cũng hay bị mặn  hoặc lợ tới 9-10 g/l.
    Trên phạm vi lưu vực sông Cả đã phát hiện một vài nguồn nước khoáng, điển hình là mạch Bảng Khạng (Tây Nghệ An) ,Sơn Kim.
    7. Lưu vực các sông ven biển Bắc Trung Bộ, F = 16560 km2  (Bình Trị Thiên)    
       Các sông Bắc Trung Bộ gồm các sông nhỏ, ngắn: sông Gianh, Kiến Giang, Bến Hải, Quảng Trị, Hương..
    Các tầng chứa nước lỗ hổng  chiếm khoảng 25% diện tích lưu vực các sông này tạo nên dải đồng bằng ở ven biển đôi chỗ lẫn sâu vào núi đồi.
    Tầngchứa nước QVI gồm các thành tạo nguồn gốc sông lũ phân bố ở dải sát núi, ven sông, chiều dày mỏng tạo nên độ dốc từ đất liền ra phía biển. Các thành tạo sông lũ chứa nước có chiều dày  mỏng( thường không quá10 m), các nguồn gốc biển - gió có chiều dày lớn tới 20-30 m, thậm chí tới 52 m ở vùng Hồ Xá. Đây là tầng giàu nước trunh bình, các lỗ khoan đều có tỷ lưu lượng nhỏ hơn 0,2 l/s.m. Nhiều mạch lộ nước xuất hiện ở dải trũng ở giữa đồng bằng từ phía cồn cát về phía lục địa. Lưu lượng các mạch nước phổ biến không quá 0,5-1 l/s, có mạch tới 18,6 l/s.
    Nước trong các thành tạo QIV chủ yếu là nước nhạt, trừ phần ven cửa sông bị mặn do ảnh hưởng của triều, nước trong QIV  cũng bị mặn. Thành phần nước nhạt Cl- HCO3- Na - Ca
    Tầng chứa nước QII-III phân bố trên toàn bộ diện tích các đồng bằng thường được ngăn cách với các thành tạo QIV bởi lớp bột sét thấm nước kém. Tuy nhiên lớp bột sét phân bố không liên tục nên nước của tầng chứa nước QI-III và QIV có quan hệ thủy lực với nhau. Thành phần đất đá chứa nước là các loại cát cuội, sỏi  chiều dày từ vài ba mét ở phần giáp núi tới 40-50 m ở ven biển. Tầng chứa nước QII-III thuộc loại giàu nước, tỷ lưu lượng các lỗ khoan >0,5 l/s.m. Nước trong các phức hệ QII-III chủ yếu là nước nhạt, ở ven biển và phía Nam đồng bằng Huế, những nơi lớp bột sét ngăn cách giữa hai phức hệ chứa nước có chiều dày ổn định trên diện rộng, nước trong phức hệ QII-III  thường bị mặn, độ tổng khoáng hoá của nước  tới trên 3 g/l.
    Tầng chứa nước N: dưới các thành tạo Đệ tứ thường gặp các thành tạo Neogen ở các lỗ khoan sâu 40-50 m. Thành tạo Neogen chỉ có mặt ở các vùng cao như Hồ Xá và những nơi lộ nhiều gốc. Thành phần đất đá chứa nước là cát mịn, trung, chiều dày 30-50 m. Nhiều lỗ khoan có chiều sâu tới 120 m vẫn chưa khoan hết các thành tạo Neogen, nhưng cũng có nhiều lỗ khoan đều gặp nước lợ và mặn, ở khu vực sông Kiến Giang có nhiều lỗ khoan gặp nước nhạt, lưu lượng các lỗ khoan dao động trong phạm vi lớn.Modun dòng ngầm của phần đồng bằng ven biển khoảng 2-10 l/s.km2.
    Các tầng chứa nước khe nứt-karst  đá vôi C-P phân bố chủ yếu ở phía Bắc sông Kiến Giang trở ra. Diện phân bố rộng, chiếm phần lớn diện tích trung lưu sông Kiến Giang và phía Tây sông Gianh ở vùng giáp biên giới. Ngoài ra còn gặp các thành tạo  C-P ở ven rìa đồng bằng sông Hương với diện tích nhỏ. Các thành tạo C-P khá giàu nước, các lỗ khoan có tỷ lưu lượng > 0,5 l/s.m, ở đồng bằng sông Hương nước bị mặn.
    Các tầng chứa nước khe nứt gồm các đá lục nguyên, cát kết, bột kết, sét kết của P1-2 (bờ trái sông Gianh) D1,2,3 (bờ phải sông Gianh, bờ trái phía Nam sông Kiến Giang, trung lưu sông Cam Lộ, dải rộng phía Tây sát đồng bằng sông Hương) và O3-S (chiếm diện tích lớn dọc biên giới từ Tây Đồng Hới đến Tây Đà Nẵng). Các thành tạo này chứa nước chủ yếu trong đới phong hoá có chiều dày khá mỏng 10-20 m và các đới dập vỡ kiến tạo. Các lỗ khoan đều nghèo nước. Modun dòng ngầm 2-5 l/s.km2
    Các khối granit phân bố thành các khối lớn riêng biệt ở phía Tây Bắc Đồng Hới, thượng lưu sông Quảng Trị và sông Hương đều thuộc loại chứa nước kém. Môđun dòng ngầm 2-5 l/s.km2.
    Các phức hệ bazan  gồm bazan  QII-IV và  N2-QI  phân bố chủ yếu ở khu vực sông Bến Hải và sông Cam Lộ. Các thành tạo bazan ở đây bị phong hóa thành sét, bazan chưa phong hóa chứa nước không đều. Modun dòng ngầm khoảng 2-5 l/s.km2.
    Nước khe nứt trong đá cứng nứt nẻ đa phần đều nhạt hoặc siêu nhạt, loại hình hóa học của nước: HCO3-Cl-Na hoặc Cl-HCO3-Na.
           Trên các lưu vực sông vùng Bình Trị Thiên đã phát hiện nhiều nguồn nước khoáng. Trên điển hình có mạch nước Lò Vôi có nhiệt độ đạt tới 105oC và là mạch nước có nhiệt độ cao nhất nước ta. Trên vùng đồng bằng Huế cũng đã có hai lỗ khoan gặp nước khoáng. Các mạch nước khoáng cũng đã được đưa vào khai thác sử dụng .
    8. Lưu vực sông Thu Bồn- Vu Gia, F = 10350 km2
    Các tầng chứa nước lỗ hổng
    Tầng chứa nước QIV phân bố ở nửa phía Đông của đồng bằng sông Thu Bồn (mQIV) và dọc theo dòng sông vào sâu trong đất liền (aQIV). Thành phần đất đá chứa nước là cát các loại và cát lẫn sạn. Chiều dày lớp chứa nước khoáng 20 m, mức độ chứa nước thuộc loại trung bình, chủ yếu là nước nhạt, dải ven biển và dọc sông nước bị lợ và mặn.
    Tầng chứa nước QII-III phân bố trên diện tích toàn bộ đồng bằng Điện Bàn và lộ ra ở phần phía tây của đồng bằng. Đất đá chứa nước là cát các loại lẫn cuội sỏi tảng, có độ giàu nước từ giàu đến trung bình. Nước chứa trong trầm tích QII-III là nước nhạt, phần ven biển bị lợ hoặc mặn.
    Các tầng chứa nước khe nứt  gồm cát kết, bột kết, sét kết có tuổi J1-2, T1,2,3; và sa diệp thạch C3-O1 phân bố khá rộng rãi ở phần trung tâm lưu vực (J1-2, T1,2,3) và rìa bao quanh lưu vực C3-O1 tạo nên một vùng trũng dạng dòng máng tương đối cân xứng. Mặc dù mực nước của các thành tạo lục nguyên này thuộc loại kém nhưng do có lớp vỏ phong hoá dày và nhiều đới dập vỡ kiến tạo nên modun dòng chảy ngầm của các đất đá này thuộc loại lớn hơn 10-15 l/s.km2. Tất cả nước trong các khe nứt của các đá cứng nứt nẻ đều nhạt.
    Trong lưu vực sông Thu Bồn đã phát hiện nhiều nguồn nước khoáng trong đó có nguồn đã được khai thác để đóng chai (nguồn Phú Ninh)
    9. Lưu vực các sông ven biển Trung Trung Bộ , F = 14144 km2 Gồm các phân bố dọc bờ biển từ ranh giới với sông Thu Bồn đến ranh giới phía Bắc lưu vực sông Ba. Các sông ở khu vực này phần lớn là ngắn và dốc, hầu hết đều bắt nguồn từ Đông Trường Sơn. Các sông tương đối lớn là sông Tam Kỳ, Trà Bồng, Trà Khúc, sông Vệ, Hà Thanh... các sông chỉ tạo nên các đồng bằng hẹp ven biển.
    Các tầng chứa nước lỗ hổng
    Các thành tạo bở rời gồm cát, cuội, sỏi,bột sét tuổi Đệ tứ có nguồn gốc đa dạng: sông, sông lũ, gió, biển tạo nên các mảnh đồng bằng giống như các đồng bằng trước núi và giữa núi nên chúng tôi gộp lại thành một phức hệ. Các đồng bằng này có bề mặt địa hình khá cao, chiều dày trầm tích không quá 20 m nên khả năng thoát nước rất tốt. Mức độ chứa nước thuộc loại trung bình. Modun dòng ngầm 5-10 l/s.km2. Nước ngầm chủ yếu là nước nhạt, loại hình hóa học là Cl-Na chiếm ưu thế. Ở ven biển các cồn cát thường bị mặn ở dưới, nước nhạt nổi trên nước mặncó thể khai thác làm nguồn cấp nước cho ăn uống sinh hoạt.
    Các tầng chứa nước khe nứt các thành tạo lục nguyên là sa diệp thạch tuổi C1-O phân bố rất hạn chế rải rác ở phía bắc từ Quảng Ngãi . Chiều dày của lớp phong hóa khá lớn tới 20-30 m. Môđun dòng ngầm: 10-15 l/s.km2.
    Tầng  chứa nước khe nứt trong các thành tạo bazan phân bố trên diện tích rộng ở phần thượng lưu sông Trà Khúc và sông Hà Giao, ở phần chia nước với sông Ba phía Bắc Tuy Hoà. Bazan ở đây chủ yếu là bazan cổ N2-QI với lớp đất đỏ dày 20-30 m, modun dòng ngầm 6-10 l/s.km2. Nước trong bazan thường là nước nhạt, phân bố ở độ sâu lớn, thường trên 10-20 m.
    Phần lớn diện tích còn lại của cáclưu vực sông miền Trung Trung Bộ là đá magma, granit,r iolit và các biến thể của chúng, các đá gơnai cổ (PR). Diện tích của các loại đá này chiếm gần 70% diện tích các lưu vực. Các đá gơnai chứa nước kém, modun dòng ngầm 3-5 l/s.km2, các đá còn lại granit, riolit có vỏ phong hóa dày hơn nên môđun dòng ngầm đạt tới 5-7 l/s.km2.
    Các nguồn nước khoáng phong phú. Nhiều nguồn đã được khai thác sử dụng đóng chai nước giải khát (như nguồn Thạch Bích), an chữa bệnh và thí nghiệm khai thác nhiệt (mạch Hội Vân)
    10. Lưu vực sông Ba , F = 13800 km2
    Lưu vực sông Ba kéo dài theo hướng TB-ĐN từ Kontum qua Pleicu và đổ ra biển ở Tuy Hoà. Ở thượng lưu, lưu vực sông Ba phổ biến các thành tạo bazan, các thành tạo magma xâm nhập, dọc thung lũng sông là các thành tạo Đệ Tứ và Neogen. Phần hạ lưu tạo nên đồng bằng Tuy Hoà, đồng bằng lớn nhất miền Trung.
    *Các tầng chứa nước lỗ hổng  gồm tầng chứa nước QIV phân bố trên toàn bộ diện tích đồng bằng Tuy Hoà và các dải hẹp ở trung tâm sông Ba. Phức hệ chứa nước QII-III chỉ có mặt ở đồng bằng Tuy Hoà, đồng bằng Ajun Pa.
    Tầng chứa nước Neogen có mặt ở một số nơi thuộc trung lưu sông Ba và một số nơi ở đáy đồng bằng Tuy Hoà. Các thành tạo Đệ Tứ chứa nước tốt nhưng chiều dày mỏng không quá 20 m, các thành tạo Neogen có khối lượng lớn nhưng chứa nước kém. Modun dòng ngầm của các thành tạo bở rời phổ biến ở mức 2-3 l/s.km2 ở trung lưu và 3-5 l/s.km2 ở vùng đồng bằng. Nước nhạt là chủ yếu, ven biển bị mặn.
    *các tầng chứa nước khe nứt trong các thành tạo bột và sét kết tuổi J1-2 phân bố ở trung lưu và bờ phải sông Ba. Các thành tạo này chứa nước kém, lớp phong hóa mỏng. Môđun dòng ngầm khoảng 2-3 l/s.km2.
    *Tầng chắ nước khe nứt trong các thành tạo magma  gồm granit và riolit phân bố thàmh các dải hai phía sông Ba, phần thượng lưu các sông nhánh. Chúng thuộc loại chứa nước kém, lớp phong hóa mỏng  modun dòng ngầm 1-3 l/s.km2.
    *Tầng chứa nước khe nứt trong các thành tạo bazan  gồm bazan cổ và trẻ phân bố chủ yếu ở thượng lưu sông A-Jun. Chiều dày lớp phong hóa 20-30 modun dòng ngầm đạt 5-7 l/s.km2.
    Trừ phần ven biển, nước ngầm trong các thành tạo bở rời bị nhiễm mặn, phần lớn diện tích còn lại chứa nước nhạt, thành phần HCO3-Mg-Ca; Cl-HCO3-Na.
    Trên lưu vực sông Ba đã phát hiện nhiều nguồn nước khoáng ở Đắc Tố( Kon Tum ), ở Phú Sen (Phú Yên). Nhiều nguồn hiện nay đã đưa vào khai thác sử dụng.
    11. Lưu vực các sông ven biển Nam Trung Bộ , F = 16080 km2  
    Các lưu vực sông thuộc Nam Trung Bộ (từ Tuy Hoà đến Đồng Nai) nhìn chung nhỏ nằm trong phạm vi Đông Nam của các cao nguyên bazan-một vùng có lượng mưa nhỏ, mùa khô kéo dài. Các sông ngắn và dốc nên mùa khô các sông đều rất ít nước. Các sông chính là: sông Cái (Nha Trang), sông Cái (Phan Rang), sông Cái (Phan Thiết), sông Rinh, sông Luỹ,vv
    Phần hạ lưu các sông là các đồng bằng hẹp và cồn cát đỏ nằm sát biển.
    Phần thượng lưu và trung lưu các sông là các thành tạo magma xâm nhập, các thành tạo biến chất và phun trào Bazan; các thành tạo lục nguyên kém phổ biến.
    Vùng ven biển Ninh Thuận - Bình Thuận đã có một số phương án tìm kiếm nước dưới đất như: phương ná Lương Sơn-Bắc Bình, phương án Phan Thiết, các kết quả điều tra địa chất thủy văn cho thấy:
    *Các thành tạo bở rời gồm các thành tạo sông, sông biển có tuổi Đệ tứ và Neogen có thành phần thạch học là cát các loại và cuội sỏi, chiều dày đạt tới hàng trăm mét nhưng phân bố ở độ cao lớn, đá gốc nằm rất nông so với mực xâm thực nên lượng nước chứa trong chúng không nhiều và dễ bị thoát hết vào sông. Đây là vùng có lượng mưa nhỏ, độ bốc hơi lớn nên modun dòng ngầm thuộc loại nhỏ nhất nước: 1-2 l/s.km2. Nước trong các thành tạo này chủ yếu là nước nhạt, thành phần HCO3-Na, Cl-HCO3-Na.
    Khu vực giàu nước nhất trong các thành tạo bở rời là phần cực Nam của vùng này-khu vực Bà Rịa-Vũng Tàu, chủ yếu là các thành tạo Neogen có chiều dày 100-120 m chứa nước nhạt nhưng ven biển và dọc sông bị mặn. Các thành tạo Neogen khu vực này khá giàu nước.
    *Các tầng chứa nước khe nứt của các thành tạo cát,  bột và sét kết tuổi J1-2 và J3-K phân bố thành các khối rải rác đều khắp trên toàn vùng. Đây là loại đất đá chứa nước kém, modun dòng ngầm 1-3 l/s,km2.
    *Tầng chứa nước khe nứt các thành tạo bazan  phân bố ở phần Nam của vùng, do có lớp phong hoá dày tới 20-30 m nên môđun dòng ngầm lớn hơn: 3-5 l/s.km2
    *tầng chứa nước khe nứt các thành tạo xâm nhập và phun trào cổ   chủ yếu gồm riolit và granit cũng chứa nước kém. Môđun dòng ngầm đạt 2-5 l/s.km2 .
    Trong các lưu vực sông Nam Trung Bộ đã phát hiện nhiều nguồn nước khoáng. Trong đó có nhiều nguồn Vĩnh Hảo từ năm 1928 và đã nổi tiếng trên thế giới nhiều nguồn khác cũng đã được điều tra đánh giá đưa vào khai thác trong những năm gần đây như nguồn Đảnh Thạnh. Hầu hết các nguồn nước khoáng ở Nam Trung Bộ đều là nước Bicarbonat - Natri  có tác dụng tốt để chữa các bệnh đường ruột.
    12. Lưu vực sông Đồng Nai , F=37400km2  
    Các lưu vực sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai bao gồm: sông Đồng Nai, La Ngà, sông Bé, sông Sài Gòn.
    - Lưu vực sông Đồng Nai chủ yều phân bố các đơn vị chứa nước khe nứt vỉa thành tạo lục nguyên J1-2, J3-K ; các tầng chứa nước khe nứt- lỗ hổng các thành tạo Bazan Neogen- Đệ tứ. Các thành tạo bở rời phân bố ở phần hạ lưu. Nhìn chung các tầng chứa nước khe nứt có mức độ chứa nước kém đến trung bình tuy nhiên do địa hình dốc và mưa nhiều nên modun dòng ngầm khá cao thường đạt trị số trên 10 l/s, nước nhạt, độ tổng khoáng hoá nhỏ (M<0,5 g/l nhiều mẫu M<0,1 g/l) ; nước thuộc loại Bicacbonat -Clorua. Phần hạ lưu chủ yếu là nước lỗ hổng trong các thành tạo bở rời với mức độ chứa nước trung bình đến rất tốt, song tổng khoáng hoá và thành phần hoá học của nước biển đổi phức tạp, nước mặn xen nước nhạt.Trong lưu vực sông Đồng nai thì các tầng chứa nước khe nứt trong các thành tạo bazan vùng  Bảo lộc- Đức Trọng đáng chú ý
    Các thành tạo bazan vùng Bảo Lộc -Đức Trọng phân bố rất rộng rãi ở khu vực Bảo Lộc, Đức Trọng, Xuân Lộc ..., bao gồm cả bazan trẻ (QII_IVvà bazan cổ (N2-QI ), với bề dày trên 100 m, các bazan này phủ không chỉnh hợp nên các đá gốc có tuổi khác nhau như Jura, Neogen hoặc các magma xâm nhập thuộc hệ tầng Đơn Dương, Định Quán trong đới hoạt hoá Mezozoi Đà Lạt.
    Các tạo thành bazan lỗ hổng , bọt xốp, đặc xít xen kẹp nhau không theo quy luật rõ ràng. Trong các tập bazan có xen kẽ nhiều tập sản phẩm phong hoá của bazan. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng biến đổi mực nứơc rất mạnh trong các lỗ khoan vùng Tân Rai -Bảo Lộc, Đức Trọng...
    Nhìn chung mức độ chứa nước của các thành tạo bazan vùng này kém hơn vùng bazan ở Đăk Lăk  (~80% số mạch nước có lưu lượng nằm trong thang chứa nước kém) và hơn 10% số mạch nước có lưu lượng nằm trong thang giầu nước. Loại hình hoá học của nước chủ yếu là bicarbonat  - clorua vời M <0,1 g/l đối với nước trong các mạch nước và nước bicarbonat với M= 0,20 - 0,3g/l đối với nước trong các lỗ khoan.
    Các kết quả nghiên cứu ĐCTV ở vùng Tân Rai - Bảo Lộc xác nhận có các hoạt động tân kiến tạo đến các thành tạo bazan làm tăng khả năng lưu thông  của nước trong các khối bazan dọc theo các đứt gãy kiến tạo nằm dưới lớp phủ bazan.
    Trên vùng bazan này hiện đang khai thác nước khá nhiều. Ở vùng Xuân Lộc đã có hàng trăm lỗ khoan khai thác nước phục vụ ăn uống và tưới cà phê. Việc khai thác không quản lý này đã gây hao hụt mực nước nghiêm trọng.
    Trong vùng đã có một số mỏ nước đã được tìm kiếm, các kết quả xác định rằng ngay các sát biển vẫn tồn tại nước nhạt trên cơ sở đó người ta thiết kế xây dụng nhà máy nước với công  xuất  13000 m3/ng, nguồn cấp là nước ngầm
    Trong lưu vực sông Đồng Nai cũng đã phát hiện nhiều nguồn nước khoáng, điển hình là nguồn Bình Châu có lưu lượng lớn và nhiệt độ cao có thể khai thác phục vụ nhiều mục đích.
    - Lưu vực sông La Ngà phổ biến các đơn vị chứa nước J1-2, N2-Q1 Q2-4,J3-K. Các thành tạo bở rời phân bố  hạn chế trong các thung lũng sông nhỏ. Mức độ chứa nước từ trung bình đến tốt. Modun dòng ngầm đạt từ 7-10 l/s.km2. Nước có tổng khoáng hoá nhỏ ( M <0,5 g/l ) phổ biền là Bicacbonat, Bicacbonat- Clorua.
    - Lưu vực sông Bé rất phổ biến các thành tạo bở rời Đệ Tứ và Neogen chứa nước tốt đến rất tốt; các thành tạo lục nguyên  J1-2, các thành tạo Bazan Neogen-Đệ tứ có mức độ chứa nước trung bình. Modun dòng ngầm 5-7 l/s.km2. Nước ngầm trong lưu vực sông Bé có độ tổng khoáng hoá nhỏ ( < 0,5 g/l). Loại hình hoá học phổ biến là Bicarbonat. Đặc biệt nước ngầm trên lưu vực sông Bé gần hạ lưu có pH thấp, thường từ 5-6,5.
    Trên lưu vực sông Bé hiện đang có một số công trình khai thác nước cho thị xã, Thủ Dầu Một, với lượng nước khoáng vài nghìn khối ngày và khai thác nước phục vụ tưới cây tại vùng Bến Cát.
    Lưu vực sông Sài Gòn phổ biến các thành tạo chứa nước lỗ hổng Đệ tứ, Neogen với mức độ chứa nước rất tốt, mực nước ngầm gần mặt đất (3-7 m) nước có tổng khoáng hoá nhỏ đáp ứng yêu cầu cấp nước. Nước thuộc loại Bicacbonat. Modun dòng ngầm biến đổi trong khoảng 5-10 l/s.km2. Nước axit yếu (PH 5- 6,6). Các tài liệu tìm kiếm thăm dò nước dưới đất trong vùng xác nhận mối quan hệ thủy lực trực tiếp giữa nước dưới đất với nước sông Sài Gòn. Nên nếu khai thác nước lớn nước mặn từ sông Sài Gòn có thể xâm nhập vào tầng chứa nước gây nguy cơ nhiễm mặn. Thực tế đã xảy ra nước mặn xâm nhập vào các công trình khai thác và phải hủy bỏ hàng loạt. Tuy nhiên hiện nay nhân dân ngoại thành vẫn đang khai thác nước ngầm không chỉ dùng cho ăn uống sinh hoạt mà còn để tưới cây .  Hiện nay ở khu vực hạ lưu sông Sài gòn quanh thành phố Hồ Chí Minh đang khai thac một lượng nươc ngầm khá lớn. Theo tài liệu thống kê đến năm 2003 thì ngoài 4 nhà máy nước khai thác tổng số 74.000m3/ng còn có đến 185.535 lỗ khoan khai lể các loại với lượng nước khai thác đến 786.400m3/ng
    Nhìn chung lưu vực sông Đồng Nai nước ngầm có chất lượng tốt và khá phong phú. Chỉ phần hạ lưu nhiều nơi nước ngầm bị nhiễm mặn không đáp ứng yêu cầu cấp nước cho ăn uống. Điều đáng lưu ý nước ngầm vùng hạ lưu các sông thuộc hệ thống sông Đồng Nai có pH thấp, cần phải có các nghiên cứu xác định quy luật phân bố nguyên nhân hình thành để sử dụng nước tốt hơn.
    13. Lưu vực sông Xê Xan , F = 11450 km2      
    - Các thành tạo Đệ tứ và N chiếm diện tích không lớn ở dải Đăctô Pleicu và phía Tây Đăctô (không có số liệu về tính chứa nước và chiều dày của chúng)
    - Các thành tạo bazan chiếm diện tích lớn ở bờ trái sông Xêxan và một ít ở thượng nguồn có mặt cả N2-QI và QII-IV. Chiều dày các lớp chứa nước đạt khoảng 60 m gồm nhiều lớp chứa nước và không chứa nước xen kẽ nhau. Chiều dày lớp phủ đạt 15-20 m. Modun dòng ngầm đạt 5-6 l/s.km2. Nước nhạt.
    - Các thành tạo lục nguyên phân bố rất hạn chế với diện tích không đáng kể sát biên giới. Đất đá có tuổi C-O1 thành phần là sa diệp thạch.
    - Các thành tạo biến chất PR1 gồm gơnai  amfiolit phân bố rất rộng rãi ở thượng nguồn sông. Nước ngầm chứa trong đới phong hoá dày 15-30 m và các đới khe nứt kiến tạo nhỏ. Môđun dòng ngầm: 5-7 l/s.km2.
    - Các thành tạo magma phân bố rộng rãi ở thượng nguồn và phía bên phải sông, phía bên trái sông cũng có mặt nhưng ít hơn, chủ yếu là granit. Nước ngầm trong đới phong hoá dày 15-20 m  và các đới khe nứt kiến tạo nhỏ. Môđun dòng ngầm 3-5 l/s.km2.
    14. Lưu vực sông Srepoc , F = 30100 km2    
    - Các thành tạo Đệ Tứ phân bố ở khu vực thị trấn Bản Đôn và các hố trũng ở thượng nguồn phía Đông Nam Bộ, Buôn Mê Thuột tạo nên các lòng chảo thu nước. (không có số liệu về tính chứa nước và chiều dày của chúng).
    - Các thành tạo bazan phân bố chủ yếu ở thượng nguồn sông tạo thành hình vòng cung ôm lấy lưu vực sông chủ yếu là bazan cổ N2-QI, bazan trẻ chỉ có mặt ở khu vực Buôn Mê Thuột. Chiều dày của lớp bazan đạt tới 200-300 m trong đó chiều dày bazan lỗ hổng và nứt nẻ đạt tới 100 m, chiều dày lớp phủ phổ biến khoảng 30 m.
    Chúng tạo nên các cao nguyên Pleicu - Buôn Mê Thuột, Đaknông. Bao gồm cả bazan cổ (N1-QI) đều rất phổ biến và với diện tích hàng nghìn km2. Các bazan này phủ không khớp đều nên các thành tạo Jura và Triat thuộc vùng kiến tạo Srepok. Bề dày các thành tạo bazan ở đây rất lớn, tại Pleicu đã khoan trên 300m chưa hết bazan, các tài liệu địa vật lý cho sự báo bề dày lớp bazan đạt trên 400 m.
    Các bazan ở đây tạo nên các tập bazan lỗ hổng xen kẹp bazan đặc xít, không theo quy luật nào. Trong các tập bazan còn gặp không ít các đới phong hoá (có lỗ khoan gặp đến 10 tập phong hoá ), điều đó chứng tỏ các phun trào bazan sau một đợt phun lại có đợt ngừng nghỉ nên đá bị phong hoá. Lớp vỏ phong hoá trên cùng khá dày 10-20-30 m, đặc biệt có nơi đến 50 m.
    Trong các thành tạo bazan phát hiện nhiều mạch nước có lưu lưọng từ 0,01 đến ~100l/s.
    Tỷ lệ các mạch nước và các lỗ khoan được xếp vào thang giàu dưới nước 27,8%, thang nghèo nước đạt tới 58%.
    Các kết quả khoan cho thấy tỷ lưu lượng các lỗ khoan biến đổi từ 0,01l/s.m đến 51/s.m. Tỷ lệ các lỗ khoan có tỷ lưu lượng nhỏ (<0.1 l/s.m) và >0,5l/s.m chiếm khá nhiều. Các kết quả nghiên cứu cũng xác nhận trong các bazan trẻ thì ở khối bazan ở Buôn Mê Thuột có mức độ chứa nước tốt hơn khối bazan ở Pleicu.
    Mực nước ngầm biến đổi từ 5-10m,có nơi đến 30m. Nước trong các thành tạo bazan có độ tổng khoáng nhỏ. Ở các mạch nước phần lớn nước có M<0,1g/l, loại hình hỗn hợp bicarbonat - clorua  hoặc clorua - bicarbonat. Trong các lỗ khoan nước có thường từ 0,2-0,4g/l, loại hình hoá học phổ biến là bicarbonat.

    - Các thành tạo lục nguyên phân bố rộng rãi ở phần trung lưu các nhánh sông của sông Srepok và phần thượng lưu của các nhánh sông phía Nam. Các thành tạo sét, bột kết tuổi J1-2 chứa nước kém. Môđun dòng ngầm: 2-4 l/s.km2.
    - Các thành tạo macma xâm nhập gồm granit và anđêzit phân bố chủ yếu ở thượng lưu các nhánh sông ở trung lưu giữa lưu vực sông Ia Sup và Đăc Krông ở phía Bắc Bản Đôn. Nước ngầm chứa trong đới phong hoá và các đới đứt gãy môđun dòng ngầm 3-5 l/s.km2.
    15. Phần hạ lưu sông Mê Công , F = 39330 km2
    Hạ lưu hệ thống sông Mêkông chính là đồng bằng sông Cửu Long
    1. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Đệ Tứ không phân chia(Q).
    Các thành tạo chứa nước Đệ Tứ không phân chia(Q) bao gồm sản phẩm phong hoá và tích tụ do sông, lũ, tàn tích phân bố quanh rìa chân các ngọn núi cao(  An Giangvà Kiên Giang) với diện tích khoảng 1500km2. Thành phần đất đá gồm cát, dăm sạn, vài nơi có lớp laterit cứng chắc, cát lẫn cao lanh. tại khu vực Bảy Núi - An Giang trầm tích phát triển trên quy mô lớn bao quanh các chân núi với bề dày khoảng 5-10m. Các giếng đào có mực nước sâu từ 1,5 đến 9,6m thường gặp hơn cả là 2 - 5m. Loại hình hoá học nước thường gặp Cl - HCO3 - Na. Tổng độ khoáng hoá 0,1 - 0,5 g/l. Nước có mặt thoáng tự do. Về mùa khô có giếng bị cạn, mùa mưa mực nước tăng lên, có thể tràn qua miệng giếng. Mực nước dao động theo mùa nên việc khai thác nước gặp nhiều khó khăn. Tuy vậy nhạt có thể sử dụng ăn uống sinh hoạt với quy mô nhỏ, phân tán, chất lượng đảm bảo yêu cầu nước sạch nông thôn.
    2. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích nhiều nguồn gốc Holoxen (QIV):
    Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Holoxen phân bố trên toàn đồng bằng bao gồm:
    -Các trầm tích Holoxen sớm(QIV1-2)phân bố rộng rãi trên diện tích đồng bằng với thành phần: bột sét xen các ổ cát mịn và mùn thực vậtkhả năng chứa nước kém.
    -Các trầm tích biển, phù sa ven bờ(QIV2-3) gồm bột, sét, cát mịn đến trung, nổi cao tạo thành giồng cát, khả năng chứa nước tốt hơn thành tạo kể trên.
    -Các trầm tích(QIV3) tích tụ trong thung lũng sông, bề mặt địa hình trũng, phát triển đến ngày nay, gồm bột pha sét, cát mịn. Các thành tạo chứa nước Holoxen sớm phân bố rải rác khắp đồng bằng ở dạng thấu kính, lớp cát mỏng nằm xen kẽ giữa hoặc dưới lớp cát cách nước, các giồng cát cổ nằm trên lớp sét cách nước. Mức độ chứa nước kém, hầu hết bị cạn về mùa khô, chỉ có các giếng đào trên các cù lao sông Đồng Nai có mực nước 4,8 - 5,8m, lưu lượng 0,07 - 0,23l/svà các giồng cát có nguồn bổ cấp và có nước thường xuyên. tổng độ khoáng hóa < 0,1 g/l. Độ pH 5-7. Loại hình hoá học nước Cl - Na - Ca, Cl - HCO3 - Ca hoặc HCO3 - Cl - Na - Ca.
    Các Trầm tích Holoxen phân bố rộng rãi trên quy mô lớn ở phía nam và tây nam thành phố Hồ Chí Minh đến bờ biển phía Tây, diện tích khoảng 40.000km2. Bề dày tăng dần từ đông sang tây và bắc xuống nam, từ 2 - 5m ở ven rìa đến 20 và 25m ở bắc sông Tiền và tây nam sông Hậu, sâu nhất ở trũng giữa sông Tiền và sông Hậu, bề dày 48m(LK 210) đến 76m(LK 209). Mạng lưới sông, kênh, rạch phân cắt và đào sâu vào các trầm tích Holoxen, trong đó các sông lớn như sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Đồng Nai có độ sâu từ 0 - 40m.
    Các thành tạo chứa nước Holoxen muộn phân bố dọc các sông lớn với chất lượng như sau:
    -Nước nhạt(M < 1,0g/l) phân bố ở Tam Nông, Cao Lãnh, Tân Châu, Chợ Mới, một ít ở Vĩnh Long, ven rìa phần phía bắc và đông bắc Long An.
    -Nước lợ( M từ 1 - 3g/l) phân bố ở Đồng Tháp Mười, Tiền Giang, tứ giác Long Xuyên, bắc Trà Vinh, bắc Bến Tre.
    -Nước mặn( M > 3g/l) có diện tích phần phía nam, đông nam, tây nam vùng ven biển từ Cần Giờđến Hà Tiên. Các điểm khảo sát trong tầng chứa nước này chủ yếu là các lỗ khoan nông, chiều sâu từ 10 - 30m. Mực nước tĩnh 0,5 - 3m. Lưu lượng thường rất nhỏ.
    Các trầm tích thành tạo trong thời kỳ biển thoái(QIV2-3) đặc trưng là các giồng cát chứa nước nhạt. Các giồng cát có diện tích rộng, phát triển ở Trà Vinh, Mỏ Cày, Ba Tri, Trà Cú, Long Toàn,.... Thành phần đất đá chứa nước là cát hạt mịn đến hạt trung màu vàng nhạt, bề dày 5 - 10m.
    Theo kết quả khảo sát và phân tích cho thấy tổng độ khoáng hoá thường gặp nhỏ hơn 1,0 g/l chiếm khoảng 50%, độ pH 7,0 - 8,5 chiếm 90%. Loại hình hoá học nước: Cl - Na chiếm 50%.
    3. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistoxen giữa - muộn(QII-III):
    Tầng chứa nước Pleistoxen giữa - muộn bao gồm các thành tạo trầm tích Pleistoxen muộn hệ tầng Củ Chi(QIII2), hệ tầng Mộc Hóa và hệ tầng Long Mỹ, các trầm tích Pleistoxen giữa - muộn bao gồm hệ tầng Long Toàn, hệ tầng Rạch Giá, hệ tầng Thuỷ Đông và hệ tầng Thủ Đức.
    Tầng chứa nước( xem hình I.7-2) phân bố rộng rãi, lộ ra ở Đông Nai, Sông Bé, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, phía bắc và đông tỉnh Long An, ở Tri Tôn( An Giang). Diện tích còn lại các trầm tích này bị phủ bởi các thành tạo trẻ hơn. Chiều sâu mái tầng chứa nước thay đổi từ 20 - 40m ở vùng ven rìa; từ 50 - 60m ở trung tâm và sâu nhất từ 70 - 80m ở Bình Minh - Vĩnh Long. Chiều dày lớp cách nước ở Đông Nam Bộ từ 8 - 20m, ở Trung Nam Bộ 3 - 10m, ở Tây Nam Bộ 20 - 35m.
    Chiều sâu đáy tầng chứa nước rất khác nhau: từ 10 - 20m ở các vùng lộ Tây Ninh, Sông Bé, Đồng Nai, Mộc Hoá, Kiên Lương; từ 60 - 80m ở thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp Mười, Rạch Giá; từ 80 - 120m ở Tân An, Mỹ Tho, Cao Lãnh, Sóc Trăng, Bạc Liêu; từ 140 - 180m ở Bến Tre, Cửu Long.
    Trên diện tích rộng lớn của vùng địa chất thuỷ văn Đông Nam Bộ, tầng chứa nước QII-III phân bố trên địa hình 5 - 20m bị phân cắt bởi các hệ thống sông, suối và mương xói. Đặc biệt hệ thống mương nổi từ đập Dầu Tiếng chảy qua Tây Ninh và thành phố Hồ Chí Minh có ảnh hưởng rất lớn đên động thái mực nước ngầm và nguồn. Các điểm lộ nước xuất hiện bên sườn hoặc thung lũng sông, suối, mương xói; chúng thường có dạng chảy xuống hoặc nước chảy lên do có áp lực yếu, cục bộ. Nước áp lực quan sát được ở Bến Sỏi, Tân Biên, Trảng Bàng( Tây Ninh), Chơn Thành, Bến Cát, Tân Uyên( Sông Bé). Nước chảy ra từ các lớp hạt thô rời rạc nằm dưới lớp sét màu nâu vàng bị phong hoá laterit mạnh. Lưu lượng các nguồn lộ rất khác nhau: từ thấm rỉ         ( 0,01lit/s) đến 15lit/s, lưu lượng nhỏ hơn 0,5lit/s chiếm ưu thế. Tuỳ thuộc vào địa hình, sự phân bố của tầng chứa nước có chiều sâu từ vài met đến 15m. Mực nước tĩnh thường gặp nhỏ hơn 5m. Một số vùng giếng có mực nước sâu hơn 10m( Thủ Đức, Thuận An, Bến Cát). Lưu lượng các giếng đào đo được khoảng 0,1 - 0,5l/s. Các lỗ khoan nghiên cứu địa chất thủy văn ở Tây Ninh, Sông Bé, thành phố Hồ Chí Minh xác định chiều sâu đáy tầng chứa nước từ 30 - 80m. Theo kết quả thí nghiệm, mực nước tĩnh từ 0,6 - 2m, tỷ lưu lượng từ 0,37 - 1,03lit/s.m.
    ở phụ vùng địa chất thuỷ văn Đồng Tháp Mười các trầm tích chứa nước QII-III lộ ra trên diện hẹp ở Mộc Hoá, Hồng Ngự, giáp biên giới Campuchia. Phần phía nam bị phủ bởi các thành tạo trẻ hơn. Chiều sâu mái tầng chứa nước 30 - 60m nghiêng dần về phía nam, bề dày từ 60 - 90m. Kết quả thí nghiệm cho thấy tỷ lưu lượng từ 0,1 - 2,7 lit/s.m. Mực nước tĩnh từ 0,4 - 3,1m.
    Tại phụ vùng địa chất thuỷ văn Gò Công - Cần Giờ, các trầm tích QII-III bị các trầm tích Q¬IV phủ lên, độ sâu từ 15 - 30m. Bề dày tầng chứa nước từ 20 - 60m. Các lỗ khoan nghiên cứu cho thấy nước bị mặn hoàn toàn. Lỗ khoan 9614(Gò Công) có tỷ lưu lượng 0,19lit/s.m. Mực nước tĩnh 1,6m. Tổng độ khoáng hóa 13,72g/l. Độ pH  4,2. Độ cứng 121,20mge/l. Loại nước Cl - Na.
    Tại phụ vùng địa chất thuỷ văn Long Toàn, cac trầm tích chứa nước tầng QII-III nằm ở độ sâu từ 60 - 80m, bề dày từ 70 - 130m. Nhiều lỗ khoan khai thác nước của nhân dân cho tỷ lưu lượng lớn hơn 0,5lit/s.m. Mực nước tĩnh từ +0,5m đến 2,35m. Nước tự chảy ở Long Toàn - Trà Cú. Tổng độ khoáng hóa từ 0,16 - 2,3g/l. Độ pH phổ biến trong khoảng 7 - 9. Độ cứng phổ biến trong khoảng 3 - 6 mge/l. Loại hình hoá học nước thường gặp HCO3 - Na - Mg hoặc HCO3 - Na - Ca.
    Với đặc điểm thuỷ hpá tương tự như trên, tại vùng địa chất thuỷ văn Gò Quao - Sóc Trăng, các trầm tích Pleistoxen giữa - muộn phân bố ở độ sâu 20m ở Rạch Giá, nghiêng thoải về phía đông và nam đến 40m và 50m ở Sóc Trăng, Bạc Liêu. Bề dày tầng chứa nước từ 30 - 60m ở Rạch Giá; 100 -120m ở Tân Hiệp - Ô Môn và 84 - 87m ở Bạc Liêu - Sóc Trăng. Tỷ lưu lượng từ 0,20 - 4,24lit/s.m, thường gặp lớn hơn 0,5lit/s.m. Mực nước tĩnh từ 0,2 - 1,55m. Tổng khoáng hoá nhỏ hơn 1,0g/l. Nước có tổng khoáng hóa 1 - 1,5g/l gặp ở một số điểm tạo thành các thấu kính nược lợ hẹp như Tân Hiệp, Giồng Riềng, Ngã Năm, Bạc Liêu. Nước có độ pH 7 - 9. Độ cứng của nước từ 1,5 - 6 mge/l. Loại hình hoá học nước chủ yếu HCO¬3 - Na - Mg và chuyển sang HCO¬3 - Cl - Na. Tầng chứa nước có chất lượng tốt, điều kiên khai thác dễ dàng.
    Tại phụ vùng địa chất thuỷ văn Cà Mau - Năm Căn, chiều sâu mái, đáy của tầng chứa nước từ 40m đến 100m, nghiêng dần về phía tây. Trầm tích chứa là cát hạt mịn chiếm ưu thế. Bề dày tầng chứa nước từ  52,90m ở Gia Rai đến 32m ở Cà Mau và 18m ở Năm Căn. Các lỗ khoan nghiên cứu cho thấy tầng chứa nước phong phú. Mực nước tĩnh ở khu vực Cà Mau và phía bắc từ 1,0 - 3,5m. Diện tích còn lại về phía tây và nam, mực nước cao hơn mặt đất từ 0,1 -0,5m.
    ở phụ vùng địa chất thuỷ văn Càn Đăng - Tân Châu, các trầm tích chứa nước QII-III  phân bố ở độ sâu từ 10 - 30m ở phần trũng và lộ ra dải hẹp ven rìa Bảy Núi kéo dài từ Tịnh Biên đến Tri Tôn. Các giếng đào sâu từ 4,2đến 5,5m trong cát hạt mịn lẫn bột màu nâu vàng, mực nước tĩnh từ 3,50 - 5,60m. Lưu lượng từ 0,05 - 0,14 l/s. Độ pH 7,4 - 8,3. Tổng độ khoáng hoá từ 0,13 - 0,48g/l. Loại hình hoá học nước HCO3-Na-Ca.Các trầm tích QII-III phân bố trên diện tích rộng, bề dày tầng chứa nước 28-43m. Thí nghiệm cho tháy tỷ lưu lượng từ 0,3 - 0,54lit/s.m. Mực nước tĩnh 3,70-0,75m. Tổng độ khoáng hoá từ 1,18-3,11 g/l, thường gặp trong khoảng 1-2 g/l. Độ pH thường gặp 7-9. Độ cứng lớn hơn 9 mge/l. Loại hình hoá học nước thưòng gặp Cl-Na.
    Trên phụ vùng địa chất thuỷ văn Thạnh Hưng và Vũng Liêm-Bến Tre, chiều sâu mái tầng chứa nước ở độ sâu từ 40 - 80m, sâu nhất ở Chợ Mới, Vĩnh Long đén 80m và nông dần về phía đông,40m ở Ba Tri - Bến Tre. Bề dày tầng chứa nước từ 73 - 135m. Thành phàn đá chứa nước chủ yếu là cát hạt mịn đến thô, rời rạc. Tỷ lưu lượng lỗ khoan từ 0,4 - 4,2 l/s.m. Mực nước tĩnh từ 1,4 -2,6m. Tổng độ khoáng hoá từ 1,4 -15,28 g/l. Độ pH 7,6 - 8,5. Độ cứng lớ hơn 9 mge/l.Loại hình hoá học nước thường gặp Cl - Na. ở Bến Tre có nhiều lỗ khoan sâu 80 - 100m khai thác sử dụng nước với độ tổng khóang hóa từ 2 - 5 g/l, loại hình hóa học nước Cl - Mg, Ca.
    ở phụ vùng địa chất thuỷ văn Hòn Đất - Kiên Lương tầng chứa nứơc QII-III bị phủ bơi các trầm tích trẻ hơn nằm ở độ sâu 5 -15m, nghiêng dần từ bắc đến nam. Chiều sâu đáy từ 20 - 60m. Bề dày tầng chứa nước từ 20 -40m. Các lỗ khoan nghiên cứu quanh khu vực Kiên Lương, lấy nước trong lớp cát mịn lẫn bột, ở trên và dưới là cát trung, thô. Tỷ lưu lượng 0,9 - 3.5 l/s.m. Mực nước tĩnh 0,4 - 1,5m. Nước nhạt chỉ gặp ở vài lỗ khoan quanh thị trấn Kiên Lương (M<1,0g/l). Đa số là nước lợ và mặn. Tổng độ khoáng hoá thường gặp từ 3,0 - 10,0 g/l. Độ pH da số là 7 - 9. Nước rát cứng, giá trị độ cứng >9 mge/l. Loại hình hóa học nước thường gặp Cl - Na. Nước tàng trữ trong tầng chứa nước bị nhiễm mặn, các lỗ khoan khai thác nước chỉ dùng cho sinh hoạt, ít khi dùng cho ăn uống. Khu vực phía bắc (Vĩnh Điều, Phú Mỹ) nước có chất lượng tốt hơn, hàm lượng clo từ 500 - 700mg/l, được xây dựng giếng khai thác nhỏ, độ sâu từ 40 đến 60m.
    Tầng chứa nước nghiên cứu lộ ra ở Đông Nam Bộ và Campuchia là nơi trực tiếp đón nhận nguồn bổ cấp từ sông, suối, hồ, mương, kênh. Tại lỗ khoan 206( Thạnh Hưng) quan trắc năm 1989 - 1995 cho thấy mực nước dao động theo mùa, chu kỳ 1 năm. Mực nước thấp nhất vào cuối tháng năm và cao nhất vào tháng 10. Giá trị chênh lệch giứa cực đại và cực tiểu 0,7 - 0,9m. ở miền Tây Nam Bộ tầng chứa nước QII-III  bị phủ toàn bộ bởi lớp sét mQIII và QIV1-2, tuy vậy trong tầng này có các vùng nước nhạt quan trọng như Long Toàn, Rạch Giá, Cần Thơ, Bạc Liêu, Cà Mau được hình thành từ nước thấm cổ( trước biển tiến Flandrian). ở vùng Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre... tầng chứa nước bị mặn, do ảnh hưởng của nước biển trong các thời kỳ biển tiến Holoxen và biển hiện đại.
    4. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Pleistoxen sớm (QI).
    Các trầm tích Pleistoxen sớm (QI) chỉ lộ ra thành vài dải hẹp ở sông Bé và Đồng Nai trên thềm bậc III, diện tích khoảng 600km2. Phần còn lại phía nam bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn. Diện phân bố của tầng (xem hình I.7-2) chứa nước khoảng 43.000 km2 . Tầng chứa nước có độ sâu mái từ 40 - 50m (Sài Gòn, Châu Đốc , Hà Tiên), từ 80 đến 100m (Rạch Giá , Long Xuyên, Long An), từ 150 - 200m(Bến Tre đến Minh Hải). Chiều dày lớp cách nước ở miền Đông Nam Bộ từ 20 - 50m, Trung Nam Bộ từ 3 đến 15 m, Tây Nam Bộ từ 5 đến 20 met.
    Bề dày tầng chứa nước biến đổi từ vùng lộ ở Sông Bé - Đồng Nai bề dày từ 5m đến 15m, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Bắc sông Tiền từ 20 m đến 60 m, vùng Trung Nam Bộ từ 40 m đến 90 m, vùng Tây Nam Bộ từ 80 m đến 100 m, vùng Hà Tiên từ 20 m đến 50 m. Các trầm tích Pleistoxen sớm có nguồn gốc sông, thàmh phần thạch học chủ yếu: cát, cuội, sỏi rời rạc( ở vùng lộ có lẫn sét caolin). Riêng ở mũi Cà Mau có nguồn gốc biển và ven bờ, hành phần hạt mịn chiếm ưu thế.
    ở vùng Đông Nam Bộ các thành tạo chứa nước lộ trên bề mặt sông Bé, trong Đồng Nai trong thung lũng, kéo dài từ Chơn Thành đến Hố Nai và Long Thành, trên địa hình cao 30 - 50 m thuộc thềm sông bậc III. Thành phần đất đá: cát thô, cuội, sỏi tròn cạnh, rời rạc, xen ít sét colin, bề dày 5 - 15 m. Nguồn lộ thường gặp dạng chảy xuống, xuất hiện trong thung lũng sông, bên sườn các mương xói, chảy thành dòng hoặc thấm rỉ. Giếng đào thường gặp mực nước sâu từ 1 - 3 m. Lưu lượng nguồn lộ thường gặp từ 0,5 đến 1,5 l/s. Mức độ giàu nước trên vùng lộ này ở mức trung bình và kém. Độ pH thường gặp 5 - 7( chiếm 73%). Độ cứng chủ yếu < 1,5 mge/l. Loại hình hoá học nước thường gặp: HCO3 - Cl - Na; Cl - HCO3 - Na, Ca và Cl - Na. Mực nước tĩnh sâu 1 - 3m ở phía nam. Nước tự chảy xuất hiện ở Bình Chánh, Bến Lức, Tân An, mực nước từ +0,14 m đến +0,65 m. Tỷ Lưu lượng lớn hơn 0,5 l/s.m. chất lượng nước: nước nhạt phân bố ở vùng thành phố Hồ Chí Minh kéo dài xuống đến Tân An, Mỹ Tho. Nước lợ phân bố ở vùng Tam Nông, Hồng Ngự. Nước mặn phân bố ở vùng ven biển Cần Giờ - Gò Công và Tân Thạnh - Cái Bè. Độ pH của nước thường gặp từ 5 - 7   (Củ Chi - Hóc Môn) và từ 7 - 9( Đồng Tháp Mười). Loại hình hoá học nước vùng Củ Chi - Hóc Môn thường gặp loại nước HCO3 - Na và HCO3 - Cl - Na..., vùng nước lợ và mặn Đồng Tháp Mười là Cl - Na. Tầng chứa nước này được khai thác ở nhiều nơi để phục vụ ăn uống, sinh hoạt như thành phố Hồ Chí Minh, Tân An, Bến Lức...với chất lượng tốt. Tại vùng địa chất thuỷ văn Trung Nam Bộ, tầng chứa nước Q1 phân bố ở độ sâu 150 - 200 m, sâu nhất ở Trà Vinh 303 m với bề dày chung 80 - 150 m. Mực nước tĩnh cao hơn mặt đất ở Long Toàn, các lỗ khoan còn lại thường gặp ở độ sâu từ 1 - 3 m. Tỷ lưu lượng ở hầu hết các điểm thí nghiệm đạt giá trị lớn hơn 0,5 l/sm.
    Nước nhạt phân bố diện hẹp ở Thạnh Hưng, Chợ Mới và Long Toàn, diện tích khoảng 900 km2. Loại hình hoá học nước HCO3 - Na. Nước lợ và mặn phân bố ở Vĩnh Long, Bến Tre, Bắc Trà Vinh. Các lỗ khoan gặp nước có tổng độ khoáng hóa cao như lỗ khoan 214(19,8 g/l), lỗ khoan 219(24,14 g/l). Độ pH hay gặp từ 7 - 9. Loại hình hoá học nước chủ yếu: Cl - Na. Tầng chứa nước(QI ở vùng Trung Nam Bộ triển vọng nhất là khoảng chợ mới và Long Toàn, Trà Cú nhưng hiện nay chưa được khai thác.
    Tại vùng Tây Nam Bộ tầng chứa nước Pleistoxen sớm phân bố ở độ sâu từ 80 - 100 m ở Long Xuyên, Châu Đốc, 130 - 150 m ở Hậu Giang, Minh Hải. Bề dầy tầng chứa nước từ 50 - 70 m ở phía Bắc đến 80 và 100 m ở phía Nam. Riêng lỗ khoan ở Cà Mau và Năm Căn, tầng chứa nước chủ yếu là trầm tích hạt mịn, tầng cát chứa từ 5 - 26 m. Các lỗ khoan ở Rạch Giá, Long Mỹ, Sóc Trăng được thí nghiệm, tỷ lưu lượng > 0,5 l/m.s. Các lỗ khoan có mức độ chứa nước kém như Gò Quao, Cái Tắc, Kế Sách, tỷ lưu lượng từ 0,1 đến 0,2 l/m.s.
    ở bán đảo Cà Mau các lỗ khoan khai thác nước trước đây như ở Cái Nước, Giá Rai, sông Ông Đốc có tỷ lưu lượng từ 0,33 đến 1,22 l/s.m. Mực nước tĩnh của tầng chứa nước hay gặp từ 0 đến 1 m. ở thị xã Cà Mau và lân cận, các  khoan nghiên cứu có mực nước tĩnh từ -1,5 đến -3,5 m, có thể khai thác làm hạ thấp mực nước. Trong khi đó phía Nam Cà Mau mực nước tĩnh ngang mặt đất. Tổng độ khoáng hoá từ 0,1 đến 1 g/l chiếm đa số. Nước lợ và mặn phân bố ở phía bắc(Cần Đăng-Tân Châu,Vị Thanh, Long Mỹ và mũi Cà Mau, bắc Rạch Giá) với tổng khoáng hoá 1,27 - 4,36 g/l. ở  khu Long Mỹ - Vị Thanh: 9,4 - 20,8 g/l. Độ pH thường hay gặp từ 7 đến 9. Độ cứng thường gặp từ 3 đến 6 mge/l và > 9 mge/l. Nước nhạt, loại hoá học nước thường gặp: HCO3 - Na - Mg hoặc Cl - HCO3 - Na. Nước lợ, mặn có loại hình: Cl - Na. Quan trắc mực nước ở lỗ khoan 205 - II và 213 - II của tầng chứa nước này cho thấy: Mực nước dao động theo thuỷ triều(quan hệ truyền áp) hàng ngày lên xuống 1 - 2 lần, biên độ dao động rất ít trong ngày. Trị số mực nước cao nhất vào tháng 10, thấp nhất vào tháng 6(chênh lệch giữa giá trị cao nhất và thấp nhất của hai lỗ khoan là 205 - II và 213 - II là từ 0,2 đến 0,4 m).
    ở vùng địa chất thuỷ văn Hà Tiên các trầm tích Pleistoxen sớm phân bố ở Hòn Đất, Kiên Lương, chiều sâu mái từ 40 đến 50 m, bề dày từ 10 đến 20 m. Các lỗ khoan có tỷ lưu lượng từ 0,2 đến 1,4 l/s.m. Mực nước tĩnh từ 0,5 đến 2,4 m. Tổng độ khoáng hoá từ 0,89 đến 7,05 g/l. Nước nhạt chỉ phân bố diện hẹp ở Kiên Lương, diện tích còn lại nước bị mặn. Tổng khoáng hoá cao nhất 7,05 g/l(lỗ khoan 829). Độ pH thường gặp từ 7 đến 9. Nước có độ cứng > 9 mge/l. Loại hình hoá học nước Cl - Na và Cl - Na - Mg.
    Tầng chứa nước nghiên cứu có mực nước tĩnh thường gặp từ 1 đến 3 m. Nước có áp lực tự chảy ở Tân An, Bến Lức và Long Toàn, ngoài ra một vài nguồn lộ ở Tân Uyên, Bến Cát có dạng chảy lên.
    ở Sông Bé, Đồng Nai nước mưa và nước sông suối cung cấp cho các thành tạo chứa nước ở Củ Chi, Hóc Môn và lân cận. ở Đồng Tháp Mười , Gò Công, Cần Giờ, Vũng Liêm, Bến Tre, nước mặn do chôn vùi của nước biển cổ và dần dần được rửa nhạt. Nước nhạt ở Long Toàn và vùng Tây Nam Bộ hình thành sau khi đã hình thành thực thể chứa chúng.
    Loại hình nước có tổng độ khoáng hoá nhỏ hơn 1,0 g/l là HCO3-Na,HCO3 - Cl - Na, Cl - HCO3-Na. Khi nước có tổng độ khoáng hoá lớn hơn 1,0 g/l loại hình Cl - Na.
    5.Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Plioxen(N2).
    Tầng chứa nước có trầm tích Plioxen(N2) bao gồm các thành tạo sau đây:
    ở Đông Nam Bộ gồm các thành tạo điệp Bà Miêu(N22 bm) và hệ tầng Nhà Bè(N21 nb), thành phần đất đá gồm cát, cuội, bột sét màu loang lổ, thực vật hoá than, nguồn gốc biển và vũng vịnh.
    ở Tây Nam Bộ gồm hệ tầng Năm Căn(N2 nc) và hệ tầng Cần Thơ(N2 ct), cát, cuội, sỏi, các lớp bột, sét và có mặt các sinh vật môi trường biển.
    Tầng chứa nước Plioxen(N2) lộ ra các dải hẹp ở Lộc Ninh, Bình Long, Bến Cát, Thuận An, Biên Hoà, Long  Thành, với diện tích khoảng 800 km2. Phần còn lại từ đông đến tây Nam Bộ, chúng chìm sâu, bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn. Vùng Hòn Đất, Kiên Lương và một phần ở Bắc Rạch Giá vắng mặt phức hệ chứa nước này., phần phía nam, tây nam nằm trên các thành tạo Mioxen muộn(N13).
    Độ sâu mái và đáy tầng chứa nước có hướng tăng dần từ đông, đông bắc đến đông nam và từ tây, tây bắc đến  nam - đông nam, đạt giá trị lớn nhất ở Mỏ Cày, Bến Tre. Độ dày lớp cách nước từ 10 đén 20 mét ở Đông Nam Bộ, ở Trung Nam Bộ là 15 đến 35 mét và ở Tây Nam Bộ là 5 đến 50 mét. Chiều dày tầng chứa nước ở Đông Nam Bộ khoảng 5-60 mét, ở trung Nam Bộ là 50-135 mét và ở Tây Nam Bộ là 20 đến 100 mét.
    Nước nhạt chiếm diện tích rộng gần nửa diện tích phân bố, bao gồm cả ba vùng Đông Nam Bộ, Trung Nam Bộ và Tây Nam Bộ. Những giếng khoan trong đề án vùng sâu vùng xa, đã phát hiện rất nhiều giếng khoan nước nhạt, đặc biệt là vùng Đồng Tháp Mười. Nước lợ phân bố ở thung lũng sông Sài Gòn, Gò Công, Bến Tre, Long Xuyên, Tân Châu và phiá nam Hậu Giang. Nước mặn ít(M<10,0g/l) phân bố ở cửa sông Đồng Nai và Long Xuyên, Cửu Long. Nước rất mặn(M>10,0g/l), phân bố ở Cần Giờ, Ba Tri, Sóc Trăng, Châu Đốc.
    Hàm lượng NO3- gặp khá phổ biến đến 3mge/l, lớn nhất ở lỗ khoan 214 là 7,44mg/l. Hàm lượng NO2- gặp từ vết đến 2mg/l. Hàm lượng NH4+ có từ 0 - 5mg/l.
    Qua kết quả quan chắc một số lỗ khoan ở  Tây Nam Bộ cho thấy: mực nước trong lỗ khoan ở Đông Nam Bộ giao động theo chu kỳ  một năm. Mực nước lớn nhất vào tháng 11 và thấp nhất vào tháng 4 đến tháng 7. Biên độ dao động 0,68m - 1,2m. Lỗ khoan tự ghi ở Trung Nam Bộ và Tây Nam Bộ(lỗ khoan 206-3 và lỗ khoan 205- 3) cho thấy mực nước cao nhất vào thang 10, thấp nhất tháng 4 đến tháng 7. Biên độ dao động từ 0,27 đến 0,74m. Mực nước chịu ảnh hưởng thuỷ triều do quan hệ truyền áp.
    Vùng lộ ở Đông Nam Bộ, tầng chứa nước tiếp nhận trực tiếp từ nước mưa. Nước mưa cung cấp thấm vào các trấm tích chứa nước và vận chuyển về phía nam. Vùng phủ ở Tây Nam Bộ nước nhạt được hình thành do nước mưa bổ cấp. Nước hiện đại có ảnh hưởng đến  miền thu nước Đông Nam Bộ, ít có tác động đối với các tầng chứa nước phân bố ở dưới sâu trong vùng trũng.
    Nước tự chảy trên mặt đất gặp ở Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Bến Tre, Hậu Giang, Minh Hải, Cửu Long, mực nước từ +0,6m đến +1,9m.
    ở ĐBSCL, các lỗ khoan có mực nước áp cao, tự chảy thường có nhiệt độ cao. Nhiệt độ đo được ở miệng lỗ khoan bơm thí nghiệm hoặc nước tự chảy có trị số thấp hơn bản thân nó trong tầng chứa nước. Tuy vậy, nhiệt độ nước ghi nhận được ở các lỗ khoan nghiên cứu  cho ta đánh giá triển vọng to lớn về nước nóng về ĐBSCL. Nước nóng thường có độ tổng khoáng hoá thấp, có thể sử dụng để ăn uống, tắm chữa bệnh...
    Đánh giá chung tầng chứa nước các trầm tích Plioxen (N2) phân bố diện tích rộng trên lãnh thổ ĐBSCL. Chúng lộ ra ở Sông Bé, Đồng Nai và chìm sâu về phía tây, tây nam, độ sâu từ 30-80m,  ở các vùng rìa và 200 - 250m ở vùng trũng trung tâm. Vùng có mức độ chứa nước phong phú đến trung bình chiếm 90% diện tích phân bố. Nước nhạt  chiếm  trên nửa diện tích của tầng nghiên cứu và thường ở độ sâu không lớn(<400m) khá thuận tiện cho việc xây dựng công trình khai thác nước. Nguồn cung cấp cho tầng chứa nước này là nước mưa, tiếp nhận ở các vùng lộ, thấm và vận động xuống tầng sâu. Nước hiện đại chỉ ảnh hưởng ở Đông Nam Bộ, ven vùng lộ làm trẻ hoá tuổi của nước, phần phía tây nam ít bị ảnh hưởng hơn do sự vận động rất chậm chạp. Mực nước dao động theo mùa và chịu ảnh hưởng thường xuyên của thuỷ triều. Nguồn nước nhạt có loại hình hoá học nước HCO3- Na hoặc HCO3-Cl-Na. Chúng được khai thác sử dụng phổ biến ở Đông Nam Bộ, Tiền Giang, Bến Tre, Cửu Long.... Mặc dù tầng chứa nước có một phần bị nhiễm mặn, nhưng tầng này không được xếp vào nước chôn vùi.
    6. Tầng chứa nước lỗ hổng các trầm tích Mioxen muộn(N13).
    Tầng chứa nước các trầm tích Mioxen muộn bao gồm các thành tạo hệ tầng Bình Trưng, hệ tầng Tiền Giang  và hệ tầng Phụng Hiệp. Các lỗ khoan địa chất thuỷ văn chỉ mới đạt phần trên của hệ tầng. Thành phần thạch học phần trên là các lớp sét, sét bột phong hoá laterit cứng chắc có kết vón hạt đậu, sét bột mầu nâu vàng, tím rắn chắc, không chứa nước. Chiều dầy tầng cách nước là 10-50m ở Đông Nam Bộ, 25-35m ở Trung Nam Bộ và 20-40m ở Tây Nam Bộ.
    Phần dưới là cát hạt mịn, màu xám xanh, lẫn sạn sỏi, có nơi gặp cuội xen kẹp các lớp sét bột bị ép nén chắc, chứa nước tốt. Các trầm tích chứa nước Mioxen muộn (N13) không lộ trên mặt đất, phân bố trong các vùng trũng của bồn chứa nước Cửu Long. Diện tích phân bố từ nam sông Sài Gòn đến Tân Hiệp, Gò Quao, chiếm 60% diện tích lãnh thổ Nam Bộ. Hai bên rìa của đồng bằng: Đồng Nai , Sông Bé và Hà Tiên, Châu Đốc, không có mặt các trầm tích Mioxen muộn.
    Các lỗ khoan ở Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh khoan hết bề dầy của phức hệ chứa nước, gặp đá móng Kainozoi như lỗ khoan: 220, 222, 23(Tây Ninh),lỗ khoan 808-s, 806-s, 812-s ( thành phố Hồ Chí Minh). Độ sâu mái tầng chứa nước từ 116-257m, bề dầy từ 25-70m.Độ sâu mái chìm dần về phía tây, tây nam, trung bình từ 350-450m, sâu nhất là lỗ khoan 218 (Bến Tre) sâu 465m.
    Hầu hết các lỗ khoan trên ĐBSCL chưa khoan hết bề dầy phức hệ chứa nước. Tại lỗ khoan Phụng Hiệp được xác định các trầm tích Mioxen muộn phân bố ở độ sâu 361-602m.
    Các lỗ khoan nghiên cứu được đặt ống lọc trong các lớp hạt mịn đến thô, rời rạc, lẫn sỏi, cuội. Trong số 15 lỗ khoan được nghiên cứu, tỷ lưu lượng thường gặp lớn hơn 0,5l/s.m.
    Nước nhạt phân bố diện tích rộng lớn kéo dài từ Đông Nam Bộ(xem hình 17) đến Tây Nam Bộ. Tổng khoáng hoá từ 0,18 đến 0,67 g/l ở Đông Nam Bộ và 0,47 đến 0,93 g/l ở Tây Nam Bộ.
    Nước lợ và mặn phân bố ở ven biển từ Gò Công đến Bến Tre, Cửu Long. Tổng khoáng hoá khá cao từ 1,57đến 24,35 g/l.
    Độ pH thường gặp từ 7,1 đến 8,4. Nước nhạt thường có độ cứng từ mềm đến rất mềm(< o,3mge/l). Nước lợ, mặn có độ cứng(> 9mge/l) là loại nước rất cứng.
    Loại hình hoá học nước: Nước nhạt trong các trầm tích chứa nước(N13) có ion bicacbonat chiếm ưu thế, hàm lượng clorua không lớn, các cation thường thay đổi giữa các ionNa, Mg và Ca.
    Loại hình hoá học nước thường gặp ở vùng Đông Nam Bộ: HCO3-Na; HCO3-Na(Ca2Mg), vùng Trung Nam Bộ: Cl Na, vùng Tây Nam Bộ: Cl-Na và HCO3- Cl- Na.
    Động thái mực nước: các lỗ khoan nghiên cứu và lấy nước ở tầng này đều có mực nước tĩnh cao hơn mặt đất, nước tự chảy gặp hầu hết ở các lỗ khoan nước nhạt đến lợ. Chiều cao mực nước áp lực đến(+2)m.
    Các lỗ khoan có tổng khoáng hoá cao như lỗ khoan 219, 214 có mực nước sâu dưới mặt đất từ 1,8 đến 4,3m. Quan trắc mực nước cho ta thấy chu kỳ dao động mực nước một năm có mực nước thấp nhất thường vào mùa khô và cao nhất vào mùa mưa. Sự dao động mực nước chênh lệch trong năm không lớn, trung bình 0,3mét.
    Tầng chứa nước các trầm tích Mioxen muộn(N13) bị các trầm tích trẻ phủ hoàn toàn, chúng phân bố trên diện tích rộng ở độ sâu 200 đến 400m. Nguồn cấp nước cho phức hệ có khả năng từ các nguồn sau đây: Tiếp nhận nước mưa từ các vùng lộ ra ở Đông Nam Bộ và ngoài biên giới thấm xuống và bổ xung cấp cho tầng chứa; Các hệ thống đứt gãy lớn, quy mô lớn hướng đông bắc tây nam, là môi trường thuận lợi cho nước vận động.
    Khu vực nước có tổng độ khoáng hoá cao, đều do sự nhiễm mặn của biển, không có các dấu hiệu đặc biệt về vi lượng, có ý nghĩa cho nuôi trồng thuỷ sản, điểm chú ý trong nước mặn này có hàm lượng brôm cao, ở Ba Chi(LK.219) và Long Hồ(LK-.214).
    Đánh giá chung tầng chứa nước các trầm tích Mioxen muộn(N13) là đối tượng chứa nước quan trọng trên lãnh thổ Nam Bộ với diện phân bố rộng, nằm ở độ sâu lớn, chứa nước phong phú, có khả năng cách ly được với các nguồn nhiễm mặn, trên bề mặt. Tầng ỷ chứa nước này là nguồn dự trữ nước nhạt, lâu dài sẽ được khai thác sử dụng theo yêu cầu. Nước có áp lực cao, tự chảy trên diện rộng, chất lượng nước tốt, đáp ứng cho yêu cầu sử dụng. Nhiệt độ nước cao(>370C) được xếp vào danh sách các điểm nước nóng, có triển vọng khai thác phục vụ nhiều mục đích trong công nghiệp và y tế.
    II.TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM LÃNH THỔ
    II.1.  TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM NHẠT ĐÃ ĐƯỢC ĐÀNH GIÁ.
    Nhằm mục đích phục vụ  phát triển kinh tế, nhà nước đã giao cho Cục Địa chất Việt Nam có trách nhiệm tìm kiếm, thăm dò các mỏ khoáng sản, trong đó có mỏ nước.Thực hiện trách nhiệm đó, trong vòng 30 năm  qua, các liên đoàn ĐCTV-ĐCCT thuộc cục Địa Chất đã tiến hành tìm kiếm, thăm dò đánh giá trữ lượng nước nhạt ở trên 100 mỏ khác nhau suốt từ Bắc đến Nam, từ ven biển đến miền núi xa xôi và cả các hải đảo.
    Việc tìm kiếm, thăm dò các mỏ nước vào thập kỷ 60-70 tập trung ở vùng khai thác than Quảng Ninh, khu công nghiệp Thái nguyên và vùng Hà Nội. Sau ngày Miền Nam giải phóng, các mỏ nước ở Tây nguyên, đặc biệt ở các tỉnh Gia Lai, Đaklak, Lâm Đồng đã được đầu tư đánh giá khá nhiều. Ở đồng bằng Sông Cửu Long , do điều kiện ĐCTV phức tạp, việc tìm kiếm thăm dò nước nhạt có khó khăn song cũng đã được thực hiện khá mạnh mẽ. Vùng Nam Trung Bộ, một vùng khô hạn, vấn đề “nước” trở thành vai trò trung tâm của phát triển kinh tế cũng đã được nhà nước đầu tư khá nhiều để tìm kiếm nước dưới đất.Kết quả tìm kiếm, thăm dò  các mỏ nước đã được thông qua  Hội đồng Xét duyệt trữ lượng khoáng sản nhà nước và các Hội Đồng xét duyệt của cục Địa Chất Việt Nam.
    Ngoài cơ quan chủ yếu có nhiệm vụ tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất là Cục Địa Chất Việt Nam, Liên hiệp các xí Nghiệp khảo sát xây dựng thuộc bộ Xây Dựng trong mấy chục năm qua cũng đã tiến hành điều tra đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở hàng chục khu mỏ khác nhau nhằm xác định khả năng sử dụng nước ngầm làm nguồn cung cấp nước cho các thị xã, thành phố.
    Các mỏ nước được đánh giá tập trung chủ yều vào các vùng Đông Bắc, Đồng Bằng Bắc Bộ, Tây Nguyên, Nam Bộ và ven biển Miền Trung . Các mỏ nước tập trung chủ yếu trong các loại đất đá bở rời hệ Thứ Tư, các thành tạo carbonat, các thành tạo bazan  Kainozoi và các thành tạo lục nguyên khác (bảng 3) .Như vậy có thể nói đến nay, trên toàn lãnh thổ đã xác định được trữ lượng cấp C2 đạt trên 8.620.000 m3/ng  
    Các mỏ nước ở Tây Bắc và ven biển Miền Trung còn chưa được đầu tư đánh giá nhiều. Đặc biệt là dải ven biển Miền Trung - nơi có rất nhiều thành phố, thị xã, cảng... đang có yêu cầu cần thiết về nước. Mặt khác ở vùng ven biển nơi chịu ảnh hưởng rất mạnh mẽ của các hoạt động kinh tế của con người, không chỉ diễn ra trên lãnh thổ đó mà còn có cả miền núi và ngoài biển đều tác động đến môi trường nói chung, môi trường nước nói riêng. Nên việc đánh giá, khai thác sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước dưới đất là nhiệm vụ rất cấp bách, nhưng rất tiếc trong mấy chục năm qua chưa được Nhà nước quan tâm thích đáng và đến nay vẫn chưa được quan tâm chú ý đúng với tầm vóc của nó
    II.2. CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG KHI ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM
    Nước ngầm chỉ được xem như một tài nguyên khi con người có thể sử dụng nó và có sự hiểu biết sâu sắc về nó.
    Tài nguyên nước ngầm có những đặc thù riêng mà những tài nguyên khoáng sản khác trong lòng đất không có đó là :
    1- Nước ngầm có thể di chuyển dễ dàng từ tầng này sang tầng khác, trong quá trình di chuyển nó tham gia vào nhiều quá trình hóa-lý-sinh học với môi trường làm biến đổi chính nó và môi trường.
    2- Nước ngầm là loại tài nguyên có khả năng phục hồi trữ lượng, nên nếu khai thác hợp lý nguồn tài nguyên sẽ được duy trì, còn nếu khai thác không hợp lý nguồn tài nguyên sẽ bị phá hoại nhanh chóng.
    3- Trữ lượng nước ngầm thường bao gồm hai phần :
    - Trữ lượng tĩnh- lượng nước được chứa, giữ trong đất đá :
    - Trữ lượng động- lượng nước vận động trong đất đá. Trữ lượng động không có khả năng tích luỹ nên nếu không đưa vào khai thác sử dụng sẽ tạo nên sự lãng phí tài nguyên.
    4- Nước ngầm còn là một trong những yếu tố tạo nên môi trường. Cùng với các yếu tố đất đá, sinh quyển, khí quyển, thủy quyển, chúng tạo nên một hệ thống cân bằng động. Bất cứ một sự tác động nào lên bất kỳ một yếu tố nào của môi trường đều dẫn đến sự xác lập mối cân bằng động mới.
    5- Các công trình khai thác nước ngầm đơn giản và khác hoàn toàn với các công trình khai thác khoáng sản rắn, vận chuyển nước cũng khác hoàn toàn với vận chuyển các khoáng sản rắn.
    6- Nếu sử dụng các phương thức thích hợp, có thể khai thác nước ngầm ở bất cứ đâu nhằm phục vụ đời sống và kinh tế.
    7- Nước ngầm có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau : ăn uống, sinh hoạt, tưới, công nghiệp, an dưỡng chữa bệnh, chăn nuôi, khai thác nhiệt, khai thác nguyên liệu.
    8- Nước ngầm có thể sử dụng trực tiếp (ăn uống, sinh hoạt) vừa có thể sử dụng như một tác nhân cho sản xuất (công nghiệp, nông nghiệp), vừa có thể sử dụng như một loại hàng hóa (nước đóng chai, nước xuất khẩu...).
    Từ các đặc tính đó, khi đánh giá tài nguyên nước ngầm phải có hiểu biết rộng và tuân thủ những nguyên tác chung.  
    1- Xác định chất lượng của nước ngầm ứng với mục đích sử dụng chúng. Chỉ có như vậy mới tận dụng hết các loại nước ngầm có thành phần khác nhau.
    2- Chỉ được xác định phần nước ngầm có thể khai thác, sử dụng (phần nước được coi là tài nguyên) không bị thay đổi về lượng và chất đáp ứng mục đích  sử dụng trong suốt thời gian sử dụng.
    3 - Chỉ được coi là tài nguyên phần nước ngầm khai thác không gây tác hại xấu đến môi trường nghĩa là đảm bảo phát triển lâu bền và kinh tế.
    4- Đánh giá tài nguyên phải mang tính khả thi, nghĩa là phải phù hợp với điều kiện kinh tế, kỹ thuật cho phép của đất nước hiện tại và tương lai khoảng 20-30 năm.
    Các nguyên tắc này đã được các nhà ĐCTV phản ánh trong các công trình của mình thể hiện ở các quan điểm đánh giá trữ lượng nước dưới đất ở cả hai khía cạnh lớn là :
    - Đánh giá chất lượng nước- Khi đánh giá chất lượng người ta phải xem các yếu tố hình thành và các thành phần vật chất trong nước, hàm lượng các thành phần trong nước so với tiêu chuẩn quy định, các khả năng biến đổi của nó và xử lý chúng để có thể thích hợp với mục đích sử dụng, đồng thời cũng phài chú ý đến bảo vệ tài nguyên đó trong quá trình khai thác.
    - Đánh giá trữ lượng nước -Khi đánh giá về lượng cũng có những vấn đề phải xem xét gồm : nguồn hình thành, bổ sung trữ lượng trong quá trình khai thác, khả năng vận động của nước trong đất đá, khả năng biến đổi chất và lượng trong quá trình khai thác cũng như khả năng biến dạng mặt đất khi khai thác. Một trong những yếu tố cần xem xét là khả năng kinh tế, kỹ thuật hiện tại. Ví dụ : trong các công thức tình toán trữ lượng thường gặp một đại lượng là trị số hạ thấp mực nước cho phép (Scf), nghĩa là mực nước được phép hạ thấp tối đa nhưng phải đảm bảo các mối cân bằng và phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật.
    Trong các tài liệu thông thường người ta thường đưa ra một chỉ tiêu chung chung là Scf nhỏ hơn 1/3 bề dày tầng chứa nước ngầm hoặc đạt 1/2 bề dày tầng chứa nước có áp.
    Tuy nhiên không thể máy móc lúc nào cũng sử dụng các chỉ tiêu này mặc dù trong các sách hướng dẫn đều cho rằng chỉ được phép đạt tới giá trị đó vào cuối thời kỳ khai thác, tức là sau, 25-27 năm, tương đương với 10.000 ngày.
    Các chỉ tiêu Scf =(0,3 - 0,5) H và 10.000 ngày mới chỉ xem sét trên quan điểm thuỷ động lực, tuy nhiên cũng có thể bao gồm cả quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền, cũng như về kinh tế.
    Có thể thấy chỉ số 10.000ngày (tương đương 25-27 năm) với khoảng thời gian dài như vậy, ngoài việc các công trình thu hồi vốn còn có ý nghĩa là : Trong khoảng thời gian đó, mực nước trong các công trình được phép hạ thấp tới 0,3 hoặc 0,5 bề dày tầng chứa nước. Với thời gian như vậy, tầng chứa nước mới chỉ cạn đi  1/2, sẽ đảm bảo cho việc biến dạng từ từ trên mặt đất và cân bằng sinh thái. Cũng khoảng thời gian đó, các tiến bộ khoa học kỹ thuật có đủ khả năng khắc phục những sự cố do khai thác nước gây ra.
    Tuy vậy trong các điều kiện cụ thể thì phải lựa chọn Scf cho thích hợp, không thể máy móc chọn đến cuối đợt khai thác đạt được trị số “ bằng”
    Ví dụ ở đồng bằng Nam Bộ, tầng chứa nước có ý nghĩa nằm sâu tới 300-400 m, nếu lấy Scf đạt đến 1./3 tầng chứa nước, nghĩa là mực nước hạ thấp trong lỗ khoan phải đạt khoảng 300 m. Điều này không cho phép cả về mặt kỹ thuật và mặt sinh thái, cũng như phát triển lâu bền. Vì kỹ thuật hiện nay để khai thác nước ổn định không thể đưa máy bơm xuống độ sâu lớn như vậy, mặt khác khi giảm mực nước tới 300 m sẽ làm giảm áp mạnh mẽ trong lòng đất dẫn đến sự sụt lún mặt đất mạnh mẽ. Mặc dù một số tác giả tình toán là mặt đất chỉ sụt lún khoảng 0,3-0,5 m.
    Kinh nghiệm ở nhiều nước cho thấy khi giảm mực nước xuồng 10-15m, mặt đất đã sụt xuống hàng chục, thậm chí đến 100 cm. Như vậy nếu mực nước giảm 300 m, mặt đất sẽ sụt hàng mét và chắc chắn tai hoạ sẽ xảy ra do nước biển tràn ra đồng bằng. Vì vậy khi đánh giá tiềm năng nước ngầm phải tuân thủ những quy tắc nêu trên và có thể nêu tổng quát là :
    - Nước ngầm chỉ được coi là tài nguyên khi con người có thể khai thác, sử dụng nó mang lại lợi ích kinh tế, đảm bảo cân bằng sinh thái và phát triển lâu bền.
    II.3. ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG NƯỚC.
    Nước dưới đất được sử dụng với nhiều mục đích khác nhau, mỗi mục đích có yêu cầu chất lượng nước khác nhau. Tuy nhiên trong thực tế hiện nay, nước dưới đất có ổn định, ít bị nhiễm hơn so với nước mặt, mặt khác nước ngầm không nhiều như nước mặt nên thường được sử dụng với mục đích cơ bản là phục vụ ăn uống và sinh hoạt đối với nước nhạt hoặc phục vụ an dưỡng, chữa bệnh, đôi khi khai thác nguồn năng lượng đối với nước khoáng, nước nóng. Còn sử dụng với mục đích khác như tưới... không nhiều và người ta vẫn chỉ dùng nước nhạt để tưới và chăn nuôi. Ở nước ta việc sử dụng nước có độ tổng khoáng hoá cao để tưới hoặc nưôi trồng thuỷ sản thì vẫn sử dụng nước mặt vì lợi ích kinh tế hơn so với việc dùng nước ngầm.
    Chất lượng nước sử dụng cho ăn uống sinh hoạt phải đảm bảo những chi tiêu quy định của Nhà Nước về  nhiều mặt như : tính chất vật lý (độ trong , màu, mùi...) thành phần hoá học trong đó quan tâm nhiều đến hàm lượng các nguyên tố độc hại : (A, Hg, Cu, Pb, Zn,); thành phần vi khẩn ; thành phần các vật chất hữu cơ ; thành phần một số hợp chất khác như chất nitơ, hàm lượng sắt ; độ pH và tổng độ muối.
    Trên cơ sở các kết quả phân tích thành phần hoá học của nước dưới đất, các tác giả chỉ đánh giá tổng quát chất lượng nước dưới đất trên lãnh thổ nước ta theo một số chỉ tiêu :
    - Các kết quả phân tích nước cho thấy độ pH của nước ngầm trên lãnh thổ nằm trong giới hạn 6,5-8,5: chỉ trừ một vài vùng mỏ đang khai thác như xung quanh các vùng mỏ than Phấn Mễ, Na Dương,một số mỏ than ở Quảng Ninh và một vài mỏ khác nước có hoạt tính axit mạnh, pH giảm xuống đến 4, có nơi thấp hơn. Hiện tượng này chủ yếu được gây ra bởi quá trình oxy hoá một số sunphua kim loại có trong đất đá của các mỏ và bãi thải.
    Hầu hết các kết quả phân tích nước thành  phần vi nguyên tố ở các mỏ nước khác nhau đều cho thấy hàm lượng của chúng: Cu, Pb, As, Hg, ... đều nhỏ hơn giới hạn quy định cho phép sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt. Tuy nhiên một số kết quả phân tích mới đây trong nước dưới đất ở một số nơi thuộc đồng bằng Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Giang, Nam Định)  cho thấy hàm lượng Hg trong nươc nhiều nơi vượt quá giới hạn quy định cho phép đối với nước ăn uống, sinh hoạt. Tuy nhiên về vấn đề này còn có nhiều điểm chưa rõ ràng, có thể do.
    - Phân tích chưa chuẩn, hiện nay việc phân tích các nguyên tố, đặc biệt là thuỷ ngân trong nước ở nước ta còn chưa tốt, cả về phương pháp, thiết bị và phân tích viên. Chúng ta chưa có một phòng thí nghiệm nào đủ tin cậy để làm chuẩn kiểm tra kết quả phân tích. Số mẫu gửi đi nước ngoài hạn chế do kinh phí và không đủ để làm chuẩn so sánh được.
    - Thứ hai là do có các nghiên cứu sâu chuyên về sự di chuyển của Hg trong điều kiện ở nước ta, chưa có thể kết luận được, đó là hàm lượng cao là do tự nhiên hay do tác dụng của các quá trình khác như nước ngầm, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu có chứa Hg.
    Các thành phần khác (Cu,Pb, Zn...) nhìn chung có hàm lượng nằm dưới hàm mức  chuẩn cho phép.
    Các thành phần hoá học khác hầu hết cũng đạt các chỉ tiêu quy định. Tuy nhiên ở một số lỗ khoan đang khai thác nước cũng gặp nước có hàm lượng các chất hữu cơ (NO2, NO3, NH4) cao hơn quy định song có  lẽ chủ yếu do các quá trình thứ sinh, tức là do sự xâm nhập của nước bẩn vào chứ không phải do bản thân nước ngầm.
    Các thành phần vi sinh vật: các kết quả phân tích ban đầu từ các lỗ khoan cho thấy thành phần các vi  khẩn  trong nước ngầm đều nhỏ hơn giới hạn cho phép. Riêng hàm lượng sắt và mangan trong nước của rất nhiều lỗ khoan, đặc biệt các lỗ khoan trong trầm tích bở rời Đệ Tứ ở các đồng bằng thường có hàm lượng vượt quá giới hạn quy định cho phép, nhiều khi vượt quá rất nhiều. Tuy nhiên bằng các phương pháp xử lý không khó khăn lắm người ta có thể làm giảm hàm lượng của chúng đến giới hạn quy định cho phép sử dụng nước cho ăn uống, sinh hoạt.
    Về tổng hàm lượng muối, hoặc tổng khoáng hóa của hước, giới hạn cho phép sử dụng là <=1,0 g/l. Trên lãnh thổ nước ta,trừ vùng ven biển và một số nơi còn hầu hết đều đạt yêu cầu sử dụng.
    Chất lượng nước ngầm của các lưu vực sông đã nêu trong phân I.
    TÀI NGUYÊN NƯỚC KHOÁNG

    Nước khoáng đã được nhân dân ta sử dụng từ thời cổ đại. Các ghi chép đầu tiên về nước khoáng nước ta đã được  nêu trong các tác phẩm nhà bác học Lê Quý Đôn. Từ sau khi Pháp xâm lược nước ta , nhiều nhà khoa học Pháp cũng đã tiến hành điều tra, nghiên cứu nhiều nguồn nước khoáng ở Đông Dương nói chung, Việt nam nói riêng. đến những năm 90 của thế kỷ trước chúng ta đã khảo sát trên 400 điểm nước được coi là nước khoáng. Năm 1998 các nhà ĐCTV Việt Nam đã lựa chọn 278 điểm đó để đưa vào cuốn danh bạ nước khoáng Việt Nam. Tuy nhiên từ năm 1998 đến nay trong quá trình điều tra ĐCTV các nhà ĐCTV cũng đã phát hiện thm trên một chục nguồn nước cũng đạt tiêu chuẩn quy định nước khoáng của Việt Nam. Trong báo cáo này chúng tôi thừa nhậ các quan niệm của các tác giả “ Danh bạ nước khoáng Việt nam “ về nước khoáng, phân loại nước khoáng, nước nóng và phân loại nước nóng. Một số loại nước tự nhiên đang được đóng chaăinh là nước sạch để uống trực tiếp mặc dù được ghi nhã là nươc khoáng song cũng không được đưa vào đây để đánh giá.
    Như vậy về số lượng thực tế nước ta đã có trên 300 nguồn song có tài liệu tin cậy mới chỉ có 278 nguồn.
    Về loại hình hoá học nước khoáng của ta khá đa dạng bao gồn chủ yếu các loại Clorua natri, Bicarbonát natri, Sunphát canxi; ngoài ra còn có cac loại hình hoá học hỗn hợp 2, 3 anion và 2, 3 cation.
    Về tổng khoáng hoá các nguồn nước khoáng ở Việt Nam biến đổi từ < 1g/l đến trên 30g/l trong đó phần lớn nhỏ hơn 10g/l
    Về nhiệt độ nước khoáng Việt Nam có nhiệt độ từ 28o đến 101o ( bảng 5)
    Về các loại nươc khoáng theo các thành phần đặc hiệu có các loại:
    Nước khoáng cacbonic có15 nguồn
    Nước khoáng Sulphur-hydrro có 6 nguồn
    Nước khóang silic có 95 nguồn
    Nước Fluor có 49 nguồn
    Nước khoáng Brom có 22 nguồn
    Nước khoáng Iod có 12 nguồn
    Nước khoáng Bor có 10 ngưồn
    Nước khoáng Arsen có 1 nguồn
    Nước khoáng sắt có 2 nguồn
    Nước khoáng hoá  ( nước có M > 1000 mg/l  không có các yếu tố đặc hiệu ) có 62 nguồn
    Nước nóng chỉ kể các nguồn có nhiệt độ trên 30o không có thành phần đặc hiệu có 98 nguồn.
    Về phân bố theo các đơn vị hành chính  ttrong 64 tỉnh thành cả nước chỉ có một vài tỉnh chưa phát hiện được nước khoáng như Hưng Yên, Hà Nam còn lại cáctỉnh đều có các nguồn nước khoáng .Nước khoáng gặp nhiều ở một số tỉnh : Tỉnh Lai Châu cũ, tỉnh Sơn La có đến 26 nguồn, tỉnh Lào Cai có 25 nguồn
    Các tỉnh Bình Thuận Kôn Tum  mỗi tỉnh có  14 nguồn.
    III.HIỆN TRẠNG KHAI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC NGẦM
    Trong vài chục năm gần đây, việc khai thác nước ngầm đã được quan tâm và trong khoảng 5 năm gần đây việc khai thác nước ngầm rất ồ ạt đến mức không ai quản lý, thống kê được. Mỗi năm có hàng trăm lỗ khoan khai thác riêng lẻ được đưa vào hoạt động và hàng nghìn lỗ khoan tay kiểu UNICEF được thực hiện.
    III.1. TÌNH HÌNH KHAI THÁC NƯỚC PHỤC VỤ CHO DÂN SINH, CÔNG NGHIỆP Ở CÁC ĐÔ THỊ
    Hiện nay trên lãnh thổ nước ta có gần 200 nhà máy và đơn vị cấp nước nhỏ: hàng trăm lỗ khoan khai thác nước phục vụ cho dân sinh công nghiệp thành phố, thị xã, thị trấn. Tổng công suất thiết kế gần 2.000.000 m3/ng, song mới chỉ khai thác được 60-70% công suất thiết kế. Lượng nước khai thác từ nước ngầm mới chỉ đạt 30-40% và càng ngày tỷ lệ khai thác nước ngầm càng tăng. Các nhà máy nước nhìn chung có công suất khai thác nhỏ. Hầu hết các nhà máy nước có công suất nhỏ hơn 10.000 m3/ng. Chỉ các nhà máy Hà Nội  có công suất 30.000 - 45.000 m3/ng và 60.000 m3/ng và  một vài nhà máy nước ở thành phố Hồ Chí Minh có công suất khai thác đến 30.000m3/ng,
    Số lượng các lỗ khoan trong các nhà máy nước và các cụm khai thác từ vài lỗ khoan đến 20 lỗ khoan (bảng 5.4, 5.3). Các công trình khai thác nước hầu hết là các lỗ khoan. Các lỗ khoan ở ĐBBB, Trung Bộ, Tây Nguyên... hầu hết sâu < 100 m. Chỉ các lỗ khoan ở ĐB sông Cửu Long mới có độ sâu lớn hơn (trên 300 m).
    Theo thống kê sơ bộ số lỗ khoan ở Hà Nội ở phần Nam sông Hồng là lớn hơn 200 lỗ khoan; Bắc sông Hồng là 40 lỗ khoan; ở TPHCM có 270 lỗ khoan sâu 20-200 m, tập trung ở tầng aQII-III; Minh Hải có 55 lỗ khoan sâu từ 90 180 m; Tây Ninh có 40 lỗ khoan sâu 45-75 m; sông Bé có 80 lỗ khoan; Tân Yên, Phú Giáo có 83 lỗ khoan; Long Thành - 34 lỗ khoan; Bà Rịa-44 lỗ khoan; Mỹ Tho có 28 lỗ khoan sâu 280-380 m.
    Lượng nước khai thác tập trung đến 80% từ các thành tạo bở rời, tiếp đến các thành tạo Bazan và cacbonat. Còn các thành tạo khác chỉ chiếm số lượng không lớn.
    Từ thực tế khai thác nước hiện nay cho thấy:
    1- Mặc dù đã khai thác khá nhiều song các thành phố, thị xã vẫn còn thiếu nuớc nghiêm trọng, tỷ lệ dân được cung cấp nước còn thấp. Các thành phố lớn cũng chỉ mới có 60-70% số dân cấp nước máy. Tỷ lệ dân sử dụng nước ở các nơi công cộng cao (30-40%), lượng nước thất thoát nhiều 30-50%. Tiêu chuẩn nước được cấp theo đầu người còn khá thấp. Nhiều thị xã còn chưa có hệ thống cấp nước tập trung. Chính vì vậy nên số lượng lỗ khoan khai thác lẻ quá nhiều, ngày càng tăng không kiểm soát nổi.
    2- Chất lượng nước dùng chưa đảm bảo. Hầu hết các nhà máy nước ở miền ĐNB đều đưa nước thẳng từ lỗ khoan vào mạng đường ống phân phối, không qua hệ thống xử lý, mặc dù độ pH của nước khá thấp (pH<6). Ngay cả ở TP Hồ Chí Minh, ở khu vực Tân Sơn Nhất - Gò Vấp các giếng có pH<5 vẫn còn được sử dụng.
    3- Tình trạng khai thác nước dưới đất không có điều tra ĐCTV rất phổ biến. Nhiều nơi đã có tài liệu thăm dò tỷ mỉ mà không được đưa vào thiết kế khai thác, ngược lại nhiều nơi chưa có tài liệu thăm dò, đánh giá trữ lượng lại xây dựng nhà máy nước. Điều này xảy ra ngay tại Hà Nội - nhà máy nước Mai Dịch được thiết kế xây dựng khi chưa có tài liệu thăm dò tỷ mỉ nên đang xây dựng phải thăm dò điều chỉnh, trong khi đó nhà máy nước Pháp Vân đã được duyệt thiết kế khai thác nhưng phải sau gần 10 năm mới được xây dựng...
    Việc thiếu các tài liệu điều tra ĐCTV và tính toán đầy đủ đã khai thác  và khai thác bừa bãi đã dẫn đến nhiều hiện tượng phải khắc phục hiệu quả, đó là:
    1- Biến đổi thành phàn hoá học của nước và gây nhiễm mặn, nhiễm bẩn phải bỏ không khai thác được.
    Trong quá trình khai thác một số địa điểm đã bị mặn như ở Hải Phòng thời Pháp có 12 lỗ khoan khai thác nước ngầm từ tầng chứa cuội sỏi. Khi mới khai thác một số lỗ khoan đã mặn, hàm lượng Cl đạt trên 5.773 mg/l, độ khoáng hoá đạt tới 12 g/l, các lỗ khoan khác dần dần bị mặn nên phải bỏ. Chỉ có những lỗ khoan khác ở Kiến An vào những năm 60 là có tổng khoáng hoá ít hơn cả (khoảng 1053 mg/l). Tại Hòn Gai khoan khai thác nước từ các thành tạo Triat, thời gian đầu khai thác 3 ca/ng, sau đó bị mặn phải giảm xuống 2 ca/ng, từ năm 1989 đến nay chỉ còn khai thác 1 ca/ng nhưng chất lượng  nước vẫn chưa ổn định.
    Trong quá trình khai thác nước cung cấp cho các thành phố, các kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy ở các lỗ khoan khai thác lẻ đã có các dấu hiệu nhiễm bẩn nitrit, nitrat,  amôn như ở Hà Nội, Nam Định, Việt Trì.
    ở Phan Rang có sáu giếng xây dựng từ năm 1934, được cải tạo năm 1968 nhưng cũng có ba giếng bị mặn nên phải ngừng hoạt động.
    ở Trà Vinh hiện có sáu giếng khai thác nước bị mặn.Tài liệu quan trắc cho thấy hàm lượng Cl trong của nước trong lỗ khoan từ 50-225 mg/l vào tháng ba năm 1931 đã tăng lên 800-1000 mg/l vào năm 1987.    
    Các hiện tượng tương tự còn quan sát thấy ở nhiều nơi như Vinh, Rạch Giá. Độ mặn ban đầu là 20-200 mg/l (6/1972) tăng lên đến 600-800 mg/l (3/1989). Điều tra 1.113  giếng khai thác công nghiệp có 366 giếng bị mặn.
    2- Hao hụt lưu lượng (suy giảm lưu lượng) trong các lỗ khoan khai thác.
    Hiện tượng suy giảm lưu lượng trong các lỗ khoan  khai thác thể hiện khá rõ ràng ở Hà Nội. Kết quả theo dõi biến đổi lưu lượng các nhà máy nước:
    ở Hạ Đình cho thấy từ 1974-1981 lưu lượng giảm 30-60%
    Nhà máy nước Tương Mai từ năm 1974-1982 lưu lượng giảm 36-54%
    Nhà máy nước Ngọc Hà từ năm 1974-1982 lưu lượng giảm 33-48%    
    Nhà máy nước Ngô Sỹ Liên từ năm 1974 -1982 lưu lượng giảm 11-21%
    Hay kết quả theo dõi các lỗ khoan ở nhiều nhà máy nước cho thấy khi lưu lượng khai thác thay đổi không đáng kể thì mực nước hạ thấp tăng lên khá lớn
    Tại khu vực Tân Sơn Nhất –Gò VấpTừ năm 1932 đã có 19 giếng ngừng hoạt động, chỉ còn 15 giếng hoạt động do nhiễm bẩn và suy thoái lượng
    Nhiều lỗ khoan ở Hà Nội hiện nay có mực nước rất thấp, mực nước sâu nhất là 30 m.
    Nguyên nhân của việc suy giảm chất, lượng, mực nước còn đang là vấn đề phức tạp.Tuy nhiên một hiện tượng dễ nhận thấy nhất là số lượng các lỗ khoan khai thác tăng lên rất nhiều song không được bố trí thích hợp và không quản lý được lưu lượng khai thác. Hiện tượng này đã tạo thành can nhiễu và hạ thấp mực nước ở các lỗ khoan đang khai thác.
    Sự suy giảm này còn có thể do các nguyên nhân ống bị lọc bị lấp nhét do hiện tượng ôxit sắt hoá, hoặc do hiện tượng sét hoá vách lỗ khoan.
    Quá trình khai thác còn làm giảm mực nước của tầng chứa nước ngầm nằm trên. ở vùng Từ Liêm nhiều giếng đào của nhân dân đã bị cạn do quá trình khai thác nước ở nhà máy nước Mai Dịch
    3. Quá trình khai thác nước có  khả năng dẫn đến sự sụt lún mặt đất
    Hiện tượng sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm đã xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới như Tokyo, Băng Cok, Mexico, Thượng Hải...
    Ở Hà Nội, năm 1985 lần đầu tiên Lê Huy Hoàng đã đề xuất khả năng sụt lún mặt đất do khai thác nước ngầm. Sau đó một số nhà ĐCTV đã tiến hành nghiên cứu. Tuy nhiên việc tổ chức quan trắc theo dõi mới chỉ là tiến hành trong vài năm gần đây. Kết quả theo dõi ban đầu cho thấy mặt đất ở nhiều nơi có sự hạ thấp Trong đó vị trí lún nhiều nhất ở Pháp Vân từ năm 1988 - 1991 đã lún 17,5 cm, còn các vị trí khác biến đổi từ 4 mm -7 mm.
    Khai thác nước có khả năng dẫn đến sụt lún mặt đất song cơ chế diễn ra thế nào là vấn đề hết sức phức tạp, hiện đang   được nghiên cứu.Theo dự tính các nhà ĐCTV thì mặt đất ở Hà Nội có thể hạ thấp đến 60 cm khi khai thác với vị trí hạ thấp mực nước ~ 25m toàn vùng. Mới đây Phạm Quý Nhân còn dự báo có thể hạ thấp đến 1,2m khi S đạt 25m ở tầng dưới và 7 m ở tầng trên
    Vũ Văn Nghi đã tính toán khả năng sụt lún mặt đất của ĐB Sông cửu Long. Khi khai thác nước dưới đất các thị xã với công suất 10.000-20.000 m3/ng, trị số hạ thấp mực nước ở trong khoảng 15-30 m, độ sụt lún mặt đất dự đoán từ 8 cm -21 cm.
    III.2 HIỆN TRẠNG CẤP NƯỚC NÔNG THÔN VIỆT NAM
    Dân tộc ta đã biết sử dụng nước ngầm để ăn uống, sinh hoạt từ ngàn xưa.  Vào thập kỷ 60, cuộc vận động sạch làng tốt ruộng đã có ý nghĩa quan trọng trong việc thay đổi nhận thức sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt. Tuy nhiên do các năm chiến tranh kéo dài, nhiều vấn đề cấp bách đặt ra, nên việc sử dụng nước sạch cho ăn uống sinh hoạt của nhân dân chưa đuợc chú ý.  Từ năm 1982, UNICEF tài trợ thí điểm dự án cấp nước nông thôn cho một số tỉnh, đến năm 1993, dự án cấp nước nông thôn đã được phát triển trên phạm vi toàn quốc
    - Tháng 4/1994, Bộ Lao Động Thương Binh Xã Hội đã chào mừng công trình cấp nước nông thôn thứ 100.000 hoàn thành.
    - Ngoài các công trình khai thác do quỹ UNICEF tài trợ còn rất nhiều các công trình do dân tự làm, đặc biệt ở các vùng quanh các thị xã, thị trấn, nơi có đời sống kinh tế khá. Các công trình cấp nước chủ yếu (trên 90% các số công trình) là các lỗ khoan có đường kính nhỏ. Trong những năm gần đây, do đa dạng hoá các công trình nên đã có thêm các kiểu công trình như khác như cải tạo giếng khơi, giếng làm, hệ thống nước tự chảy...
    Các lỗ khoan cấp nước nông thôn thường khai thác vài ba khối/ngày bằng bơm tay và mỗi ngày chỉ khai thác vào sáng, trưa, chiều.
    - Các công trình cấp nước nông thôn đơn giản dễ làm, nên hiện nay có nhiều cơ sở tư nhân đang đi khoan các lỗ khoan cấp nước khắp mọi nơi, không ai quản lý. Do chạy theo lợi nhuận nên việc cấp nước nông thôn thường không được theo dõi quản lý chặt chẽ về kỹ thuật và không có quy hoạch, dễ gây ảnh hưởng xấu đến môi trường nước.Do các thiết bị lấy nước chủ yếu là bơm tay nên rất chóng hỏng và cũng do thi công không tốt nên tỷ lệ các công trình bị hỏng không sử dụng được khá cao.Những công trình hỏng đó lại góp phần làm xấu chất lượng nước trong các tầng chứa nước do tạo nên các đường dẫn nước giữa các tầng và nước trên mặt. Do sử dụng nước ngầm, ở một số nơi có hàm lượng sắt cao nên có bể lọc kèm theo. Theo kết quả thống kê của Bộ Xây Dựng đến 10/1993 tỷ lệ dân nông thôn được hưởng nước sạch là.
    Vùng núi phía Bắc: Bắc Trung Bộ : 14%.
    Tây Nguyên: 14%; Bắc Trung Bộ: 34%.
    Duyên Hải Miền Trung: 27%; Đồng Bằng Sông Hồng:28%.
    Miền Đông Nam Bộ: 17%; Đồng Bằng Sông Cửu Long:42%
    Đến nay tỷ lệ dân nông thôn được cấp nước sạch khá cao tuy nhiên theo mục tiêu của nhà nước nêu ra năm 1992 là đến năm 2000 80% dân nông thôn có đủ nước sạch không thể thực hiện được và năm 1998 đã kéo thời hạn đến năm 2005.
    III.3. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG NƯỚC NGẦM      
    3.1- Hiện trạng sử dụng nước ngầm cho ăn uống sinh hoạt
    Như trên đã nêu, trên phạm vi toàn lãnh thổ đã có gần 200 nhà máy và trạm cấp nước, hàng trăm nghìn lỗ khoan khai thác có đường kính nhỏ, hàng triệu giếng khơi đang khai thác nước ngầm. Lượng nước khai thác chủ yếu phục vụ cung cấp cho ăn uống, sinh hoạt và công nghiệp cho hàng chục triệu dân ở các thành phố và nông thôn Việt Nam.
    Ở thành phố Hà Nội,100% lượng nước  ngầm khai thác nhằm cung cấp nước cho sinh hoạt và sản xuất công nghiệp. Nhìn chung, toàn bộ lượng nước ngầm khai thác ở miền Bắc nhằm cấp cho ăn uống, sinh hoạt. Do hàm lượng sắt trong nước cao nên hầu hết các công trình khai thác nước ngầm đều được xử lý sắt rồi mới cấp cho ăn uống. Nhưng chỉ ở các nhà máy nước có công xuất khoảng 10.000 m3/ng mới có hệ thống xử lý toàn diện và có khử trùng.
    Lượng nước khai thác và xử lý thì nhiều nhưng đưa vào sử dụng chỉ đạt khoảng 60-70%.
    Các nhà máy nước ở các tỉnh phía Nam, khai thác nước từ giếng thường được đưa thẳng vào đường ống, không qua xử lý, mặc dù nước có pH thấp.Ví dụ tại Thủ Dầu Một đang khai thác khoảng 6000 m3/ng nước từ các giếng ngầm có pH <5 đã được đưa thẳng vào đường ống, nhưng cũng chỉ có 60% số nước được sử dụng, còn 30-40% lượng nước bị thất thoát.
    Trên quan điểm sinh thái và phát triển lâu bền,rõ ràng việc sử dụng nước ngầm cho ăn uống sinh hoạt đã mang lại lợi ích to lớn, thể hiện:
    1- Nước sạch hơn so với nước mặt, nhiều dịch bệnh liên quan đến việc sử dụng nước ở nước ta đã được loại trừ. Theo bộ y tế, hàng năm nhà nước ta đã phải chi phí hàng chục tỷ đồng để mua thuốc chữa bệnh liên quan đến nước.chưa kể đến hàng chục triệu công lao động bị lãng phí do ốm và chăm sóc người ốm  Sử dụng nước ngầm để cung cấp cho nước nhạt đã giảm được tiền thuốc va đã tận dụng được hàng triệu công lao động.
    2- Nhờ sử dụng nước ngầm cho ăn uống sinh hoạt mà nhiều vùng nhân dân đã bớt đi hàng vạn công lao để đi lấy nước  xa 5-6 km . Đặc biệt đã giảm được lao động nặng nhọc cho phụ nữ và trẻ em.
    3- Việc sử dụng nước ngầm cho ăn uống sinh hoạt có tác dụng nâng cao trình độ văn hoá, hiểu biết cho dân, đặc biệt cho các vùng núi và ven biển.
    3.2- Sử dụng nước ngầm để tưới cây
      Ở nước ta, việc sử dụng nước ngầm để tưới đã được đồng bào các tỉnh phía Nam (từ Quảng Nam - Đà Nẵng trở vào) sử dụng từ lâu. Trên các cánh đồng Miền Trung, những chiếc cần vọt nước để tưới ngô khoai có thể gặp ở mọi nơi. Ven đô thành Sài Gòn, vùng Củ Chi đất thép, các hộ nông dân thường lấy nước ở các giếng sâu 8-10 m để tưới rau màu nên mùa khô ở đây cây cối vẫn được tươi tốt, năng suất cao.
    Vùng thị trấn Bến Cát, các hộ gia đình đã khoan các lỗ khoan (30-50 m) lấy nước tưới cho đậu phộng, mè, ngô, lúa... Do điều kiện ĐCTV thuận lợi , các lỗ khoan ở Bến Cát đều tự phun nên số hộ gia đình sử dụng các LK khá nhiều.
    Việc sử dụng nước ngầm để tưới cà phê đã có từ lâu ở Buôn Mê Thuột. Vào những năm 70-90 vùng Xuân Lộc đã có hàng trăm các giếng khoan khai thác nước để tưới cho cà phê. Lượng nước, số lượng lỗ khoan khai thác nước và diện tích tưới từ 1976-1992 tăng lên khá nhiều và được phản ảnh trong bảng ,8,910
    Việc sử dụng nước ngầm để tưới cũng khá phổ biến ở đồng bằng sông Cửu Long, Pleicu, Lâm Đồng.
    Hiệu quả do sử dụng nước ngầm để tưới mang lại hiệu quả kinh tế cao. Theo số liệu của các hộ nông dân ở Bến Cát và Xuân Lộc thì lợi ích mang lại do nâng cao năng suất trong một vài vụ thu hoạch lạc hoặc cà phê trên 1 ha là đã hoàn vốn cho việc đầu tư khoan LK lấy nước tưới cây.
    Mặt khác, việc sử dụng nước ngầm để tưới đã làm thay đổi sinh thái ở các vùng trước đây khô cằn do không có nước thành những vùng cây xanh tươi tốt.
    Tuy nhiên do việc khai thác ồ ạt vào mùa khô ở một số nơi đã vượt quá khả năng cung cấp của tầng chứa nước đã dẫn đến sự giảm mực nước ngầm như đã xảy ra ở Xuân Lộc.
    III.4. HIỆN TRẠNG KHAI THÁC SỬ DỤNG NƯỚC KHOÁNG LÃNH THỔ VIỆT NAM
    Theo thống kê, đến cuối năm 1993, các mỏ nước khoáng đã được khai thác sử dụng 31 mỏ, chiếm 11% các nguồn đã được nghiên cứu. Trong số 31 mỏ khai thác chỉ có 15 mỏ đã được tìm kiếm thăm dò đánh giá trữ lượng, 10 lỗ khoan và mạch lộ thuộc 7 mỏ nước khoáng đang được khai thác đã được Bộ Công nghiệp nặng cấp giấy phép khai thác.
    4.1. Tình hình khai thác nước khoáng
    Các công trình khai thác nước khoáng ở Việt Nam có các dạng sau:
    1- Khai thác trực tiếp từ mạch lộ
    Các mạch nước khoáng được dọn sạch, đào giếng ngay tại mạch lộ sâu từ 1 đến 6 m, đường kính 2-2,5 m, nước tự chảy, dùng bơm ly tâm công suất nhỏ, bơm nước khoáng trực tiếp đến nơi sử dụng như bồn tắm, stec chở nước... Công trình khai thác loại này ở các mỏ nước khoáng Mỹ Lâm, Kim Bôi, nhà an dưỡng Quang Hanh... và quầy tắm ngâm tại chỗ ở Tú Lệ, Thẩm Vó, Trạm Tấu...
    2 - Khoan các lỗ khoan nông tại mạch lộ, chiều sâu các lỗ khoan từ 6 đến 12 m, nước tự chảy.
    3 - Dùng trực tiếp các lỗ khoan thăm dò để khai thác như LK 82 SA Tiên Hải, các lỗ khoan thăm dò ở Quảng Hanh, 4D-71 Ba Vì, LK 14 Tiên Lãng...
    Các lỗ khoan khai thác nước khoáng thường tự chảy. Lưu lượng khai thác thường nhỏ hơn lưu lượng tự chảy; mỗi ngày khai thác vài giờ theo yêu cầu, nhỏ hơn nhiều so với khả năngkhai thác của lỗ khoan.
    - Ở 4 mỏ thăm dò sơ bộ với 15 lỗ khoan thăm dò, 14 lỗ khoan gặp nước khoáng, 4 lỗ khoan tính trữ lượng, nhưng chưa một lỗ khoan thăm dò tính trữ lượng được huy động vào khai thác. Mỏ nước khoáng Kim Bôi có ngày khai thác đến 120 m3 cũng chỉ mới khai thác ở mạch lộ, chưa sử dụng đến các lỗ khoan thăm dò, cũng tương tự như vậy đối với các mỏ nước khoáng Mỹ Lâm, Ba Vì, Tam Hợp. Ở mỏ nước khoáng Ba Vì đang được khai thác LK 4D-71 để cấp nước cho nhà an dưỡng Bộ nông Nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm, nhưng đây là lỗ khoan khi tính trữ lượng lại đưa ra ngoài bản phân cấp trữ lượng.
    - Đa số các lỗ khoan khai thác nước khoáng là các lỗ khoan tự phun. Ở các lỗ khoan khai thác nước khoáng ở các mỏ Thường Sung, Bản Khạng... do công suất khai thác nhỏ, mực nước nằm nông, nên trong các lỗ khoan khai thác lắp bơm tay (bơm tay của chương trình nước sạch nông thôn UNICEF) với công suất 15-20 m3/ng.
    - Các lỗ khoan khai thác nước khoáng thường tận dụng các lỗ khoan tìm kiếm, thăm dò, chống ống thép-nên bị rỉ, có ảnh hưởng đến chất lượng nước khoáng. Các lỗ khoan khai thác nước khoáng ở các mỏ Bang (Quảng Bình), Đảnh Thạnh (Khánh Hoà), Vĩnh Hảo (Bình Thuận), cột ống chống, ống lọc bằng thép inôc không rỉ, đảm bảo được thành phần thiên nhiên của nước khoáng.
    - Công trình thu gom các mạch lộ thường nền giếng hẹp, việc thoát nước kém chưa đảm bảo vệ sinh nguồn nước.
    4.2. Công tác bảo vệ tài nguyên môi trường
    1 - Trong số 31 mỏ nước khoáng đang khai thác (bao gồm các lỗ khoan và mạch lộ) chỉ có 10 lỗ khoan và mạch lộ thuộc 9 mỏ nước khoáng chiếm 29% (các mỏ khai thác) được Bộ Công nghiệp nặng cấp giấy phép, nhiều mỏ nước khoáng khai thác từ lâu, sản lượng lớn như Vĩnh Hảo, Kim Bôi, Mỹ Lâm...chưa có giấy phép khai thác.
    2 - Các lỗ khoan tự phun, các mạch nước khoáng tự chảy được khai thác với quy mô nhỏ, ngoài thời gian khai thác, nước khoáng chảy tràn ra sông suối, lãng phí tài nguyên.
    3 - Tất cả các lỗ khoan khai thác, các mạch nước ở các mỏ chưa tiến hành quan trắc mực nước, lưu lượng, thành phần các chất hoà tan theo thời gian.
    4- Các công trình thăm dò nước khoáng sau khi kết thúc việc thăm dò, việc trám lấp lỗ khoan không theo quy định về bảo vệ tài nguyên, môi trường. Có lỗ khoan tự phun để chảy ngày nay qua ngày khác, rất lãng phí
    Những nhận xét trên về công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường cho đến nay vẫn là chuyên thời sự, vì những cơ quan khai thác chưa ý thức đầy đủ về công tác này, còn những cơ quan chức năng để bảo vệ tài nguyên môi trường chưa có các hưóng dẫn cụ thể, chưa thường xuyên kiểm tra, thanh tra các cơ sở khai thác nước khoáng.
    4.3. Sử dụng nước khoáng
    Nước khoáng Việt Nam xuất hiện trên thị trường từ năm 1930 với những chai nước khoáng có nhãn: “ Nước khoáng thiên nhiên Vĩnh Hảo “ Đến những năm 80 xuất hiện những chai nước khoáng Kim Bôi (1984),Tiền Hải (1985)... Nước khoáng còn như một loại “ chữa bệnh” thiên nhiên ở nước ta đã được biết đến và xử dụng trong dân gian từ lâu. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, GS.  Đặng Vũ Hỷ đã dùng nước khoáng Kênh Gà để điều trị cho thương binh  ở bệnh viện Ninh Bình, đến nay nhiều Viện  điều dưỡng chữa bệnh bằng nước khoáng đã được xây dựng. Nước khoáng ở Việt Nam đa dạng nên khả năng khai thác sử dụng rất phong phú. Nước khoáng Việt Nam đã được sử dụng vào các mục tiêu sau.
    -Nước khoáng đóng chai làm nước giải khát.
    - Nước khoáng dùng cho an dưỡng chữa bệnh .
    - Nước khoáng phục vụ du lịch
    - Nước khoáng dùng nuôi trồng Hải Sản
    - Nước khoáng dùng cho mục đích năng lượng.
    1. Nước khoáng đóng chai làm nước giải khát
    Hiện nay từ Nam đến Bắc trên thị trường có hàng chục loại nước khoáng đóng chai làm nước giải khát, chai nhựa, chai thuỷ tinh thể tích khác nhau. Trong 8 nhóm nước khoáng thì cả 8 nhóm  đều có mỏ được khai thác dùng làm đóng chai giải khát,  lâu đời nhất là nước khoáng Vĩnh  Hảo (1928)
    Qua khảo sát một số cơ sở đóng chai có một số  nhận sét sau:
    - Xí Nghiệp suối khoáng Vĩnh Hảo-Liên hiệp Xí nghiệp Dược Thừa Thiên Huế (đóng chai nước khoáng Thanh Tân )có dây chuyền sản xuất hiện đại, các khâu  sản xuất tự động, bộ phận đóng chai bảo đảm vô trùng, vệ sinh thực phẩm đảm bảo, môi trường nhà xưởng sạch sẽ, vệ sinh.
    - Một số cơ sở đóng chai nước khoáng Kim Bôi ở Hà Nội thường có quy mô công suất nhỏ, dây chuyền đóng chai thủ công từ khâu đóng chai, xử lý chai, xử ký nước, chiết và dập nút chai, dán nhãn đều thủ công, nhà xưởng chặt hẹp, tất cả các yếu tố đó sẽ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
    - Hầu hết các cơ sở đóng chai nước khaóng đều ở xa mỏ, nên trong quá trình vận chuyển sẽ làm thay đổi hàm lượng các chất hoà tan trong nước nhất là các chất khí, các chất dễ phân huỷ ...) . Các mỏ nước khoáng Vĩnh Hảo, Đảnh Thạch, Cam Ranh, một số cơ sở đóng chai nước khoáng Quang Hanh xí nghiệp đóng chai ngay mỏ, nước khoáng không vận chuyển đi xa và đó là một trong những yêu cầu đóng chai nước khoáng.
    - Do nhu cầu của thị trường, có một số nguồn nước khoáng có chất lượng không phù hợp để đóng chai làm nước giải khát vì khoáng hoá cao, ví dụ mỏ nuớc khoáng Kênh Gà M=9,lg/l, mỏ nước khoáng Tiên Lãng M= 13,44 g/l, nên khi đóng chai làm nước giải khát lại dùng một nguồn nước khoáng khác có độ khoáng hoá thấp để pha loãng.
    Thực tế nước khoáng có nhiều loại, mỗi loại có thành phần, chất lượng và công dụng khác nhau, có loại nước khoáng chỉ dùng đóng chai làm nước giải khát, nhưng cũng có loại chỉ dùng để chữa bệnh bằng uống, ngâm, tắm, xông... Ngay trong một mỏ cũng có lỗ khoan đạt tiêu chuẩn nước khoáng đóng chai, cũng có lỗ khoan chất lượng nước khoáng không thể đóng chia mà chỉ để ngâm, tắm, chữa bệnh. Do đó cần có quy định, hướng dẫn các cơ sở  muốn đóng chai nước khoáng làm nước giải khát, cũng như ban hành quy phạm quy định tiêu chuẩn nước khoáng đóng chai làm nước giải khát.
    Do yêu cầu của thị trường, cũng có những cơ sở dùng nhãn nước khoáng dưới tên khác như nước khoáng ngọt, nước khoáng hoa quả... Đó là sự lạm dụng thuật ngữ.
    Nhiều mỏ nước khoáng thường chứa nhiều các chất hữu cơ hoặc một vài nguyên tố vượt quá tiêu chuẩn như Fe, Mn,F... Nên khi đóng chai nước khoáng đều phải qua xử lý. Có những nơi do xử lý làm thay đổi hẳn thành phần ion có trong nước.
    Nhà xưởng chưa quy củ, trang bị thô sơ , dây chuyền đống chai thủ công, nên có yêu cầu khắt khe về trang bị kỹ thuật, nhà xưởng cho một cơ sở đóng chai nước khoáng để đảm bảo vệ sinh của xí nghiệp đóng chai làm nước giải  khát.
    2- Tình hình sử dụng nước khoáng cho mục đích an dưỡng chữa bệnh.
    Nước khoáng dùng để chữa bệnh ở Việt Nam đã đước chú ý từ lâu. Nhưng chỉ sau 1954, khi miền Bắc được giải phóng, các cơ sở chữa bệnh bằng nước khoáng mới được xây dựng.
    Về tổ chức các cơ sở điều dưỡng chữa bệnh bằng nước khoáng trực thuọc Bộ ytế (các tổ chức y tế địa phương ) hoặc Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Liên đoàn Lao động địa phương). Trong những năm trước năm 1990,các cơ sở điều dưỡng chữa bệnh bằng nước khoáng như Kim Bôi. Mỹ Lâm, Hội Vân... được bao cấp của chính quyền địa phương nên số người đến an dưỡng, điều trị đông, việc theo dõi chế độ điều trị nền nếp.
    Qua kết quả điều dưỡng kể trên, có thể khẳng định giá trị chữa bệnh bằng nước khoáng đạt hiệu quả cao đối với các bệnh thần kinh, tim mạch, tiêu hoá, cơ khớp, da liễu, phụ khoa và một số bệnh nghề nghiệp. Có thể sử dụng nhiều hình thức như: uống, tắm, ngâm, xông xức...
    Qua thực tế điều trị tại các nhà an dưỡng chữa bệnh bằng nước khoáng, có thể rút ra vài nhận xét sau:
    a/ ở Việt Nam có nhiều mạch nước khoáng tự nhiên nhưng việc nghiên cứu sử dụng chữa bệnh vẫn còn ít, trên toàn quốc chỉ có 5/272 nguồn nước khoáng được sử dụng để chữa bệnh với tổng số giường bệnh là 290 giường. Các Viện điều dưỡng nước khoáng Kim Bôi, Mỹ Lâm, Hội Vân, Quang Hanh đã nghiên cứu lâm sàng của nước khoáng, phác đồ điều trị bằng nước khoáng. Một số bệnh khớp, thần kinh, tiêu hoá, da liễu, phụ khoa điều trị bằng nước khoáng có hiệu quả.
    Nhưng vì vị trí địa lý, khả năng đầu tư của địa phương có hạn nên có cơ sở như nhà nghỉ Kim Bôi hiện nay chỉ là khu an dưỡng, chỉ có vài y tá theo dõi sức khoẻ của những người đến nghỉ. Viện điều dưỡng NK Mỹ Lâm ngày càng thu hẹp quy mô giường bệnh.
    b/ Dùng NK để chữa bệnh chưa thành một chuyên ngành, chưa được quan tâm đầu tư thích đáng, thiếu thông tin, thiết bị và chuyên gia đầu ngành. Việt Nam có nhiều nguồn, nhiều loại NK nhưng công việc nghiên cứu lâm sàng, tính chất chữa bệnh của nước khoáng chữa bệnh chưa được quy hoạch sử dụng hợp lý.
    c/ Cơ sở vật chất của các nhà an dưỡng còn nghèo nàn, có Viện điều dưỡng nước khoáng không có phòng tắm ngâm NK tại Viện,
    3. Khai thác các nguồn nước khoáng làm nơi vui chơi giải trí - du lịch
    Các mỏ nước khoáng Bình Châu, M’Dung còn gọi là Trường Xuân đã được khai thác làm nơi ngâm tắm, vui chơi, giải trí - du lịch.
    Ở nước ta bên cạnh các khu du lịch có những nguồn nước khoáng rất đáng giá nhưng chưa được đầu tư xây dựng làm cơ sở du lịch, dịch vụ ngâm tắm, vui chơi giait trí như Vịnh Hạ Long có các cụm NK Tam Hợp, Quang Hanh; khu du lịch Ba Vì (gồm có vườn quốc gia Ba Vì, Đồng Mô...) có nguồn Ba Vì; vườn quốc gia Cúc Phương có nguồn NK Thường Sung  ,Kênh Gà ;Quảng Nam Đà Nẵng có cụm nguồn Nk An Điềm, Bàn Thạch, Phú Ninh... Chúng ta chưa đầu tư xây dựng các điểm nước khoáng thành một trong những điểm vui chơi, giải trí và du lịch, nhằm khai thác tổng hợp tài nguyên.
    4. Dùng nước khoáng để nuôi trồng thủy sản
    Dùng nước khoáng để nuôi trông thủy sản ở Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn đầu, hoặc ở giai đoạn thử nghiệm. Đi đầu trong việc dùng NK để nuôi trồng thủy sản là xí nghiệp suối khoáng Vĩnh Hảo. Từ năm 1978, xí nghiệp suối khoáng Vĩnh Hảo đã thử nghiệm dùng nước suối nuôi tảo, năm 1983 sản lượng tảo sản xuất được 1000 kg tảo khô, năm 1986 sản xuất 2000 kg tảo khô.
    Tóm lại.
    1- Việt Nam có nguồn tài năng nước khoáng phong phú, nhiều loại, lại phân bố hầu như đều khắp các miền của lãnh thổ. Trong số 172 nguồn nước khoáng được đăng ký đành giá sơ bộ về chất lượng có  mỏ được thăm dò so bộ, 9 mỏ tìm kiếm, 2 mỏ tổng hợp phân tích tài liệu tìm kiếm, khai thác nước nhạt. Tổng lượng các nguồn đo được 1095, 57 m3/ng; cấp C1-78,13 l/s hay 6.750 m3/ng; cấp C2 -49,983 l/s hay 4.318 m3/ng.
    2- Đã có 31 mỏ nước khoáng được khai thác sử dụng để an dưỡng chữa bệnh, đóng chai làm nước giải khát, sử dụng tổng hợp làm nơi vui chơi giải trí, địa nhiệt, nuôi trồng thuỷ sản.
    Việc đóng chai nước khoáng chưa được hướng dẫn tư vấn về chọn nguồn, các cơ sở đóng chai nhìn chung có trang thiết bị kỹ thuật, nhà xưởng chật hẹp, cơ sở đóng chai thường xa nguồn, nên có phần nào ảnh hưởng đến chất lượng của chai nước khoáng.
    3- Trên quy mô toàn quốc có 5 mỏ Nk được xây dựng nhà an dưỡng chữa bệnh bằng nước khoáng với 290 giường bệnh; các cơ sở vật chất cần thiết cho việc nghiên cứu, thực nghiệm về chữa bệnh còn nghèo nàn, nhỏ bé, không cân xứng với tiềm năng có thể phát triển của lĩnh vực nay.
    Đội ngũ cán bộ chuyên môn ít, chưa được đào tạo chuyên khoa, chưa có chuyên gia đầu nghành, thiếu các phóng thí nghiệm chuyên môn để đánh giá chính xác chất lượng nước khoáng.
    4- Việc khai thác tổng hợp nguốn nước khoáng để an dưỡng chữa bệnh. đóng chai làm nước giải khát, khai thác năng lượng, làm nơi vui chơi giải trí, du lịch, nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao chưa được chú ý.
    IV. DỰ BÁO NHU CÂU SỬ DỤNG NƯỚC PHỤ VỤ SINH HOẠT VÀ CÔNG NGHIỆP
    Yêu cầu sử dụng phục vụ kinh tế, dân sinh rất đa dạng, song như trên đã nêu, nước ngầm có nhiều ưu điểm trong cung cấp, sử dụng cho ăn uống, sing hoạt. Nước ngầm có chất lượng tốt, ổn định cả về chất lượng và về lượng, ít có khả năng nhiễm bẩn, các công trình khai thác đơn giản... Nên nước dưới đất phải ưu tiên làm nguồn cung cấp cho ăn uống sinh hoạt. Vì vậy trong báo cáo này các tác giả chỉ giới hạn dự báo lượng nước yêu cầu phục vụ cho ăn uống, sinh hoạt ở các thành phố và nông thôn. Nhằm làm cơ sở so sánh với lượng nước ngầm xem xét khả năng nước ngầm có đáp ứng yêu cầu cấp nước không.
    Trong những năm gần đây, do chính sách mở cửa, nền kinh tế nước ta đang có sự chuyển đổi mạnh mẽ nên việc quy hoạch, phát triển kinh tế của đất nước nói chung, từng địa phương nói riêng còn chưa được xác lập, điều đó gây khó khăn cho việc dự báo các yêu cầu cần sử dụng nước cho ăn uống, sinh hoạt. Tuy nhiên, trên những nét cơ bản về định hướng phát triển kinh tế cũng cho phép dự báo lượng nước yêu cầu.
    Trong việc cung cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt, người ta chia ra cấp nước cho thành  thị và nông thôn không chỉ về chất lượng và về lượng mà còn khác nhau về quy mô, phương thưc hoạt động của các công trình khai thác nước.
    IV.1. CẤP NƯỚC CHO  ĐÔ THỊ
    Nước cấp cho ăn uống, sinh hoạt, ở các thành phố yêu cầu đảm bảo các quy định vệ sinh về sinh học, vật lý, hoá học theo các tiêu chuẩn của nhà nước. Trên phạm vi cả nước trên có 100 thành phố, thị xã, thị trấn đang  được cấp nước. Vào những năm 2010-2020 chắc chắn sẽ được phát triển các yêu cầu cấp nước cao hơn. Số dân trong các thành phố, thị xã sẽ tăng lên khá hơn, mặt khác các nhu cầu nước cho các xí nghiệp công nghiệp, nước phục vụ công cộng cũng tăng lên. Trên các cơ sở đó, Bộ xây dựng đã dự báo nhu cầu cấp nước cho các thị xã, thành phố toàn lãnh thổ nước ta.
    IV.2.CẤP NƯỚC NÔNG THÔN
    Nhân dân nông thôn nước ta đã sử dụng nước ngầm trong ăn uống sinh hoạt từ lâu. Tuy nhiên việc sử dụng nước đảm bảo các yêu cầu vệ sinh mới được Nhà nước quan tâm trong những naưm gần đây.
    Theo cam kết của Nhà nước ta với thế giới là đến năm 2000, 80% dân nông thôn nước ta đước hưởng đủ nước sạch. Theo  các yêu cấu đó, tiểu ban soạn thảo kế hoạch tổng thể cấp nước nông thôn Việt Nam đã tiến hành xây dựng kế hoạch tổng thể cấp nước nông thôn đến năm 2000 và 100% vào năm 2010, Tỷ lệ phát triển dân số được chọn trung bình là 1,5% cho mọi vùng.
    Từ đó tác giả đã dự báo lượng nước sạch yêu cầu cấp đến năm 2000 và 2010 (bảng 15, 16) và từ đó tình toán tổng lượng nước và modun yêu oầu cấp nước của các địa phương đến năm 2000-2010 . Giá trị mô đun biến đổi rất mạnh từ 1 m3/ng .km2- 1000 m3/ng.km2. Ở các tỉnh miền núi, dân cư thưa thớt, lượng nước cấp cho ăn uống sinh hoạt tính cho 1 km2 rất nhỏ, nhỏ nhất là ở Sơn La. Ngược lại, ở các tỉnh có thành phố lớn, dân cư đông đúc, đất đai không rộng rãi, mô đun yêu cầu cung cấp rất cao như ở Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Hà Tây, Thái Bình.
    V. ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM
    V.1. CÁC NGUYÊN NHÂN LÀM SUY THOÁI  NƯỚC NGẦM
    Sự suy thoái nước dưới đất  là hậu quả tổng hợp của các tác động trực tiếp và gián tiếp đến nước dưới đất ở vùng  đó và các vùng lân cận. Sự suy giảm của nước dưới đất ở một số vùng có thể diễn ra : chỉ suy giảm về chất, hoặc chỉ suy giảm về lượng, hoặc suy giảm cả hai. Thông thường giữa lượng và chất có mối quan hệ mật thiết với nhau. Khi chất đã giảm thì thường lượng khai thác cũng giảm. Tuy nhiên khi giảm  lượng khai thác thì chất lượng không tiếp tục bị giảm mà thường có tác dụng phục hồi lại.
    Sự suy thoái của nước dưới đất đặc biệt sự suy thoái về chất (ô nhiễm) thường xảy ra chậm hơn nhiều so với nước trên mặt hoặc không khí. Thậm chí khi yếu tố tác động đã ngừng lại khá lâu, nhưng biểu hiện của các tác động đó vẫn chưa thể hiện ở nước dưới đất. Chính vì vậy khi phân tích các nguyên nhân làm suy thoái nguồn nước là các vấn đề rất phức tạp.
    Sự biến động của nước dưới đất là chịu tác động bởi các yếu tố tự nhiên và nhân tạo. Trong một vùng  thì các yếu tố tự nhiên coi như yếu tố tĩnh và cố định, còn yếu tố nhân tạo là yếu tố động quyết định sự biến đổi của nước dưới đất. Nên khi đánh giá các nguyên nhân gây suy thoái nước dưới đất người ta quan tâm nhiều đến các hoạt động  của con người. Các tác động nhân tạo cũng rất đa dạng và tác động đến nước dưới đất theo phương thức rất khác nhau, vào các thời điểm khác nhau thường gồm các yếu tố : Khai thác nước dưới đất, thải các chất thải rắn, nước thải, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, diệt cỏ,  các hoạt động xây dựng các công trình trên mặt và ngầm , tác động của chiến tranh vv.
    1. Khai thác nước dưới đất
    Khai thác nước dưới đất vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả làm biến động (suy thoái) nước dưới đất và là yếu tố quyết định nhất. Vì không có khai thác  để sử dụng nước dưới đất thì không phải bàn đến suy thoái chất và lượng của nó.
    Đối với nước ta, việc khai thác nước bao gồm cả khai thác có tổ chức, có chỉ đạo và khai thác nước tự do tuỳ tiện đều có thể gây suy thoái nước dưới đất.
    a- Khai thác nước tập trung
    Công việc khai thác này do các công ty cấp nước của các thành phố, hoặc các tỉnh trực tiếp phụ trách. Những công trình khai thác tập trung kiểu công nghiệp này thường đảm bảo kỹ thuật khi thi công, các công trình khai thác và thường xuyên duy tu bảo dưỡng chúng để duy trì khai thác lâu dài và có lãi. Nên thường đảm bảo chất và lượng nước khai thác từ công trình. Tuy nhiên,  trên thực tế ở Hà Nội, Sài Gòn cũ, Hòn Gai, Vinh, Hải Phòng sự suy giảm chất và lượng nước khai thác nước từ các công trình này vẫn xảy ra. Nguyên nhân cơ bản là do kém hiểu biết về đối tượng khai thác. Thí dụ tại  Sài Gòn cũ,  khai thác nước ngầm theo thể thức công nghiệp bắt đầu từ năm 1907. song công suất khai thác không nhiều, khi đó ranh giới mặn nhạt còn nằm ở khá xa .Đến năm 1953-1954, người ta nâng công suất khai thác lên 160.000 m3/ng. Mực nước giảm nhanh từ cốt cao +3 m đã xuống còn -7 m (giảm 10 m). Nước mặn tiến sâu vào thành phố tới sát khu vực Chợ Lớn, Bình Thạnh. Nhiều giếng khoan khai thác phải ngừng. Sau khi ngừng khai thác 20 năm ranh giới mặn vẫn chưa trở lại vị trí ban đầu. Hiện tượng tương tự cũng diễn ra ở Hải Phòng trước đây. Người ta đã khoan và khai thác nước ở một số lỗ khoan trong thành phố nhưng chỉ thời gian ngắn nước bị mặn phải bỏ không khai thác được.
    Tại Hà Nội,  từ thời thuộc Pháp và đến những năm 60, do Hà Nội còn nhỏ, dân cư ít, công nghiệp chưa có gì đáng kể, lượng nước yêu cầu chưa cao. đến những năm 70 tổng lượng khai thác chỉ đạt 150.000 m3/ng. Lượng nước khai thác nhỏ so với khả năng cung cấp của tầng chứa nước cát cuội sỏi Pleixtocen, nên hiện tượng suy thoái chưa có biểu hiện rõ ràng.
    Hà Nội ngày càng mở rộng, lượng nước yêu cầu ngày càng tăng, số lượng  các lỗ khoan khai thác tăng. chủ yếu được bố trí vào khu bãi giếng cũ để tiết kiệm đường ống nên mật độ các giếng khoan tăng lên, đó là chưa kể đến hàng trăm lỗ khoan được đưa vào khai thác tự do làm hỏng mạng lưới ban đầu.Sự bố trí bãi giếng khai thác còn chưa xuất phát từ cách nhìn toàn diện về việc giải quyết cấp nước chung, nên đã dẫn đến tình trạng khai thác nước làm cạn nhiều giếng nước và các lỗ khoan nước ở tầng trên.và tạo nên phễu hạ thấp mực nước lớn trong tầng chứa nước Pleixtocen. Một điều cũng cần quan tâm là cấu trúc của các giếng khai thác nước  không  phù hợp với các đặc điểm ĐCTV nơi bố trí công trình khai thác điều đó cũng góp phần quan trọng làm  suy giảm mực nước  trong các công trình khai thác. Nhiều công trình khai thác không tuân thủ các quy định về xây dựng các đới phòng hộ vệ sinh, các chế độ kiểm tra theo dõi bảo dưỡng không thường xuyên cũng là các nguyên nhân làm suy thoái nước dưới đất của Hà Nội.
    Việc khai thác nước dưới đất ở trong tầng Pleixtoxen, đã làm cho lương nước ở tầng trên thấm xuyên xuống tầng chứa nước đó làm thay đổi thành phần hoá học của tầng chứa nước trong tầng này. Theo Nguyễn Mạnh Hà , Nguyễn Kim Ngọc thì hàm lượng cao của sắt trong nước của các giếng khai thác ở Hà Nội, ngoài hàm lượng sắt của  bản thân tầng chứa nước Pleixtocen còn do hàm lượng sắt tư các thấu kính, các tầng bùn sét ở phía trên theo nước thấm xuyên xâm nhập vào. Thí dụ, ở khu vực Hạ Đình - Hà Đông trong các thành tạo trên tầng chứa nước khai thác thường gặp các thấu kính bùn. Ở khu vực này, nước khai thác có hàm lượng sắt cao từ 15-20 mg/l.
    Việc khai thác nước đã thu hút nước từ tầng chứa nước có tổng khoáng hoá lớn đến công trình khai thác nước gây nhiễm mặn nước trong lỗ khoan phải đình khai thác đã xảy ra ở Sài Gòn, Hải Phòng, Vinh.
    b- Khai thác phân tán
    Trong việc khai thác nước phân tán có tổ chức lớn nhất là các công trình khai thác nước do Chương trình nước sạch nông thôn nay là Trung Tâm Nước  Sinh Hoạt và Vệ Sinh Môi Trường  phụ trách. Từ năm 1982, được sự tài trợ của tổ chức UNICEF, Chương trình nước sạch nông thôn bắt đầu được triển khai ở 10 tỉnh, thành  trong cả nước. Chương trình nước sạch nông thôn có tổ chức từ trung ương đến địa phương các tỉnh với mục đích giải quyết nước sạch cho nhân dân  nông thôn. Trong hơn 20 năm hoạt động, chương trình nước sạch nông thôn  đã đạt được những thành tích đáng tự hào,. Một trong những thành tích là đã góp phần quan trong thay đổi nhận thức của nhân dân nông thôn. Những người dân nghèo đã nhận thức được cần phải sử dụng nước sạch. Đồng thời cũng đã giúp cho  dân chúng đặc biệt là phụ nữ và trẻ em được hưởng nước sạch. Mặt khác do kinh tế phát triển, nhu cầu sử dụng nước tăng lên, việc cấp nước quy mô công nghiệp không đáp ứng kịp, nên nhiều tổ chức thi công các lỗ khoan ra đời. Đầu tiên từ các đoàn địa chất, điạ chất thuỷ văn, các viện nghiên cứu và các trường làm kinh tế phụ, nhưng sau đó nhiều nhóm ngưới thành lập các trung tâm, các công ty, các  tổ khoan lẻ. Trong đó có không ít các cơ sở không có giấy phép hành nghề, không có các kiến thức cần thiết về nước ngầm không có ý thức bảo vệ nước ngầm đều tiến hành khoan khai thác nước ngầm.
    Hiện nay ở Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ có tới hàng nghìn lỗ khoan khai thác lẻ  và hàng trăm nghìn lỗ khoan khai thác đường kính nhỏ kiểu UNICEF. Ở đồng bằng sông Cửu Long và đông Nam Bộ, số lượng các lỗ khoan kiểu này cũng rất tới hanhg trăm nghìn. Do không có tính toán, không quản lý được nên khi các lỗ khoan tự do hoạt động đã dẫn đến sự biến động mạnh mẽ cả chất lượng và mực nước dưới đất  như : tại thị xã Trà Vinh khai thác từ 5/3/1931 hàm lượng Cl 60-200 mg/l, năm 1978 tăng lên 800-1000 mg/l; Thị Xã Rạch Giá khai thác từ 10/10/1972 độ mặn ban đầu 50-200 mg/l đến tháng 3/1989 tăng lên 500 mg/l. Một số lỗ khoan từ nước phun ban đầu nay có mực nước 15-20 m.. Tại Hải Phòng việc khai thác nước từ các lỗ khoan nhỏ đến năm 1997  đã tạo nên phễu hạ thấp mực nước sâu 7 có diện tích hàng chục km2. Tại thị xã  Buôn Mê Thuột các lỗ khoan vô tổ chức do không nắm được đặc điểm địa chất thuỷ văn đã khoan sâu và tháo khô tầng chứa nước trên xuống làm nhiều lỗ khoan đang khai thác bị khô và có thể nêu ra nhiều dẫn chứng khác.
    Việc khoan khai thác lẻ vô thổ chức, cùng với việc khoan đào khảo sát địa kỹ thuật, xử lý nền móng các công trình nhất là ở các đô thị lớn không chỉ tạo điều kiện cho các chất gây bẩn từ trên mặt ngấm xuống là ô nhiễm nước ngầm mà một điều rất quan trọng là còng làm biến đổi môi trường của các tầng nước ngầm  dẫn đến  đẩy nhanh các quá trình o xy hoá , nhiều chất đang tồn tại ở trạng thái kết tủa nay dễ dàng chuyển vào nước  cũng góp phần làm tăng khả năng ô nhiễm nước ngầm đặc biệt các kim loại như  As, Hg, Pb, vv như đã xảy ra ở một số nơi thuộc Hà Nội.
    2. Thải các chất thải  ( chất thải khí, rắn,  lỏng )
    Các chất thải và nước thải có tác dụng làm suy giảm chất lượng nước dưới đất, và có thể nói đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm  nước.vì đó là các nguồn cung cấp các chất gây bẩn .
    2.1. Nước thải
    Nước thải cũng rất đa dạng và mỗi loại nước thải có chưá các thành phần khác nhau. Các thành phần đặc trưng cho các loại nước thải đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập trong các công trình của mình.
    Thông thường người ta chia ra các loại nước thải :
    - Nước thải sinh hoạt - Nước thải ra từ các khu dân cư thường chứa các chất hữu cơ và có nguồn gốc hữu cơ:
    - Nước thải bệnh viện thường chứa nhiều vi trùng gây bệnh;
    -  Nước thải công nghiệp - nước thải ra từ các xí nghiệp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp. Trong loại này người ta lại có phân ra nước thải từ các xí nghiệp hoá chất, công nghiệp chế biến thực phẩm, nhà máy cơ khí luyện kim v. v. Nước thải của mỗi loại xí nghiệp công nghiệp có chứa các thành phần khác nhau . Thí dụ trong nước thải của các nhà máy sản xuất phân bón hoá học chứa nhiều CN, phenol, NH3, As, P... Ngành dệt ở ta mỗi năm thải ra khoảng 630.000 m3 nước trong đó chứa nhiều NH3,NO2,PO4. Đặc biệt trong thuốc nhuộm có nhiều thành phần rất độc và có tới 25% thuộc nhuộm thải ra theo nước . Ngành giấy mỗi năm thải ra khoảng 70.5000 m3 nước trong đó chứa nhiều NaOH, sulfua hữu cơ. Ngành da mỗi năm thải ra chừng 734000 m3 với nhiều chất độc có nguồn gốc hữu cơ. Công nghiệp bia thải 29m3 /1000 lít bia với hàm lượng BOD5-1500-3000 mg/l.
    - Nước thải từ các công trình khai thác mỏ - Việc khai thác mỏ dẫn đến nước chảy vào các công trình khai thác. Muốn tiếp tục khai thác phải tháo khô mỏ. Lượng nước được tháo ra từ các mỏ được coi là nước thải từ các công trình khai thác. Lương nước này nhiều khi rất lớn đặc biệt ở các công trình khai thác lộ thiên. Thí dụ theo tónh toán rât sơ bộ, lượng nước được bơm ra từ các mỏ khai thác lộ thiên khu vực Hòn Gai - Cẩm Phả (Các mỏ núi Béo, Cao Sơn, Đèo Nai, và Cọc Sáu) mỗi năm lên tới trên 30.000.000 m3 gần bằng 82.000 m3/ng.
    Các mỏ khác nhau nước thải của chúng có thành phần khác nhau. Điều đó cũng được các nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập trong nhiều công trình của họ. Thông thường, các mỏ kim loại màu, kim loại nặng đều là các mỏ sulphur, khi khai thác đã tạo điều kiện cho quá trình oxy hoá các quặng sulphur. Theo sơ đồ phản ứng tổng quát.
    MeS + O2 + H2O = Me + H2 SO4.
    Quá trinh này làm cho nước thải từ các công trường khai thác có pH thấp, hàm lượng kim loại nặng, hàm lượng các vi nguyên tố, các chất độc hại cao hàm lượng S04 lớn.
    Ở nước ta đến nay cũng chưa có các công trình nghiên cứu về thành phần nước thải từ các mỏ kim loại. Gần đây trong quá trình nghiên cứu địa chất thuỷ văn vùng thành phố Hạ Long, các tác giả đã có các kết quả nghiên cứu bước đầu về thành phần nước chảy ra từ một số lò mới khai thác có pH rất thấp (pH = 2 - 4), hàm lượng S04 rất cao có khi tới 2000 mg/l và làm tăng độ tổng khoáng hoá của nước. Thí dụ kết quả phân tích các mẫu nước lấy ở lò xuyên vỉa + 26 khu mỏ Hà Lầm có pH rất thấp và SO4 đạt giá trị 1000mg/l;. Nước chứa trong mong Cọc Sáu có pH = 2,5 - 3. Ngoài ra lượng nước mưa thấm qua các bãi thaỉ mỏ cũng có pH thấp, S04  và các kim loại cao. ..
    Tại Hà Nội, như trên đã nêu, mỗi ngày đang khai thác và sử dụng từ 500.000 - 550.000 m3 nước và cũng phải thải ra lượng nước tương đương. Theo kết quả đo đạc của đoàn ĐCTV- ĐCCT 64, lưu lượng của sông Tô Lịch trong mùa khô biến đổi từ 2,339 m3/s  đến 4,145 m3/s tương đương 202089 m3/ng đến 358560 m3/ng. Lưu lượng sông Kim Ngưu mua khô đạt 3,4 m3/s tương đương 293760 m3/ng.Như vậy mỗi ngày Hà Nội thải ra không ít hơn 500.000 đến 650.000 m3/ng.
    Nước thải sinh hoạt, với hơn 1.000.000 dân trong nội thành, trong đó có gần 30 bệnh viện lớn nhỏ, hàng trăm trạm xá, trung tâm y tế. Hàng trăm các viện nghiên cứu, các trường đại học, trung học chuyên nghiệp. . Mỗi ngày thải ra hàng trăm nghìn m3 nước.Theo kết quả điều tra cho thấy, hầu hết các cơ sở sản xuất, dịch vụ, các bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu đều chưa có hệ thống sử lý nước thải, hoặc có nhưng không đảm bảo công xuất, hoặc làm việc không có hiệu quả, Nước thải ở Hà Nội đều được đổ vào các sông Tô Lịch, Kim Ngưu, sông Sét và sông Lừ, cùng một số hồ và đưa vào phía nam thành phố rồi đổ ra sông Nhuệ. Như vậy khu vực Thanh Trì là nơi tiếp nhận hầu hết các nước thải trước khi đổ ra sông. Nhiều báo cáo xác nhận, nước trên mặt vùng Thanh Trì ô nhiễm nặng, và đó cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho nước dưới đất ở đây cũng bị ô nhiễm nặng nề hơn các nơi khác trong thành phố.
    ở Hải Phòng, cũng gặp tình trạng tương tự như ở Hà Nội, nước thải bao gồm cả nước thải công nghiệp và sinh hoạt chắc chắn nước thải của Hải Phòng đã góp phần làm ô nhiễm nước dưới đất. Vì Hải Phòng là nơi khai thác nước dưới đất  chưa nhiều nhưng hiện trạng  ô nhiễm lại khá nặng nề
      Thành phố HCM một thành phố lớn nhất nước ta với hơn 700 nhà máy, xí nghiệp công nghiệp và 30.000 cơ sở sản xuất dịch vụ, gần 4.000.000 dân, mỗi ngày thải ra 1.000.000 m3 nước. Cũng như các thành phố khác của nước ta, hầu hết nước đều được xả trực tiếp vào hệ thống thoát nước mà chưa được  xử lý cục bộ. Nước thải đều được đổ vào các rạch Thị Nghè, Kinh Bến Nghé và đổ vào sông Sài Gòn. Các kết quả phân tích nước ở các công trình khai thác nước ở TP-HCM có chất lượng không tốt, ngoài việc bị nhiễm mặn, còn có pH thấp, nên phải huỷ bỏ
    .2. Các chất thải
    Các chất thải cũng rất đa dạng. Các nước phát triển các chất thải được chia ra : Các chất thải công nghiệp, trong đó tuỳ theo tính chất lại chia ra các thải hoá học, chất thải phóng xạ, chất thải cơ học v v : Chất thải sinh hoạt chủ yếu là rác thải do sinh hoạt tạo ra : chất thải nông nghiệp là phân của súc vật nuôi và các,  các chất thải bỏ của các sản phẩm nông nghiệp.
    Ở nước ta do kinh tế chưa phát triển các chất thải chưa nhiều và ở các thành phố đổ chung vào các bãi rác  mọi thứ phế thải cả công nghiệp, sinh hoạt. Còn ở nông thôn mọi chất thải đều được biến  thành phân bón.
    Các thành phố bãi thải tập trung gồm hai loại là bãi rác và các nghĩa địa. Ở nông thôn chỉ có các nghĩa địa. Ngoài ra ở các khu mỏ các bãi thải đất đá của các mỏ cũng được coi là các bãi thải.
    Trên các thành phố như đã nêu trên các baĩ rác, các nghĩa trang là những đối tượng gây nhiễm bẩn cho môi trường trong đó có nước dưới đất, rất tiếc đến nay mới chỉ có một vài một  vài công trình nghiên cứu song chưa có được các kết quả tốt.
    Hiện nay mỗi ngày ở Hà Nội thải khoảng 2000-3000 tấn rác các loại. Trong đó chỉ có 60-70% được thu gom mang đến bãi rác tập trung, còn lại được đổ tự do vào các cống rãnh thoát nước và đó cũng là một trong các nguyên nhân quan trọng làm cho hệ thống thoát nước ở các thành phố của ta làm việc kém hiệu quả.
    Các chất thải rắn không trực tiếp làm giảm chất lượng nước dưới đất. Các chất thải rắn phải trải qua một quá trình phân huỷ. Một số thành phần được hoà tan vào trong nước rồi ngấm xuống bổ xung cho nước dưới đất. Các bãi rác bao gồm đủ loại thành phần nên việc xâm nhập của chúng vào nước cũng đủ các hợp chất khác nhau. Trong điều kiện nhiệt đới ẩm như nước ta các vi sinh  vật động mạnh mẽ lại mưa nhiều nên ảnh hưởng của bãi rác đến nước dưới đất cũng xảy ra khá nhanh đặc biệt nhiễm bẩn các vi sinh vật và một số hợp chất của nitơ. Các thành phần khác do quá trình phân huỷ chậm hơn nên sẽ có ảnh hưởng chậm và kéo dài.
    Mặt khác ở nước ta hầu hết các bãi chôn lấp chất  đề không được thiết kế đúng tiêu chuẩn vệ sinh. Các baic hôn lấp chất thải đều được tận dụng các hồ cũ hoặc các thùng đấu lò gạch, nên khả năng gây ô nhiễm nước ngầm rất cao. Từ năm 1998 vấn đề xây dựng các bãi chôn lấp chất thải hợp vệ sinh đã được các nhà khoa học, các nhà môi trường và nhiều cấp chính quan tâm  đó là các dấu hiệu tốt cho việc bảo vệ nước ngầm.
    Ở các nước phát triển, khi xây dựng các bãi rác  ngưới ta không chỉ chú ý đến tác động của nó đến môi trường trên mặt như nước và không khí  mà còn đặc biệt quan tâm đến tác động của nó tới môi trường nước dưới đất. Thông thường người ta phải xây dựng các đáy. Các màng chống thấm, nước chảy ra từ các bãi thải phải thu gom  tiến hành xử lý rồi mới được đưa vào hệ thống mương  thải công cộng.
    Những bãi rác mặc dầu đã được lấp nhưng nó vẫn tiếp tục gây tác động đến môi trường nước ngầm. Một điều các nước rất quan tâm là không bao giờ được xây dựng các bãi rác ở miền cung cấp của nưóc dưới đất. Còn ở nước ta vấn đề này không được chú ý. Kết quả nghiên cứu của các nhà ĐCTV đều xác nhận rằng đoạn sông Hồng từ Sơn tây đến Vĩnh Tuy cắt vào tầng chứa nước Pleixtoxen, cả ở hai bờ sông Hồng. Trước đây người ta đã xây dựng môt bãi rác rất lớn với diện tích 21ha tại sông bãi bồi Hồng (bãi rác Bồ Đề). Việc xây dựng đã bãi rác này không tranh thủ ý kến của các nhà ĐCTV. Trên cơ sở các tài liệu về tính thấm nước của đất và các thông số ĐCTV của vùng, bằng phương pháp EGDA các ĐCTV đã tiền hành dự báo khả năng và thời gian các chất bẩn di chuyển từ bãi rác Bồ Đề đến công trình khai thác nước gần nhất chỉ trong vòng vài ba năm.do vậy bãi rác Bồ Đề chỉ được phép đổ các chất thải từ các công trình xây dựng, đó là một cách khắc phục tốt.
    Các nghĩa địa cũng được coi là trung tâm có khả năng gây ô nhiễm nước dưới đất. Vì vậy khi xây dựng các nghĩa trang người ta phải tiến hành điều tra ĐCTV một cách cẩn thận. Cùng như các bãi rác,  các nghãi trang không bao giờ được xây dượng ở miền cung cấp của tầng chứa nước và cũng phải gia cố chống thấm. Ở nước ta các nghĩa trang cũng được xây dựng không trên cơ sở điều tra ĐCTV. TRước đây nhiều nghĩa trang đã xây dựng ngay trong nội thành ở những khu dân cư đông đúc : Như nghĩa trang Nguyễn Công Trứ (Nhà máy rượu bai Hà Nội hiện nay), nghĩa địa Bạch Mai (Trường Đại Hoạc Bách Khoa hiện nay), nghĩa địa cuối phố Mạc Đĩnh Chi thành thành phố Hồ Chí Minh.
    Hiện nay ở Hà Nội vẫn còn các nghĩa trang lớn nằm trong  khu vực khai thác nước như nghĩa trang Văn Điển, nghĩa trang  Mai Dịch. Các nghĩa trang thường là các trung tâm gây nhiễm bẩn về các hợp chất hữu cơ các axit béo, các vi khẩn. Đén nay việc phân tích các hợp chất hữu cơ trong nước còn gặp nhiều khó khăn ngay cả đối với nhiều nước tiên tiến. Còn như ở nước ta thì hầu như chưa phân tích được. Hiện nay nhiều nước trên thế giới chú ý đến các hợp chất hữu cơ trong nước và sừ dụng là các dầu hiệu nhiễm bẩn. Việc xây dựng mạng lưới kiểm soát môi trường trở thành nhiệm vụ cấp bách của ta hiện nay. Trong các thành phố của ta có nhiều ao hồ bị lấp những nơi đó cũng là những nguồn gây bẩn cho nưóc dưới đất.
           Các bãi thải của các mỏ đặc biệt các mỏ lộ thiên thường có các bãi thải đất đá với khối lượng lớn. Ví dụ chỉ tính các mỏ khai thác lộ thiên Đèo Nai, Cọc Sáu, Núi béo, Cao Sơn mỗi năm thải ra hàng chục triệu tấn đất đá. Do mới đào bốc lên, một số các muối trong đất được nước mưa rơi xuống thấm qua hoà tan và đưa vào nước ngầm. Ngay cả một số các hợp chất khó hoà tan trước đây, khi được tiếp xúc với không khí sẽ bị õxy hoá chuyển thành các chất dễ hoà tan hơn và chuyển vào nước như đã nêu ở trên . Chính đó là nguyên nhân làm cho nhiều giếng nước của nhân dân quanh khu vực các bãi thải bị axit hoá và giầu S04 ,giầu các kim loại nặng nên không dùng được phải huỷ bỏ. Như khu vực bãi thải ở Cọc Sáu , Quảng Ninh Như vậy ở các thành phố, khu công nghiệp, nước thải công nghiệp, nước thải sinh hoạt là nguồn gây nhiễm bẩn nước dưới đất quan trọng nhất, ngoài ra các bãi thải hiện tại gồm các bãi rác, bãi tha ma cũng là những ổ gây suy thoái chất lượng nước dưới đất ở các công trình khai thác nước lân cận.
    3. Sử dụng rộng rãi phân bón thuốc trừ sâu, trừ cỏ dại ( Hoá chất bảo vệ thực vật - HCBVTV).
    Để đạt năng suất cao trong nông nghiệp, người ta sử dụng rộng rãi phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dại. Song chính  điều đó lại có tác dụng làm biến đổi thành phần hoá học của nước dưới đất.
    Trước đây nhân dân ta thường dùng phân chuồng, nhưng nhiều năm gần đây còn sử dụng rộng rãi phân hoá học . Phân bón được sinh vật phân huỷ thành những chất có lợi cho cây trồng, song các thành phần được phân huỷ thành các hợp chất đơn giản cũng ngấm xuống đất dẫn đến ô nhiễm nước. Trong đó gây ô nhiễm các chất hữu cơ rất phổ biến. Trong các phân bón hoá học, thường sử dụng các phốt phát, các nitơrat. Khi bón phân, các hợp chất này phần lớn được rễ cây hấp thụ, nhưng phần còn lại vẫn có khả năng theo nước tưới, nước mưa đi vào nước dưới đất.
    Để diệt côn trùng, sâu bệnh phá hoại mùa mạng cây cối người ta thường sử dụng các loại thuốc trừ sâu. Trong thuóc trừ sâu, diệt cỏ dại thường có chứa các chất độc làm chết các sâu bọ và cỏ dại. Các chất này một phần bị phân huỷ song phần lớn là rơi xuống đất, theo nước mưa và nước tưới ngấm xuống cung cấp cho nước ngầm. Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy có tới 50 - 60 % lượng thuốc trừ sâu, diệt cỏ dại vận động được xuống sâu. Trong nhiều hợp chất của thuốc sâu khi di chuyển lại được biến đổi trở nên độc hại hơn ở trạng thái ban đầu. Khi di chuyển theo nước ngầm xuống cung cấp cho nước ngầm, do nước ngầm vận động kém chúng được tích tụ dần làm suy thoái và dẫn đến ô nhiễm nguồn nước ngầm.
    Theo các tài liệu thống kê cho thấy ở Hà Nội trong những năm 90 lượng thuốc trừ sâu sử dụng nhiều gấp 50-60 những lần năm 60. Vào cuối thập kỷ 80 mỗi năm nông dân nước ta sử dụng khoảng 10.000 tấn các HCBVTV. Những năm đầu của thập kỷ 90 mỗi năm nông dân sử dụng đến 20.000 tấn các loại. Trong đó tập trung chủ yếu ở các đồng bằng đặc biệt là ở ĐBBB. Hiện nay trên 90% diện tích cây trồng được sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Trên các cánh đồng Việt Nam đang sử dụng khoảng 200 loại thuốc trừ sâu, 83 loại thuốc trừ bệnh, 52 loại thuốc trừ cỏ, 8 loại thuốc diệt thuốc chuột, 8 loại thuốc kích thích . Mỗi vụ sử dụng đến 0,5-0,7 kg ai/ha. Trong số các thuốc bảo vệ thực vật có nhiều khâ độc như DDT, Wofatox, moritor. Những vùng rau, vùng ngoại thành lượng thuốc sâu sử dụng rất cao như ở Đan Phượng lên đến 5-7 kg ai/ha mỗi vụ. Mỗi vụ rau ở ngoại thành Hà Nội trung bình phun thuốc sâu 28-30 lần.
    Theo các tài liệu thống kê ở ĐBSCL mỗi vụ sử dụng 3035 tấn thuốc trừ sâu. Trong đó các loại phốt phát hữu cơ (48%), carbamate (36%).
    Điều đáng  lo ngại là ở các vùng đồng bằng mực nước ngầm nằm rất gần mặt đất nên cao các sản phẩm phân bón và thuốc trừ sâu rất dễ xâm nhập tới nước dưới đất. Mặt khác việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu trên một phạm vi rộng, nên đã tạo  nên khả năng ô nhiễm có tính chất khu vực không còn hạn chế ở một diện tích hay một địa phương nhỏ nào.Thêm nữa nước ta thường dùng phương pháp tưới ngập (vì trồng lùa nước) nên lượng nước mang theo các sản phẩm phân huỷ của phân bón và thuốc trừ sâu càng có khả năng xâm nhập mạnh mẽ vào các tầng chứa nước. Vì vậy vấn đề cần quan tâm là phải nhanh chóng hướng dẫn nông dân sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu nào cho có hiệu quả và không ảnh hưởng xấu đến môi trường trong đó có môi trường nước ngầm.
    Các kết quả khảo sát  đã phát hiện trong nước dưới đất các thành phố, Hà Nội, Hải Phòng,Nam Định có các dấu hiệu ô nhiễm thuỷ ngân có thể là kết quả sử dụng nhiều thuốc sâu. Như chúng ta đã biết, ở ngoại thành, nông dân thường có điều kiện tiếp xúc vời khoa học kỹ thuật nhiều hơn, việc sản xuất nông nghiệp cũng mang tính chất hàng hoá từ sớm nên việc nâng cao năng xuất, bảo vệ mùa màng khỏi bị sâu bệnh được nông dân ngoại thành đặc biệt quan tâm. Vì vậy ở các vùng ngoại vi các thành phố,các khu công nghiệp người ta lại sử dụng nhiều phân bón, hoá học và cả phân tươi, thuốc trừ sâu các loại hơn hẳn các vùng nông thôn khác.Trong nhiều loại thuốc trừ sâu có mặt  các hợp chất thuỷ ngân. Có lẽ những  hợp chất thuỷ ngân trong thuốc trừ sâu cùng với  các hợp chất của chúng trong nước thải công nghiệp đã xâm nhập vào nước dưới đất làm cho các vùng ngoại thành các thành phố ở ĐBBB có hàm lượng thuỷ ngân cao hơn cácvùng nông thôn khác của đồng bằng.
    Trong vài năm gần đây việc nuôi tôm trên cát đã mang đời sống kinh tế cho nhiều hộ dân ở các vùng ven biển. Tuy nhiên trên quan điểm bảo vệ tài nguyên và môi trường cần phải có các cân nhắc cẩn thận. Vùng ven biển, trong các cồn cát thường chứa nước nhạt, đó là nguồn tài nguyên quý giá giải quyết cấp nước sinh hoạt cho nhân dân. Việc nuôi tôm trên cát đã làm mặn hoá các thấu kính nước nhạt đó  . Vì vậy nếu cứ để việc nuôi tôm trên cát không có quy hoạch không  quản lý chúng ta sẽ phải trả giá đắt sau này.
    4. Khai thác cá mỏ khoáng sản
    Khai thác các mỏ khoáng sản dẫn đến tháo khô một phần hay hoàn toàn nước ngầm ở phần trên của các lò hoặc moong khai thác làm cho mực nước ngầm hạ xuống hàng chục có khi hành trăm mét so với ban đầu. Mặt khác khi khai thác đã thay đổi môi trường tự nhiên thông thường từ môi trường khử thành môi trương oxy hoá dẫn đến biến đổi thành phần hoá học của nước, thông thừơng làm tăng nồng độ của các kim loại và nồng độ SO4 trong nước và giảm độ pH của nước.  Thí dụ nước lấy từ các moong khai thác mỏ Cọc Sáu pH trung bình 2,5-3,5 ; hoặc mẫu nước lấy từ lò thuộc mỏ Tân Lập  có pH chỉ bằng 1 và nồng độ SO4 lên đến 1000mg/l. Thêm vào đó lượng đất thải từ các công trường khai thác rất lớn làm biến đổi môi trường tự nhiên như đã nêu ở trên. Thí dụ chỉ trong vòng 30 năm khai thác lượng đất thải của các mỏ lộ thiên ở Hòn Gai - Cẩm Phả đã thải một lượng đất đá có thể phủ rộng 10km2 với bề dầy 10m.
    5. Xây dựng các công trình
    Trong những năm gần đây, việc đô thị hoá diễn ra rất mạnh mẽ ở nước ta. Đủ loại các công trình mọc lên, tự do,  cả nổi cả ngầm. Chính việc xây dựng các công trình đã có ảnh hưởng đáng kể đến sự suy thoái cả chất và lượng nước dưới đất ở các thành phố.
    Tác động của xây dựng các công trình đến sự suy thoái của nước dưới đất thể hiện ở nhiều khía cạnh.
    1- Quá trình xây dựng ở các thành phố đã làm giảm đáng kể diện tích ngấm của nước mưa xuống cung cấp cho nước ngầm. Ở nước ta trong các thành phố, đặc biệt  khu vực nội thành, nhà cửa san sát, đường phố chằng chịt, hầu như không có vườn cây. Nước mưa không còn chỗ để ngấm xuống cung cấp cho nước ngầm.
    Lượng nước mưa không còn cung cấp cho nước ngầm có thể xác định theo biểu thức.
                           Q =   . X. F/365.
    Trong đó :  - hệ số cung cấp của nước mưa cho nước ngầm.
    X - lượng mưa trung bình năm
    F - diện tích nhà của, hè, đường phố. (diện tích bị che phủ không cho nước mưa ngấm xuống cung cấp cho nước ngầm).
    Theo các thống kê sơ bộ, ở Hà Nội tổng diện tích bị che phủ (nhà của, đường xá, hè phố...)  khoảng 5000 ha : Lượng nước mưa trung bình năm 1700 mm. Hệ số cung cấp nước mưa cho nước ngầm 0,1như vậy lượng nước mưa cung cấp cho nước ngầm giảm đi do việc xây dựng khoảng 23.500 m3/ng. Thành phố càng mở rộng, tốc độ đô thị hoá càng nhanh, lượng nước mưa cung cấp cho nước ngầm càng giảm.
    2- Khi xây dựng nhà cửa phải xây dựng móng gia cố nền. Trong các vùng đồng bằng, hầu hết móng nhà cao tầng đều nằm trong đới bão hoà nước. Việc gia cố nền móng đã có tác dụng làm giảm tính thầm thậm chí làm mất tính thấm của tầng chứa nước. Ở những thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP-HCM, các nhà cao tầng trong những năm gần đây mọc  lên với tôc độ lớn. Nhà càng cao việc gia cố nền móng càng kiên cố và càng làm giảm nhanh tính thấm của đất đá trong các tầng chứa nước.
    Hiện nay ở nước ta,việc xây dựng các công trình ngầm ở các  thành phố cũng ngày càng tăng. Để chống nước làm hỏng các công trình  người ta phải xây dựng các màng chống thấm quanh các công trình, và càng đấy nhanh việc suy thoái về lượng của các công trình khai thác nước trong các thành phố.
    Tại Hà Nội, trong mấy năm gần đây, khu vực ngoài đê sông Hồng, nhà cửa mọc lên san sát, nhiều nhà cao tầng, nhiều công trình lớn có chiều sâu  chôn móng lớn, nhiều công trình phải gia cố nền khá sâu. Việc xây dựng không chỉ làm giảm tình ngấm nước như trên, mà còn tạo nên các “ màng chống thấm “ ngăn chặn khả năng cung cấp nước của sông Hồng cho tầng chứa nước đang khai thác. Mặt khác việc xây dựng đó còn góp phần làm bồi lắng dòng sông Hồng tăng cường sức cản lòng. Chình việc xây dựng đã góp phần quan trong làm giảm khả năng cấp nước cho các tầng chứa . Trong xây dựng phải đóng cọc, khoan khảo sát, khoan chôn cọc  ... Việc khoan các lỗ khoan như vậy hoàn toàn không theo các quy trình phải bảo vệ các tầng chứa nước. Ở nước ta đã có những quy định kỹ thuật cho các công trình khoan. Song thực chất các quy định đó chỉ có tác dụng đối với các lỗ khoan ĐCTV các loại. Còn đối với các lỗ khoan  xây dựng hoàn toàn không tuân thủ các quy trình kỹ thuật về bảo vệ nước dưới đất. Do vậy việc khoan các lỗ khoan  phục vụ xây dựng góp phần  làm suy thoái chất lượng của nước dưới đất. Thí dụ đẻ  xây dựng  cầu vượt  ngã tư Vọng người ta đã phải khoan hơn 70 lỗ khoan cọc nhồi với đường kính 1000mm sâu tới 45m. Từ nay đến  năm 2010 nếu xây dựng 10 cầu vượt trong khu vực nội thành sẽ phải khoan khoảng 1000 lỗ khoan tương tự. Thêm vào đó xây dựng hàng trăm nhà cao tầng , đường tầu treo Gia Lâm -Ngọc Hồi , chắc chăn sẽ phải khoan hàng chục ngàn lỗ khoan khảo sát địa kỹ thuật và chục ngàn lỗ khoan xử lý nền với đường kính hàng trăm, chắc chắn nước dưới đất của thành phố sẽ có các biến đổi không nhỏ. Hoặc tại thành phố Hồ chí Minh đã có dự án xây dựng đường xe điện ngầm. Việc xây dựng đường xe điện ngầm sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nước ngầm của thành phố cả về chất và lượng.
    Tóm lại, các nguyên nhân làm suy thoái nước ngầm rất đa dạng. Đối với  các bồn chứa nước chính của lãnh thổ nước ta. Đặc biệt ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng và các thành phố, khu đô thị  việc khai thác nước, thải nước thải và các chất thải, sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, và xây dựng các công trĩnh là các nguyên nhân có bản đưa đến việc suy thoái nước dưới đất cả chất và lượng.
    V.2. KHẢ NĂNG SỬ DỤNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT PHỤC VỤ CHO CÁC YÊU CẦU ĂN UỐNG, SINH HOẠT
    Từ bảng      và bảng      cho thấy lượng nước cho ăn uống, sinh hoạt đến các năm  2010, 2020 khá lớn. Tổng lượng nước yêu cầu cung cấp cho các địa phương cao nhất vào năm 2010 và 2020 biến đổi từ gần 100.000 m3/ng đến trên 1.000.000 m3/ng, modun yêu cầu cung cấp từ 1 m3/ng.km2 đến 1.200 m3/ng.km2. Trong đó yêu cầu cấp nước cho nông thôn các tỉnh biến đổi từ 40.000 m3/ng đến 200.000 m3/ng, cấp nước cho các thị xã, thị trấn biến đổi từ 10.000 m3/ng đến 2.000.000 m3/ng.
    Từ các yêu cầu cấp nước cao nhất vào năm 2020 và điều kiện ĐCTV, tài nguyên nước ở các địa phương, các điều kiện địa hình khác cho thấy:
    Xét về tổng quát, nước ngầm trên lãnh thổ nước ta có khả năng đáp ứng yêu cầu cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt của nhân dân.
    Theo kết quả tính toán, modun dòng ngầm nhỏ nhất trên lãnh thổ Việt Nam là 2,0 l/s.km2 = 173 m3/ng.km2. Trong khi modun yêu cầu cung cấp đến năm 2020 chỉ có thành phố Hà Nội đạt trên 1.000 m3/ng.km2 còn sau đó đến thành phố Hồ Chí Minh 700 m3/ng.km2 và Hải Phòng 200 m3/ng.km2.
    Ở các tỉnh Thái Bình, Nam Hà, Hải Hưng, Hà Tây modun yêu cầu cung cấp đạt trên 100 m3/ng.km2, và nhỏ hơn modun dòng ngầm nhỏ nhất khá nhiều. Các tỉnh còn lại ở trung du và miền núi, modun dòng ngầm thường đạt từ 5-7 l/s.km2 tương đương 430-600 m3/ng.km2, trong khi đó modun yêu cầu cung cấp đến năm 2010 chỉ biến đổi từ 10-70 m3/ng.km2. Như vậy có thể thấy ở trung du và miền núi, nước ngầm hoàn toàn đáp ứng khả năng làm nguồn cung cấp cho ăn uống, sinh hoạt.
    Ở đồng bằng, trong điều kiện tự nhiên nước yêu cầu cung cấp xấp xỉ trữ lượng động tự nhiên (theo modun dòng ngầm), tuy nhiên do nước ngầm ở tầng trên có quan hệ mật thiết với nước mặt nên sẽ xuất hiện trữ lượng cuốn theo và bổ xung cho quá trình khai thác, vì vậy cũng có thể thấy nước ngầm hoàn toàn có khả năng đáp ứng yêu cầu cung cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt của dân.
    Song lượng nước yêu cầu lại phân bố không đều và lượng nước tự nhiên cũng vậy. Vì vậy cần xem xét cho các yêu cầu cấp nước phân tán (nước nông thôn) và cấp  nước tập trung (nước thành thị) riêng.
    Đối với yêu cầu cấp nước nông thôn, nước ngầm có đủ khả năng đáp ứng ở hầu hết các vùng trong các địa phương khác nhau. Vì lượng nước yêu cầu cung cấp thấp hơn nhiều lần lượng nước tự nhiên, chất lượng nước không cao lắm, phương thức khai thác đơn giản (giếng, lỗ khoan tay, khơi dẫn mạch nước, lỗ khoan công nghiệp), chiều sâu các công trình khai thác nhìn chung không lớn.
    Chỉ một số vùng ở vên biển, nước ngầm bị mặn và phèn, không đáp ứng được yêu cầu cung cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt. Đối với những vùng khó khăn, có thể phải nới mở rộng giới hạn cho phép đối với nước và hàm lượng Clo cho nước ăn uống, sinh hoạt (tổng khoáng hoá đến 2 g/l và Cl = 900 mg/l). Thực tế nhân dân nhiều nơi đã sử dụng nước có độ tổng khoáng hoá 1,5-1,8 g/l để ăn uống, sinh hoạt. Ví dụ trong phạm vi thành phố Hải Phòng, diện tích những vùng nước ngầm bị mặn (vùng có mặt cắt thủy địa hoá kiểu AB/AB) chiếm diện tích khoảng 300 km2, ở những vùng này việc giải quyết nước uống thực sự khó khăn. Ở Thái Bình, Nam Định, Hà Nam, một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, một số huyện ĐB Thanh Hoá đều có một số vùng có điều kiện như vậy. Tuy nhiên để xác định đầy đủ và tương đối chính xác các vùng ven biển không có khả năng sử dụng nước ngầm làm nguồn cung cấp cho ăn uống sinh hoạt ở nông thôn chỉ có thể thực hiện trên các bản đồ tỷ lệ lớn 1:50.000 và lớn hơảmTên bản đồ định hướng chiến lược khai thác sử dụng và bảo vệ nước ngầm đó là những vùng được xếp vào vùng có tỷ lệ sử dụng nước ngầm nhỏ hơn 30%
    Ở miền núi tuy tổng lượng nước ngầm tự nhiên lớn hơn lượng nước yêu cầu cung cấp nhiều lần song cũng nhiều nơi việc sử dụng nước ngầm làm nguồn cung cấp nước cho ăn uống, sinh hoạt cũng gặp khó khăn. Đặc biệt ở các vùng đá vôi và núi cao. Lý do chủ yếu là lý do các bản làng ở quá xa các nguồn nước. Cũng như vùng ven biển, muốn xác định được những vùng có nước ngầm không có khả năng cung cấp đủ cho yêu cầu ăn uống, sinh hoạt phải tiến hành khảo sát trên các bản đồ tỷ lệ lớn 1: 50.000 đến 1:25.000 và lớn hơn.
    Đới với các nhu cầu cung cấp cho các thị trấn, thị xã, thành phố.
    Như trên đã nêu, sử dụng nước ngầm làm nguồn cung cấp cho ăn uống, sinh hoạt có nhiều ưu điểm hơn các nguồn nước khác. Song có lẽ do thói quen hoặc các lý do nào đó mà cho đến nay hầu hết các thị xã, thành phố ở nước ta vẫn sử dụng nước mặt làm nguồn cung cấp.
    Hiện tại và cả trong tương lai, các dòng mặt dễ bị nhiễm bẩn, như vậy các nguồn cấp nước dễ bị đe doạ, cần phải có cách nhìn nhận khác về sử dụng nguồn nước để cung cấp cho ăn uống, sinh hoạt.
    Thực tế trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có các thị xã, thành phố ven mới thực sự khó khăn khi tìm các nguồn cung cấp nước. Đó là các thành phố Hạ Long, Hải Phòng, Nam Định,  Thái Bình, Thanh Hoá, Vinh,  TX.Đồng Hới, Đông Hà,TP. Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, TX.Phan Rang Tháp - Chàm , TP.Phan Thiết, Vũng Tàu,TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên nếu nhìn nhận rằng, dẫn nước từ các khoảng cách từ 50-100 km là bình thường thì có thể nói tất cả các  thành phố, thị xã, ở Miền Bắc, Miền Trung đều có thể sử dụng nước ngầm làm nguồn cung cấp. Song rất tiếc, cho đến nay, các nhà quy hoạch cấp nước vẫn chỉ  muốn sử dụng các nguồn nước tại chỗ làm nguồn cung cấp. Chính vì vậy nước dưới đất đã không đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi của các nhà cấp nước, và vẫn với quan niệm như vậy sẽ dẫn đến chẳng đâu có nước để cung cấp nước cho thành phố ven biển.
    Trên Miền Bắc, các thành phố Hải Phòng, Nam Định, Hải Dương, thị xã Thái Bình, và thành phố Hạ Long hiện tại và trong tương lai, nước ngầm khó có khả năng đáp ứng yêu cầu cung cấp nước. Tuy nhiên, như trên đã nêu, nếu mạnh dạn thay đổi cách nhìn nhận về khoảng cách cấp nước thì có thể giải quyết được nhiều vấn đề. Để cấp nước cho Hải Dương, Hải Phòng có thể dẫn nước từ Hà Nội về , cấp nước cho Nam Định cũng có thể thực hiện bằng các giải pháp tương tự. Cấp nước cho Thái Bình có thể dẫn nước từ các vùng Đông Hưng về, Thanh Hoá từ các bãi Bồi ven Sông Mã, Vinh vùng bãi bồi ven sông Cả, Huế- Các bãi bồi ven Sông Hương, Đà Nẵng- các bãi bồi ven sông Thu Bồn....
    Ngay thủ Đô Hà Nội với lượng nước yêu cầu tăng lên khoảng 1.500.000 vào năm 2020 vệc cấp nước cũng sẽ khó khăn nếu cứ bố trí các nhà máy nước vào khu trung tâm. Song nếu chuyển các lỗ khoan khai thác nước ngầm ra ven sông thì lượng nước yêu cầu 1.500.000 m3/ng đến 2000.000m3/ng  vẫn có thể giải quyết được. Việc bố trí các lỗ khoan ven sông Hồng, sông Đuống (ở ngoài đê càng tốt)  sẽ cho trữ lượng cuốn theo lớn (hiện nay việc bố trí các lỗ khoan sát sông, trữ lựơng cuốn theo đạt 60-80% ). Đồng thời hạn chế phễu hạ thấp mực nước sẽ giảm hiện tượng sụt lún do quá trình khai thác nước ngầm gây nên. thêm vào đó nếu mạnh dạn áp dụng công nghệ khai thác nước ngầm bằng các hành lang thu nước bố trrí dọc theo các dòng sông thì lượng nước khai thác có thể tăng lên nhiều lần.
    Một số thị xã, ở trung du  và miền núi, việc sử dụng nước dưới đất làm nguồn sản xuất nước sạch là hoàn toàn thực tiễn. Ví dụ thành phố Thái Nguyên có thể khai thác nước từ các tầng chứa nước hang hốc karst khu vực Đồng Bẩm. Lạng Sơn có thể lấy nước từ các lỗ khoan trong tầng chứa nước C-P...
    Tuy nhiên muốn sử dụng nước dưới đất làm  nguồn cung cấp phải có các công  tác điều tra, thăm dò. Mặt khác khai thác không cần tập trung mà nên khai thác lẻ từ nhiều lỗ khoan và gom nước để xử  lý hoặc có các trạm nhỏ và hoà nước chung vào đường ống đến hộ tiêu thụ.
    V.3- KHẢ  NĂNG KHAI THÁC NƯỚC KHOÁNG, NÓNG PHỤC VỤ KINH TẾ DÂN SINH.
    Như trên đã nêu, ở lãnh thổ nước ta đã phát hiện hàng trăm nguồn nước khoáng, nước nóng, trong đó nhiều nguồn đã đưa vào khai thác sử dụng  phục vụ ăn uống, chữa bệnh, đóng chai làm nước giải khát  đã mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội quan trọng.
    Theo kết quả thống kê, ở nước ta các nguồn nước khoáng đã phát hiện được là một tài nguyên đặc biệt, có thể sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau.
    - Nước khoáng dùng để an dưỡng chữa bệnh- tất cả các nguồn nước khoáng ở nước ta đều có thể khai thác phục vụ mục đích này. ở Tây Bắc có đến trên 100 nguồn nước khoáng, do việc đi lại khó khăn nên việc xây dựng các nhà nghỉ quy mô vừa và lớn hiện nay chưa thuận lợi. Nên có thể sử dụng  để xây dựng các khu điều dưỡng quy mô nhỏ. Kết hợp an dưỡng, chữa bệnh với các trung tâm y tế cấp huyện rất thích hợp (ví dụ như các nguồn nước ở Trạm Tấu, Tú Lệ, Phong Thổ, Điện Biên... ).          
    Kết hợp an dưỡng và du lịch ,tương lai các tuyến đường số 6 đi Điện Biên- Lai Châu - Bình Lư- Tú Lệ-Than Uyên- Yên Bái sẽ đông đúc hơn. Trên tuyến đường này có rất nhiều nguồn nước khoáng nóng, không nên bỏ qua khi tổ chức các tuyến du lịch Tây Bắc. Cũng tương tự như vậy  đối với các nguồn nước khoáng ở Đông Bắc. Trên các tuyến Thái nguyên - Bắc Sơn - Lạng Sơn cũng có nguồn nước khoáng có thể đưa vào an dưỡng kết hợp du lịch. Tuyến Hà Giang - Tuyên Quang có nhiều nguồn nước khoáng phục vụ cả hai mục đích an dưỡng và chữa bệnh cho dân nhân địa phương và phục vụ du lịch, đóng chai làm nước giải khát và nước uống. Tuyến Xuyên Việt cũng có rất nhiều nguồn nước  khoáng nên khai thác kết hợp du lịch.
    Hiện nay ở tỉnh nào cũng sản xuầt nước khoáng đóng chai. Có nguồn nước khoáng hàng năm cung cấp đến trên 10.000.000 lít nước để đóng chai. Tuy nhiên việc đòng chai nước khoáng làm nước giải khát còn nhiều vấn đề cần kiểm tra. Song cũng cần mở  rộng việc sản xuất nước khoáng tự nhiên. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới người ta rất ưa chuộng nước khoáng tự nhiên - những loại nước khoáng sử dụng trực tiếp không qua xử lý. Những nguồn nước khoáng này yêu cầu phải đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh cao cả về sinh học và hoá học. Ở miền Bắc  có nhiều nguồn nước khoáng có thể đạt được các  yêu cầu đó. Cần đầu tư và xây lắp các xí nghiệp đóng chai phục vụ khách du lịch và xuất khẩu.
    - Sử dụng nước khoáng phục vụ các mục đích khai thác năng lượng như dùng để sấy dược liệu, chè, ấp trứng gà vịt, nuôi trồng thuỷ sản, giữ giống cá hoặc tưới ẩm cây, xử lý hạt giống... ở một số nguồn nước khoáng có nhiệt độ cao có thể  dùng để sấy nông sản, dược liệu như mạch Mỹ Lâm (Tuyên Quang) có nhiệt độ 630C, mạch Pomlot (Điện Biên) có nhiệt độ 730C, ấp trứng gà vịt như nguồn Tiên Lãng (Hải Phòng) 530C, nguồn Phù Nham ( Nghĩa Lộ) 430C, nguồn Kênh Gà 530C, nguồn Lò Vôi 1020C, Hội Vân 850C, Suối Nghệ 730C, nên khai thác nhiệt... Khai thác sử dụng tổng hợp các nguồn nước khoáng ở nước ta là hoàn toàn có khả năng và phải được chú ý và đầu tư vào các năm 2005-2010.
    V.4.ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC KHAI THÁC SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ NƯỚC NGẦM
    1.Định hướng chiến lược khai thác, sử dụng tài nguyên nước ngầm
    1. Nguyên tắc  chung
    1. Phải tiến hành điều tra, đánh giá đầy đủ chất và lượng nước ngầm có trên lãnh thổ đến các độ sâu cần thiết theo từng vùng lãnh thổ.
    Điều tra, đánh giá nước ngầm đã được ngành Địa chất tiến hành trong hơn nửa thể kỷ qua và đã có các thông tin tốt, tuy nhiên so với các nước tiên tiến  thì việc điều tra này còn quá ít và chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế đặc biệt trong sự  nghiệp “ công nghiệp hoá ” và “ hiện đại hoá ” đất nước trong các năm tới. Đến nay chúng ta đã tìm kiếm đánh giá trữ lượng chất lượng nước ở các mức độ khác nhau khoảng 200 vùng; bản đồ ĐCTV tỷ lệ 1: 200.000 mới phủ chưa được 40% diện tích toàn quốc; bản đồ ĐCTV tỷ lệ 1:50.000 còn quá ít.
    Để có thể khai thác, sử dụng và có các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm một cách có hiệu quả thì việc xây dựng các bản đồ ĐCTV đủ tin cậy là rất cần thiết . Đối với các vùng núi ít nhất các bản đồ phải có tỷ lệ 1: 250.000; vùng đồng bằng bản đồ phải có tỷ lệ 1:50.000; ở những vùng kinh tế trọng điểm hoặc những vùng nước ngầm có giá trị kinh tế cao phải có các bản đồ ĐCTV tỷ lệ 1:25.000.
    2. Phải tiến hành quy hoạch khai thác sử dụng nước ngầm một cách hợp lý và phải khoanh định các khu vực nước ngầm có giá trị kinh tế cao và trên các khu vực đó cấm tuyệt đối xây dựng các công trình có khả năng làm suy thoái chất và lượng nước ngầm; cũng như khoanh định các khu vực bảo vệ đặc biệt. Ở các khu vực này đặc biệt nghiêm cấm việc đổ thải các chất thải bất cứ ở dạng nào, không được xây dựng các cơ sở sản xuất có nguy cơ làm ô nhiễm nguồn nước. Khai thác phải đi đôi với việc kiểm soát, bảo vệ nguồn nước ( bảo vệ được hiểu với nghĩa không chỉ nhằm không cho nước dưới đất bị suy thoái vè chất và lượng mà còn bao hàm cả việc bổ sung nguồn nước tăng khả năng cung cấp của nó bằng các biện pháp bổ sung nhân tạo cho nó ).
    3. Nước dưới đất có chất lượng tốt và ổn định, nên phải giành ưu tiên số một là sử dụng nước dưới đất sản xuất nước sạch phục vụ các nhu cầu ăn uống sinh hoạt, các ngành có đòi hỏi chất lượng nước cao và mang lại hiệu quả kinh tế lớn.  Như vậy nước ngầm cần được ưu tiên cung cấp cho cac thành phố và khu công nhiệp. Chỉ những nơi nước ngầm phong phú, hoặc trong các điều kiện đặc biệt mới cho phép sử dụng nước ngầm vào các mục đích khác và phải được các nhà quản lý cho phép. Tuy nhiên không phải khu công nghiệp, thành phố nào cũng sẵn có nguồn nước ngầm để cung cấp . Vì vậy có thể dẫn nước ngầm từ các khoảng cách 50-100km để cấp nước cho đô thị và các khu công nghiệp thay thế các nguồn nước mặt đang sử dụng.
    4. Khai thác nước dưới đất cần tập trung vào các đối tượng có khả năng cấp nước lớn đó là các thành tạo bở rời, bazan và cacbonát và các thành tạo khác.
    Các thành tạo bở rời có khả năng chứa nước tốt  đông thời tạo nên các đônga bằng lớn của đất nước và là những nơi dân cư tập trung đông đúc là những trung tâm kinh tế văn hoá, hành chính, khoa học quan trọng nhất đất nước. Trong tương lai các hoạt động kinh tế ở các khu vực đồng bằng nói riên các vùng phổ biến các thành tạo bở rời nói chung sẽ sôi động nhất và nhu cầu sử dụng nước cũng cao nhất cả về lượng và về chất. Chính vì vậy chiến lược khai thác , sử dụng cũng như bảo vệ nước ngầm phải được tập trung trước tiên vào đối tượng này.
    Theo các kết quả nghiên cứu các nhà ĐCTV thì nước trong các thành tạo lỗ hổng bao gồm nước trong các thành tạo bở rời vùng đồng Bắc Bộ , vùng đồng bằng Nam Bộ, các cồn cát đụn cát ven biển và các thung lũng sông miền núi.
    Nước ngầm trong các thành tạo bở rời đồng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ đã được nêuỉtong các phần trước. Trong đồng bằng Bắc Bộ thì chiến lược khai thác nước cần tập trung vào tầng chứa nước Pleixtocen còn đồng bằng Nam bộ có thể tập trung vào các tầng chứa nước Pleixtocen giữa-muộn, Pleixtocen sớm, Plioxen và Mioxen tuỳ theo từng vùng cụ thể .
    Đối với các địa phương vùng ven biển Trung Bộ từ Thanh Hoá đến Bình Thuận  thì các ccồn cát ven biển có vai trò quan trọng trong định hướng chiến lược cấp nước cho đô thị và  nông thôn. Tuy nhiên cho đến nay việc nghiên cứu chúng còn nhiều hạn chế. Những nghiên cứu bước đầu về nước ngầm trong các cồn cát cho thấy:
    Những cồn cát và đụn cát ven biển được tạo nên từ cát có kích thước khác nhau, từ thô đến mịn, lẫn bụi - sét. Màu sắc của cát trong các cồn cát đụn cát cũng rất khác nhau: trắng (Quảng Trị ). Đỏ (Thuận Hải), vàng (ven biển phía Bắc ). Các cồn cát phát triển rộng rãi ở ven biển Nam Trung Bộ (từ Hà Tĩnh trở vào), còn ở phần phía Bắc phát triển kém hơn. Ở hai đồng bằng lớn còn gặp các cồn cát, giồng cát cổ nằm sâu trong lục địa. Bề dày các cồn cát biến đổi khác nhau, từ 5-7 m đến hàng chục, hàng trăm mét. Nước nhạt trong các cồn cát được nước mưa cung cấp và mặt nước có dạng cong( thấu kính lồi ). Nước ở cát đụn cát thoát ra các vùng trũng xung quanh, có nơi tạo thành các hồ nước nhạt như Bàu Tró, Bàu Giun, Bàu Thuỷ ở Bình- Trị -Thiên, Bàu Trắng ở Bình Thuận .
    Một đặc điểm đáng quan tâm là nước nhạt trong các cồn cát có dạng thấu kính. ở trung tâm các cồn cát bề dày lớp nước ngầm khá lớn tuỳ thuộc vào độ cao của cồn cát song mực nước ngầm lại nằm sâu. Thông thường bề dày lớp nước nhạt bằng khoảng 40 lần cốt cao tuyệt đối của mực nước ngầm tại điểm nghiên cứu. Ở các rìa của cồn cát, bề dày lớp nước ngầm nhạt nhỏ, song nước ngầm lại nằm rất gần mặt đất, các công trình khai thác sâu sẽ gặp nước mặn. Hệ số thấm của đất đá đạt 5-30 m/ng. Lưu lượng các lỗ khoan đạt 0,5- 81/s với trị số hạ thấp mực nước đạt từ 2-6 m.
    Nước có độ tổng khoáng hoá thường 0,3-0,5 g/1, loại hình hoá học của nước chủ yếu là clorua  natri.
    Nước nhạt ở các cồn cát có thể phục vụ cấp nước cho dân sinh, công nghiệp ở các vùng ven biển. Tuy nhiên cần có các đầu tư điều tra nghiên cứu và cần đàu tư áp dụng các công nghệ mới trong khai thác nước các cồn cát  như công nghệ xây dựng các công trình khai thác nằm ngang.
    Ở các vùng trung du và miền núi các thành tạo bở rời tạo nên các bãi bồi ven sông cũng như lấđầy một số hố trũng cổ tạo nên các cánh đồng khá rộng như cánh đồng Mường Thanh (thung lũng Nậm  Rốm); cánh đồng  Nghĩa Lộ (thung lũng Ngòi Thia ); Thịnh Lang - Hoà Bình (thung lũng Sông Đà) ở  Bắc Trung Bộ là các thung lũng Quỳ Hợp, Hương Sơn ...: Nam Trung Bộ có Ajun-Pa (thung thũng Sông Ba ) ...
    Nhìn chung các thành tạo bở rời này thường kéo dài theo hướng dòng chảy. Chúng tạo thành các bãi bồi nhỏ (dài một vài km, rộng 0,5-1 km ). Các tài liệu khảo sát cho thấy bề dày các thành tạo bở rời biến đổi rất mạnh trong phạm vi hẹp. Nhìn chung bề dày  thường chỉ 15-30m.   Tuy nhiên cũng có các thung lũng có bề dày khá lớn. Ví dụ thung lũng Tĩnh Túc có nơi bề dày ( đạt trên 70m) : Thung lũng Cheo Reo 40-50m và lớn hơn. Thành phần độ hạt biến đổi mạnh theo cả phương ngang và phương thẳng đứng. Thành phần hạt biến đổi không có quy luật  rõ ràng, song ở các thung lũng lớn và dài nhìn chung càng xuống sâu kích thước càng lớn, có thể chia thành 2 tập; tập trên thường dày 5-7m  gồm sét, sét cát, cát mịn. Tập dưới hạt thô gồm cuội sỏi, cát. Kích thước cuội đạt 2-10cm có khi lớn hơn. Các thành tạo bở rời nằm trên các nền đá gốc khác nhau.
    Ở những thung lũng sông, thành tạo bở rời nằm trên các thành tạo cacbonat, nước trong các thành tạo bở rời có quan hệ mật thiết với nước trong hang hốc karst. Tùy theo độ cao của các hang hốc karst với mực nước trong các thung lũng sông hiện đại mà các thành tạo bở rời có chứa nước hay không. Ví dụ ở Tĩnh Túc, mặc dầu các thành tạo bở rời có khả năng chứa nước tốt song lại không có nước do nước trong các thành tạo đó cung cấp cho các thành tạo cacbonat ở phía dưới.
    Ở những vùng có tồn tại lớp sét ngăn cách với đá gốc, hoặc đá gốc không thấm nước, nước trong các thành tạo bở rời khá phong phú như Tuyên Quang, Hoà Bình, Cheo Reo.
    Nước lỗ hổng ở các thung lũng sông thường có quan hệ thuỷ lực chặt chẽ với nước sông. Các tài liệu quan trắc ở Lâm Thao cho thấy tiến trình dao động mực nước trong các lỗ khoan hoàn toàn trùng hợp với tiến trình biến đổi mực nước Sông Hồng ở khu thăm dò.
    Các thành tạo bở rời ở các thung lũng sông có mức độ chứa nước khá tốt. Năng suất các lỗ khoan có thể đạt 200 m3/ng đến 1.200 m3/ng với đường kính ống lọc 110-135 mm. Các mạch có lưu lượng 1-21/s không hiếm. Hệ số thấm đạt từ n.10-0 –n.102 m /ng. Mực nước thường nằm sâu trên 5m và biến đổi mạnh mẽ theo mùa, theo mực nước của dòng chảy. Nước nhạt, có chất lượng tốt, có khả năng đáp ứng các yêu cầu sử dụng nước.
    Mặc dù đất đá có mức độ chứa và thấm nước tốt song phân bố hẹp nên chúng chỉ đáp ứng các yêu cầu cấp nước nhỏ và vừa với lượng nước khoảng <10.000 m3/ng. Tuy nhiên nếu nghiên cứu kỹ, có thể bố trí hệ thống các lỗ khoan khai thác tốt hợp lý, hoặc các công trình thu nước nằm ngang dọc theo sông tạo trữ lượng cuốn theo lớn thì các thành tạo bở rời ở các thung lũng sông cũng có thể đáp ứng các yêu cầu khai thác với công suất lớn hơn, có thể đạt vài chục nghìn mét khối ngày.  
    Theo Vũ Ngọc Kỷ, ở lãnh thổ nước ta còn phát hiện nhiều sông cổ, nước trong các sông cổ là nước lỗ hổng. Các tầng chứa nước thường phân bố kéo dài, chúng có mức độ chứa nước tôt, có thể đáp ứng các yêu cầu cấp nước vừa. Đặc điểm địa chất thuỷ văn của các thành tạo này đã được đề cập chi tiết trong các công trình của Vũ Ngọc Kỷ.
    Trong tương lai nươc ngầm trong các thung lũng sông như vậy cần phải được đầu ta nghiên cứu, đánh giá và khai thác phục vụ phát triển kinh tế dân sinh của các địa phương. Cũng như nước trong các cồn cát , do bề dầy tầng chứa nước trong các thung này không lớn nên cần nghiên cứu ứng dụng các công nghệ khai thác nước ngầm bằng các công thu nước nằm ngang.
    Các thành tạo cacbonat.
    Trong các thành tạo đá cứng nứt lẻ chứa nước thì các thành tạo carbonat rất phổ biến ở lãnh thổ nước ta , là một trong những đối tượng được quan tâm nhiều và nó có ý nghĩa khá lớn trong các hoạt động kinh tế của đất nước.
    Trên lãnh thổ Việt Nam  các vùng phân bố các thành tạo carbonát có dieenj tích gần 50.000km2  chiếm khoảng 15% diện tích toàn lãnh thổ. Bản thân các thành tạo carbonát là một khoáng sản có thể nói là khoáng sản chủ yếu của đất nước; đi kèm các thành tạo carbonát còn có nhiều loại khoáng sản như bauxit, sắt, sa khoáng, dầu mỏ, nước khoáng…; các vùng phát triển các thành tạo carbonát có vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, trong nó chứa giữ nhiều điểm du lịch với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng đất nước như Hương Tích, vịnh Hạ Long, Cúc Phương, Phong Nha, Bích Động, Cát Bà, Tam Thanh , Nhị Thanh…; trong vùng phân bố các thành tạo carbonát còn tiềm ẩn những tiền năng to lớnvề các hệ sinh thái, về động vật, thực vật, dược liệu quý hiếm. Những vùng phát triển carbonát cũng ẩn dấu nhiều hiểm hoạ cho việc xây dựng các công trình, các công trường khai thác mỏ , các công trình thuỷ điện…. Tóm lại các vùng phát triển các thành tạo carbonát có ý nghĩa kinh tế, xã hội to lớn trong sự nghiệp giữ nước trong quá khứ và phát triển kinh tế trong tương lai. Về mặt ĐCTV các thành tạo carbonát có những đặc biệt trong tàng trữ và vận động của nước. Tuy nhiên nó là đối tượng cần được chú trọng trong khai thác và bảo vệ nguồn tài nguyên nước ngầm.
    Các thành tạo carbonat trên lãnh thổ Việt Nam rất đa dạng và phổ biến. Trên các cơ sở những kết quả nghiên cứu và các quy luật chung về thành phần carbonat, Vũ Ngọc Kỷ và các cộng tác viên đá chia thành các nhóm:
    - Đá biến chất có chứa các lớp, các thấu kính carbonat
    - Trầm tích lục nguyên- carbonat
    - Trầm tích carbonat- lục nguyên
    - Trầm tích carbonat
    Các thành tạo carbonat được thành tạo ở khắp các thời kỳ địa chất khác nhau.Bảng 21.
    Nghiên cứu nước trong các thành tạo carbonat là vấn đề hết sức phức tạp. Trên cơ sở tổng hợp các tài liệu có thể nêu các nhận xét ban đầu về đặc điểm ĐCTV của các thành tạo carbonat.
    - Nước Karst thường phân bố rộng rãi ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, chúng không tạo thành một hệ thống thuỷ động lực thống nhất trong toàn bộ khối carbonat  mà chỉ tạo nên các dải, các đới chứa nước khe nứt Karst riêng biệt.
    - Tùy theo từng điều kiện cấu trúc địa chất, đặc điểm địa hình, địa mạo, đắc điểm khí hậu thuỷ văn của từng vùng mà các đới chứa nước khe nứt Karst phân bố khác nhau.
    - Các thành tạo carbonat có mức độ chứa nước rất không đều . Ở dọc các đứt gãy kiến tạo các đới tiếp xúc giữa đá carbonat với các đất đá khác : các mạng thuỷ văn, phần trũng của địa hình Karst phát triển mạnh hơn nên mức độ chứa nước của đất đá tốt. Ngược lại ở các nơi xa các điều kiện trên, ở giữa các đỉnh chia nước mức độ chứa nước của đất đá kém hơn hoặc không chứa nước. Các kết quả thống kê lưu lượng của các mạch nước ở các thành tạo carbonat cho thấy tỷ lệ các mạch nước có lưu lượng     <= 0,011/s  và các mạch nước có lưu lượng Q > 10 l/s chiếm tỷ lệ khá cao. Ở một số vùng có mức độ chứa nước rất tốt, ví dụ ở Rịa tới  70% số mạch nước cho Q >10 l/s. Ngược lại  nhiều nơi đi cả ngày không gặp mạch nước nào dù là lưu lượng rất nhỏ đi .
    Nước trong các thành tạo carbonat thường là nước nhạt (M thường khoảng 0,4-0,6g/1 ), loại hình hoá học chủ yếu là Bicarbonat- Canxi, pH =6,5-7,5 (nước trung tính), hàm lượng sắt nhỏ, độ cứng cao. Chỉ có một số vùng ven biển nước Karst bị mặn, tổng khoáng hoá có khi gặp 3-18 g/1.
    Nguồn cung cấp cho nước karst chủ yếu là nước mưa, nước mặt và nước dưới đất ở tầng chứa nước khác nằm tiếp giáp các thành tạo cacbonat. Nước thoát ra dưới các mạch lộ, nhiều khi mạch  có lưu lượng rất lớn, đạt tới mét khối /s như một dòng sông ngầm, hoặc thoát ra các mạng xâm thực địa phương.
    - Động thái của nước Kast biến đổi rất mãnh liệt theo các yếu tố khí tượng và địa hình. Sau những trận mưa lớn, nhiều mạch nước có lưu lượng tăng lên rất lớn, sau đó lại trở lại ổn định rất nhanh. Ví dụ ở vùng Rịa  đã quan sát thấy các mạch nước mùa khô hoàn toàn cạn, sau các trận mưa lưu lượng đã tăng lên 14,41/s.
    1 Đá biến chất có chứa các lớp hay thấu kính cacbonat AR, PR,
    PR, -1,
    -2, -3, -Pz Phổ biến với diện rộng ở cao Bằng -Quảng Ninh- Lào Cai- Hoà Bình . phân bố hẹp ở thanh hoá, Điện Biên, Hà Tĩnh     Đá hoa, đá vôi đôlômit đá hoa đá vôi sét   Xen kẹp với chiều dày 5-60m phần trên của phức hệ đá biến chất
    2 Trầm tích lục nguyên cacbonat O,O-S,
    PZ1-2, S2, D1,D1,D12
    D3,C3-P1,
    P2-T1,T1-2 T2,,T3,J1-2, J3-K1 Phổ biến ở các vùng Quảng Ninh, Cao Bằng, Hà Giang -Tuyên Quang,Điện Biên - Hà Tĩnh ít phổ biến hơn ở Phong Thổ -Tân Lạc, Lai Châu -Thanh Hoá, Hương Sơn. Rải rác ở các nơi khác       Đá vôi,đá vôi đôlômit đá vôi sét Xen kẹp với chiều dày đến 40-50m. Phần trên của các hệ tàng trầm tích lục nguyên
    3 Trầm tích
    cacbonat lục nguyên O-S, PZ1-2, S2-D1,D2, D3,C1,P2 Phổ biến ở Đồng Bằng Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, hạn chế ở Mường Tè, rìa Đông Bắc Bộ   đá vôi đá vôi đôlômit đá vôi sét Chuyển tiếp trên tràm tích lục nguyên cacbonat chứa các lớp trầm tích lục nguyên mỏng
    4 Trầm tích cacbonat C3,T2,C-P,C3-P1 Phổ biến ở Phong Thổ - Tân Lạc , Cao Bằng Quảng Ninh Thanh Hoá- Hương Sơn -Bình Sơn , Rải rác ở các nơi khác Đá vôi Chuyển tiếp trên trầm tích lục nguyên -Cacbonat Trầm Tích acbonat -lục nguyên`

    - Một diều đáng quan tâm là các thành tạo carbonat ở nước ta gặp khá nhiều các nguồn nước khoáng, nóng. Nói chính xác hơn - theo tài liệu khảo sát cho thấy rất nhiều nguồn nước khoáng nóng đặc biệt ở miền bắc có liên quan đến các thành tạo carbonat. Ví dụ : nước khoáng Quang Hanh, Tiên Lãng, Kênh Gà, Kim Bôi,Tú Lệ Trạm Tấu ...
    Các kết quả nghiên cứu bước đầu cho phép chia nước trong các thàn tạo carbonát lãnh thổ nước ta thành các vùng :
    a.Vùng nước karst Quảng Ninh -Nước karst chủ yếu tồn tại trong đá vôi tuổi C-P,có diện phân bố không liên tục. Dọc theo các đứt gãy địa phương hình cánh cung kéo dài từ Uông Bí đến ĐôngTriều : các dải đá vôi C-P các mức độ phát triển karst rất mạnh. Dọc theo các đứt gãy xuất hiện các mạch nước có lưu lượng từ 0,01 1/s đến trên 10 1/s, tỷ lệ các mạch nước có lưu lượng trên 11/s khá lớn, đạt trên 50% số trường hợp. Các lỗ khoan cho tỷ lưu lượng từ 0,2 đến 1,2 1/s.m  Chiều sâu phát triển karst đạt đến 120m. Tuy nhiên do các hoạt động kinh tế của con người, các điều kiện của con người, các điều kiện tự nhiên khác nên nhiều hang hốc khe nứt karst bị lấp bởi các vật liệu bở rời, trong nhiều hang gặp bùn sét , nên nhiều lỗ khoan không cho kết quả mặc dù gặp nhiều hang hốc như tại mỏ Cọc Sáu -Quảng Ninh.
    Thành phần hoá học của nước chủ yếu là bicarbonat với M<0,5 g/1. ở một số lỗ khoan ven biển gặp nước Clorua-Natri  với M=3-18 g/1.
    Trong các thành tạo carbonat ở vùng Quảng Ninh, Cục Địa chất đã có các phương án tìm kiếm, thăm dò nước ở các vùng Dương Huy - Quảng La, Mạo Khê- Uông Bí. Trữ lượng nước thăm dò trong các thành tạo  này đã có 12.262 m3/ng  được xếp vào chữ lượng cấp công nghiệp. Ngoài ra Cục Địa chất đã thăm mỏ nước khoáng Quang Hanh và tìm kiếm mỏ nước khoáng Đèo Bụt-Đá Chồng. Các mỏ này cũng đều nằm trong các trầm tích carbonat tuổi cacbon-pecmi.
    b- Vùng nước karst Bắc Sơn- Nước karst trong vùng Bắc Sơn chủ yếu vận động và tồn tại trong khe nứt hang hốc karst của đá vôi tuổi C-P, phân bố rất rộng rãi ở Bắc Sơn, Hữu Lũng, TX Lạng Sơn, La Hiên, Võ Nhai-Bắc Thái.
    Các điểm lộ địa chất thủy văn ở đây có lưu lượng từ 0,01 l/s đến 100 l/s, các lỗ khoan có tỷ lưu lượng 0,1 l/s.m đến 6,25 l/s.m. Các biển lộ và các điểm lỗ khoan có mức độ phong phú nước chiếm tỷ lệ trên 50% trong số các lỗ khoan có nước. Theo các tài liệu khoan thăm dò nước thì chiều sâu phát triển karst đến 100 m. Ở các độ sâu trên 100 m mức độ chứa nước giảm hẳn do mức độ phát triển các khe nứt karst giảm. Dọc theo các đứt gãy, xuất hiện nhiều mạch nước và các lỗ khoan có lưu lượng lớn. Ngay cả trong mùa khô, nhiều mạch nước vẫn có lưu lượng hàng chục lít/giây như Mỏ Gà-Võ Nhai : Mắt Rồng (Đồng Hỷ): Xa Đán, Mỏ Tào, Bơ Đin v.v... các kết quả thăm dò của Cục Địa chất tại khu vực Đồng Bẩm, Trại Cau đã xác định được trữ lượng công nghiệp trong các thành tạo carbonat của vùng này 65.696 m3/ng.
    Hiện nay tại Thị xã Lạng Sơn, vùng huyện Võ Nhai, Đồng Hỷ đang khai thác nước karst phục vụ cấp nước cho dân sinh và công nghiệp.
    Nước karst ở Bắc Sơn có tổng khoáng hoá nhỏ, hầu hết các mẫu nước cho M <0,5g/l, loại hình bicarbonat canxi.
    Như trên đã nêu, trong những năm gần đây do quá trình khai thác rừng, khai thác mỏ bừa bãi đã gây tác hại đến nước karst trong vùng. Nhiều lỗ khoan gặp hamg hốc karst nhưng bị sét, bùn lấp đầy, nước khai thác nên quá đục không thể sử dụng được như vùng Hữu Lũng.
    c. Vùng  nước karst Đông Khê-Trùng Khánh- Nước karst ở vùng Đông Khê-Trùng Khánh vận động tồn tại trong các khe nứt hang hốc karst của các thành tạo carbonat có tuổi C-P, P2, phân bố rộng rãi ở Đông Khê, Hà Giang, Quản Bạ, Lang CaPhu...
    Ở vùng này nước ngầm nằm khá sâu, các hang hốc karst không chỉ thu hút nước mưa, mà ngay cả nước mặt cũng bị hút xuống các hang hốc karst nằm  sâu. Các mạch nước xuất lộ ở đáy các thung lũng và lưu lượng nhỏ hầu hết là <0,5 l/s, chỉ ở sát các đứt gãy kiến tạo mới gặp các mạch nước có lưu lượng lớn hơn(đến chục lít/ giây).
    Các tài liệu thăm dò cho thấy ở vùng Cao Bằng karst phát triển mạnh đến độ sâu trên trăm mét .  Ở các độ sâu 40-45 m nước khá phong phú. Các lỗ khoan cho tỷ lưu lượng 0,1-0,3 l/s.m. Nước nhạt (M<0,5l/s) loại hình chủ yếu là bicarbonat  canxi. Nước mưa là nguồn cung cấp chủ yếu cho nước karst ở vùng này. Các hệ thống sông Bằng Giang, Sông Năng, Hồ Ba Bể là nơi thoát nước karst trong vùng.  Vùng Hà Giang, nước karst chủ yếu tồn tại trong các đá hoa, đá vôi hoa hoá có tuổi Cambri giữa (C2) . Độ sâu phát triển karst đến  vài trăm mét. Tại Hà Giang đã thăm dò và xác định được trữ lượng nước cấp công nghiệp trong các đá vôi C2là 5.551 m3 /ng trong đó cấp A là 2.846 m3/ng.
    d- Vùng nước karst Sơn La -Mộc Châu  - Nước dưới đất trong các thành tạo carbonat vùng Mộc Châu -Sơn La tồn tại và vận động trong các khe nứt, hang hốc karst của đá và chủ yếu có tuổi Triat giữa thuộc hệ tầng Đồng Giao (T2 đg) phân bố rất rộng rãi Mộc Châu, Sơn La, Phong Thổ. Các đá vôi ở vùng  này có độ cao khá lớn, thường từ 600-1000 m. Nước phân bố không liên tục và các mạch lộ có lưu lượng 0,002 l/s đến hàng chục l/s. Cá biệt có các mạch đạt trên 100l/s. Những hố sụt karst, những mạch lộ có lưu lượng lớn thường phát hiện dọc các đứt gãy kiến tạo. Ví dụ hố sụt gần bệnh viện Mộc Châu có đường kính 30 m, sâu trên 10 m hút nước với lưu lượng ổn định 30  l/s mực nước chỉ hạ thấp có 0,12 m. Các tài liệu khoan thăm dò nước và đo vẽ thành lập bản đồ ĐCTV cho thấy, nước karst phong phú ở độ sâu 100 m, ở độ sâu lớn hơn mức độ phong phú giảm đi.Tuy nhiên các tài liệu cũng cho thấy ở các độ sâu 60-80 m nước trong các lỗ khoan về mùa khô rất ít, còn mùa mưa lại rất phong phú. Ở các độ sâu lớn hơn lưu lượng nước không lớn lắm song lại khá ổn định. Điều đó cho thấy ở các độ sâu 60-80 m các thành tạo này vẫn chỉ nằm trong đới dao động theo mùa chứ chưa nằm hẳn trong đới vận động sâu.
    Mức độ chứa nước thay đổi mạnh ở vùng Sơn La, tỷ lệ các lỗ khoan gặp nước khá thấp, ở Mộc Châu tỷ lệ các lỗ khoan gặp nước đã khá lớn. Tỷ lưu lượng các lỗ khoan gặp nước thường từ 0,2-1,0 l/s.m, đôi khi lớn hơn. Nước có M ~ 0.1=0,4 g/l, thành phần bicarbonat-canxi, đôi khi gặp nước bicarbonat-sulphat. Nước được nước mưa cung cấp và thoát ra các mạch nước cùng mạng xâm thực địa phương.
    Các hiện tượng hang hốc karst bị bùn sét lấp làm cho nhiều lỗ khoan mặc dù gặp hang hốc cactơ nhưng chứa nước kém, hoặc nuớc từ các hang hốc karst chảy ra trong mùa mưa có độ đục rất lớn do tác động của các hoạt động phá rừng cũng xảy ra ở vùng karst này. Đặc biệt trong trận bão lụt ở Sơn La năm 1992 cũng liên quan đến các hoạt động của nước trong các hang hốc karst.
    Trong thập kỷ 60-70, Bộ Nông nghiệp đã khoan nhiều lỗ khoan khai thác nước trong các thành tạo carbonat tuổi T2 đg ở vùng Sơn La, Mộc Châu phục vụ cấp nước cho các nông trường Tô Hiệu, Mộc Châu. Nhiều lỗ khoan hiện nay không hoạt động vì không được bảo dưỡng thường xuyên.
    e- Vùng nước karst Hoà Bình-Ninh Bình- Ở vùng này, nước tồn tại, vận động trong các hang hốc khe nứt hang hốc karst của đá vôi chủ yếu có tuổi T2 thuộc hệ tầng Đồng Giao, ngoài ra còn có tuổi C-P, D2.
    Các thành tạo carbonat ở đây có mức độ chứa nước tốt. Các mạch lộ có lưu lượng từ 0,02 l/s đến 20 l/s, không hiếm các mạch nước có lưu lượng đến 100 lít/giây. Các lỗ khoan phát hiện nước karst phong phú đến độ sâu 100 m. Ở vùng Đính - Rịa các lỗ khoan các mạch lộ có lưu lượng lớn phát hiện dọc đứt gãy (có tới 70% số mạch lộ có lưu lượng  Q>10 l/s). Còn ở Bỉm  Sơn có 9 trong số 14 lỗ khoan phong phú nước đều gặp trong các đứt gãy tầng T2đg.
    Tỷ lưu lượng các lỗ khoan biến đổi từ 0,05-1,2 l/s m. Động thái nước karst ở đây biến đổi mạnh. Tại Bỉm Sơn đã quan sát lưu lượng các mạch nước trong mùa mưa lớn hơn trong mùa khô đến 100 lần.
    Nước dưới đất có M biến đổi từ 0,2 đến 0,4 g/l, loại hình chủ yếu là bicarbonat canxi. ở phần Nam gặp nước có M đạt 3-8 g/l, thành phần clorua natri. Nhìn chung nước dưới đất có các khe nứt, hang hốc karst của các đá vôi thuộc hệ tầng Đồng Giao ở Tây Bắc có các đặc điểm cơ bản sau:
    - Mức độ chứa nước có xu hướng giảm dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam, điều này được phản ánh qua các tài liệu:
    + Số lượng lỗ khoan gặp nước từ Sơn La đến Mộc Châu, Xuân Mai, Đồng Giao tăng lên.
    + Tỷ lưu lượng các lỗ khoan cũng tăng lên theo hướng đó.
    - Chiều sâu gặp nước karst giảm theo hướng Tây Bắc Đông Nam. Ở Sơn La, Mộc Châu các lỗ khoan gặp đới chứa nước ổn định thường ở độ sâu 60-80 m và 80-100 m. ở Xuân Mai chỉ ở các độ sâu 50-60 m xuống phía Nam chiều sâu các lỗ khoan nhỏ hơn 50 m đã gặp các đới chứa nước phong phú.
    - Theo hướng Tây Bắc-Đông Nam độ tổng khoáng hóa của nước có xu hướng tăng dần, loại hình hóa học của nước chuyển dần từ bicarbonat sang hỗn hợp bicarbonat- clorua và clorua.
    e.Vùng nước karst Kẻ Bảng -Khe Mang- Ở vùng này nước vận động trong khe nứt, hang hốc karst của đá vôi tuổi C-P, ngoài ra còn vận động trong đá vôi D2, S2-D1 và T2 cũng như các vùng khác, đới chứa nước karst phong phú ở độ sâu nhỏ hơn 100 m. Các lỗ khoan có q< 0,01 đến 1,0 m/s.m. ở vùng sâu trong lục địa gặp nướ nhạt, vùng ven biển gặp nước mặn.
    f. Vùng nước karst Hà Tiên-Kiên Lươn - Nước dưới đất ở vùng này tồn tại và vận động trong hang hốc karst trong các thành tạo carbonat có tuổi PZ1-2 (C-P, S2-D1) phân bố ở Hà Tiên, Kiên Lương. Các tài liệu khoan cho thấy đới karst phát triển mạnh không quá độ sâu 100 m. Nước có M<0,5 g/l loại hình hóa học của nước là bicarbonat canxi. ở Hà Tiên,Kiên Lương đã có nhiều lỗ khoan khai thác nước lẻ với lưu lượng khoảng 250 m3/ng cho mỗi lỗ khoan.
    Ngoài các vùng nước karst nhỏ nêu trên, ở miền ĐCTV Nam Trung Bộ cũng gặp một vùng nước karst nhỏ phân bố ở vùng Ngũ Hành Sơn-Đà Nẵng có tuổi J.
    Nhìn chung trên lãnh thổ nước ta, diện tích đá vôi khá lớn, khoảng 50.000 km2. Việc nghiên cứu đặc điểm ĐCTV các vùng karst còn chưa được quan tâm đúng mức. Nước dưới đất ở các vùng karst hóa có thể làm nguồn cung cấp nước khá lớn. Tổng trữ lượng nước karst đã được Cục Địa chất đánh giá qua các phương án thăm dò, tìm kiếm, đạt 186.740 m3/ng, Bộ Nông nghiệp ~38.000 m3/ng trong đá carbonat. Trong vài năm gần đây, các lỗ khoan khai thác nước trong các thành tạo carbonat tăng lên khá nhiều. Các lỗ khoan cho công suất từ ~100-hàng nghìn mét khối/ngày: như thị xã Lạng Sơn, Đồng Giao, Sơn La, Bắc Thái, Quảng Ninh.
    Các tài liệu gần đây cũng cho thấy hậu quả tiêu cực của việc phá rừng và khai thác bừa bãi đã ảnh hưởng đến nước trong các vùng karst hóa.
    Trong mấy chục năm gần đây, nhiều công trình thủy lợi, thủy điện, các công trình xây dựng đã được thi công trên các vùng phát triển karst. Như công trình thủy điện Hoà Bình, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Tràng Kênh... Khảo sát các công trình này cho thấy đặc điểm ĐCTV của các vùng đó rất phức tạp và gây khó khăn không ít cho quá trình thi công và bảo quản sau này. Có những đập nước sau khi xây dựng, nước trong hồ đã hoàn toàn mất hẳn do thấm từ hồ vào các hang hốc karst ở đáy hồ như ở Lạng Sơn. Hiện nay nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đập Hoà Bình cũng đang bị thấm mất nước qua các khe nứt và hang hốc karst trong đá vôi ở quanh hồ. Nhiều người cũng cho rằng việc khai thác mỏ sắt Thạch Khê đang gặp khó khăn lớn nhất là vấn đề nước trong các hang hốc karst trong vùng.
    Tóm lại, ĐCTV trong các vùng karst hóa là một trong các vấn đề phức tạp nhất của địa chất thủy văn. Cần phải được nghiên cứu sâu sắc toàn diện và phải kết hợp chặt chẽ với nhiều ngành mới cho các kết quả tốt phục vụ đắc lực cho nền kinh tế quốc dân.
    3. Các thành tạo Bazan
    Các thành tạo phun trào bazan Kainozoi phân bố rất rộng rãi ở Nam Trung Bộ tạo thành các Cao Nguyên rộng lớn ở KonTum, Gia Lai, Đak lak, Lâm Đồng, Đồng Nai, Sông Bé được gọi là Tây Nguyên, ngoài ra còn phân bố rải rác ở Bắc Trung Bộ như Gio Linh, Hồ Xá,Tây Hiếu.
    Các kết quả tìm kiếm, thăm dò nước dưới đất trên các cao nguyên bazan trong hơn 30 năm nay cho phép rút ra một số nhận định tổng quát về đặc điểm cơ bản về ĐCTV của các thành tạo bazan ở Tây Nguyên.
    1- Các thành tạo bazan có bề dày từ chục đến hàng trăm mét, được hình thành từ nhiều trung tâm phun trào khác nhau, từ nhiều pha, nhiều đợt phun trào đã tạo nên các tập bazan lỗ hổng xen kẹp bazan đặc xít và các sản phẩm phong hoá của chúng rất phức tạp, nằm phủ lên các thành tạo cổ thuộc cấu trúc móng khác nhau -Địa khối KonTum ở phần Bắc ; đới Srepok ở phần trung (Pleicu, Buôn Mê Thuột, đới hoạt hoá Mezozoi Đà Lạt ...,chúng tạo nên các bồn chồng ĐCTV trên các khối ĐCTV KonTum - Tây Sơn: trên phức bồn ĐCTV Srepok và trên á phức khối ĐCTV Đà Lạt.
    2- Mức độ chứa nước của các thành tạo bazan biến đổi mạnh mẽ theo cả phương thẳng đứng và phương nằm ngang. Nhiều nơi gặp các mạch nước lưu lượng rất lớn (hàng chục lít/ giây ), bên cạnh có các mạch nước có lưu lượng rất nhỏ - chỉ vài phần trăm l/s.
    Ví dụ kết quả thống kê gần 200 mạch nước ở vùng Pleicu - Buôn Mê Thuột cho thấy 21% số mạch nước thuộc loại giàu nước và có 65% mạch nước thuộc loại nghèo nước (trong các thành tạo bazan Neogen -Đệ Tứ) còn trong các thành tạo bazan Đệ Tứ các số liệu tương tự là 40% cho mỗi loại.
    Ở vùng Lâm Đồng có tới 79% trường hợp số lượng các lỗ khoan và mạch nước ở thang nghèo nước đối với các Bazan Đệ Tứ, và 88% đối với Bazan Neogen -Đệ Tứ.
    Ở vùng Bắc tỷ lệ nghèo nước đạt 59%, giàu nước 32%, chỉ có 9% các trường hợp ở mức độ chứa nước trung bình.
    Thực tế khoan thăm dò tìm kiếm nước ở Tây Nguyên gặp không ít trường hợp ở phần trên gặp các tập chứa nước tốt, nhưng khoan sâu lại gặp bazan nứt nẻ không chứa nước, nên nước ở các tập chứa nước ở phần trên thấm xuống các đới nứt nẻ phía dưới làm cho mực nước tụt xuống rất sâu, có khi giảm từ 15-20 m xuống 50-60 m. Có thể coi các thành tạo bazan không tạo nên một hệ thống thuỷ động lực thống nhất. Hiện tượng trên được tạo thành do sự nứt nẻ không đồng đều với sự xen kẹp không có quy luật giữa các tập bazan lỗ hổng, phun nổ sau phá vỡ và làm nứt nẻ các tập bazan đã được hình thành trước đó ở dưới sâu cũng như các hoạt động tân kiến tạo gây nứt nẻ vò nhàu các tập bazan ở phần  dưới của mặt cắt.
    3- Các tài liệu khảo sát đctv và quan trắc nước dưới đất trong các thành tạo cho thấy : Biến trình thay đổi của mực nước dưới đất diễn ra chậm hơn biến trình của lượng mưa từ 1-4 tháng tuỳ theo bề dầy đới phong hoá, độ dốc địa hình. Nhiều nơi ở Tây Nguyên có hiện tượng “ lụt nước ngầm” tức là vào mùa khô khi hết mưa một số nơi mực nước ngầm dâng cao gây ảnh hưởng đến sản xuất- lụt “
    Hầu hết các nhà ĐCTV đều thừa nhận, nước mưa đóng vai trò quyết định trong việc bổ xung cho nước dưới đất của vùng. Nên hiện tượng trên được giải thích cho sự thay đổi tính thấm của đới phong hoá của các thành tạo Bazan. Khi chưa bão hoà nước các sản phẩm phong hoá của bazan có tính thấm khá lớn. Vì vậy vào đầu mùa mưa, nước mưa ngấm xuống bổ xung cho nước dưới đất rất mạnh.  Nhưng khi đạt bão hoà thì hầu như không thấm nước, còn thoát nước từ sét rất chậm, nên kết thúc mùa mưa mực nước ngầm mới dâng cao.
    4- Thành phần hoá học và tổng khoáng hoá của nước biển đổi phụ thuộc vào thời gian tồn tại trong đất đá. Nước từ các mạch nước hầu hết từ có tổng khoáng hoá rất nhỏ, thuộc loại nước siêu nhạt (M<0,1 g/l), loại hình hoá học phổ biến là bicarbonat - clorua ,clorua. Nước trong các lỗ khoan có độ tổng khoáng hoá cao hơn (M=0,2 -0,3 g/l): loại hình hoá học chủ yếu là bicarbonat.
    a. Nước dưới đất trong các thành tạo Bazan vùng Kon Tum - Kon Hà Lừng
    Bazan ở vùng này tạo nên các cao nguyên Kon Hà Lừng, Kon Phong và rải rác ở Sơn Tịnh, Ngọc Linh, Ba Làng An... Trong vùng này các bazan trẻ (QII-IV) phân bố hạn chế (khoảng 90km2), còn các thành tạo Bazan cổ (N2-QI) phổ biến hơn (hàng trăm km2), chúng phủ không khớp đều nên các thành tạo xâm nhập, biến chất cổ thuộc địa khối Kon Tum. Bề dày các thành tạo bazan đạt trên 100 m. Các mạch nước khá phổ biến và có lưu lượng từ 0,01 đến trên 10 l/s. Thường gặp các trị số <0,5 l/s (50% trường hợp) và >1,0 l/s) (32% số trường hợp).
    Tỷ lưu lượng các lỗ khoan biến đổi từ 0,01 l/s.m đến > 0,5l/s.m, phổ biến là > 0,2 l/s.m. Độ sâu mực nước từ 15 m đến phun cao hơn mặt đất.
    Nước nhạt với độ khoáng hoá < 0,3g/l. loại hình hoá học chủ yếu là bicarbonat và bicarbonat -clorua.
    b.Nước dưới đất trong các thành tạo Bazan vùng Pleicu Buôn Mê Thuột.
    Đây là vùng phổ biến bazan nhất. Chúng tạo nên các cao nguyên Pleicu - Buôn Mê Thuột, Đak Nông. Bao gồm cả bazan cổ (N1-QI) đều rất phổ biến và với diện tích hàng nghìn km2. Các bazan này phủ không khớp đều nên các thành tạo Jura và Trias thuộc vùng kiến tạo Srepok. Bề dày các thành tạo bazan ở đây rất lớn, tại Pleicu đã khoan trên 300m chưa hết bazan, các tài liệu địa vật lý cho sự báo bề dày lớp bazan đạt trên 400 m.
    Các bazan ở đây tạo nên các tập bazan lỗ hổng xen kẹp bazan đặc xít, không theo quy luật nào. Trong các tập bazan còn gặp không ít các đới phong hoá (có lỗ khoan gặp đến 10 tập phong hoá ), điều đó chứng tỏ các phun trào bazan sau một đợt phun lại có đợt ngừng nghỉ nên đá bị phong hoá. Lớp vỏ phong hoá trên cùng khá dày 10-20-30 m, đặc biệt có nơi đến 50 m.
    Trong các thành tạo bazan phát hiện nhiều mạch nước có lưu lưọng từ 0,01 đến ~100l/s.
    Tỷ lệ các mạch nước và các lỗ khoan được xếp vào thang giàu dưới nước 27,8%, thang nghèo nước đạt tới 58%.
    Các kết quả khoan cho thấy tỷ lưu lượng các lỗ khoan biến đổi từ 0,01l/s.m đến 51/s.m. Tỷ lệ các lỗ khoan có tỷ lưu lượng nhỏ (<0.1 l/s.m) và >0,5l/s.m chiếm khá nhiều. Các kết quả nghiên cứu cũng xác nhận trong các bazan trẻ thì ở khối bazan ở Buôn Mê Thuột có mức độ chứa nước tốt hơn khối bazan ở Pleicu.
    Mực nước ngầm biến đổi từ 5-10m,có nơi đến 30m. Nước trong các thành tạo bazan có độ tổng khoáng nhỏ. ở các mạch nước phần lớn nước có M<0,1g/l, loại hình hỗn hợp bicacbonat -clorua  hoặc clorua- bicarbonat. Trong các lỗ khoan nước có thường từ 0,2-0,4g/l, loại hình hoá học phổ biến là bicarbonat.
    c. Nước trong các tạo thành bazan vùng Bảo Lộc -Đức Trọng.
    Các thành tạo bazan vùng Bảo Lộc -Đức Trọng phân bố rất rộng rãi ở khu vực Bảo Lộc, Đức Trọng, Xuân Lộc ..., bao gồm cả bazan trẻ (QII_IVvà bazan cổ (N2-QI ), với bề dày trên 100 m, các bazan này phủ không chỉnh hợp nên các đá gốc có tuổi khác nhau như Jura, Neogen hoặc các magma xâm nhập thuộc hệ tầng Đơn Dương, Định Quán trong đới hoạt hoá Mezozoi Đà Lạt.
    Các tạo thành bazan lỗ hổng , bọt xốp, đặc xít xen kẹp nhau không theo quy luật rõ ràng. Trong các tập bazan có xen kẽ nhiều tập sản phẩm phong hoá của bazan. Đó cũng là nguyên nhân dẫn đến hiện tượng biến đổi mực nứơc rất mạnh trong các lỗ khoan vùng Tân Rai -Bảo Lộc, Đức Trọng...
    Nhìn chung mức độ chứa nước của các thành tạo bazan vùng này kém hơn vùng bazan nêu trên (~80% số mạch nước có lưu lượng nằm trong thang chứa nước kém)và hơn 10% số mạch nước có lưu lượng nằm trong thang dài nước. Loại hình hoá học của nước chủ yếu là bicarbonat  - clorua vời M<0,1 g/l đối với nước trong các mạch nước và nước bicarbonat với M = 0,20-0,3g/l đối với nước trong các lỗ khoan.
    Các kết quả nghiên cứu ĐCTV ở vùng Tân Rai - Bảo Lộc xác nhận có các hoạt động tân kiến tạo đến các thành tạo bazan làm tăng khả năng lưu thông  của nước trong các khối bazan dọc theo các đứt gãy kiến tạo nằm dưới lớp phủ bazan.
    Trên vùng bazan này hiện đang khai thác nước khá nhiều. Ở vùng Xuân Lộc đã có hàng trăm lỗ khoan khai thác nước phục vụ ăn uống và tưới cà phê. Việc khai thác không quản lý này đã gây hao hụt mực nước nghiêm trọng.
    Tóm lại, các thành tạo bazan có mức độ chứa nước khá tốt. Nước trong đó có chất lượng tốt, có khả năng đáp ứng các yêu cầu sử dụng nước khác nhau, Vì vậy nước trong các thành tạo bazan phải được coi là đối tượng quan trọng trong khai thác và bảo vệ của đất nước.
    5. Đa dạng hoá các phương thức khai thác để tận thu các nguồn nước phục kinh tế dân sinh nhất là khai thác nước ngầm phục vụ cấp nước nông thôn. Việc khai thác nước từ các bãi giếng quy mô lớn không phải nơi nào cũng có các điều kiện thuận lợi, vì vậy cần linh hoạt trong việc sử dụng các phương thức khai thác khác nhau. Đối với các cồn cát , hoặc một số bãi bồi của các sông và cả trong các thành tạo bazan ở một số nơi thì khai thác bằng các lỗ khoan thường kém hiệu quả , mà khai thác theo các hành lang thu nước hoặc các giếng tia có hiệu quả cao hơn. Chính vì vậy trong chiến lược khai thác nước dưới đất phục vụ phát triển kinh tế dân sinh trong những năm tới phải coi trọng vấn đề này.
    6. Khai thác các nguồn nước khoáng  phải kết hợp sử dụng nhiều mục đích nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Các nguồn nước khoáng là tài nguyên quý giá , cần tích cực khai thác sử dụng chúng vì nếu không khai thác nước khoáng vẫn chảy đi và ta đã lãng phí một nguồn tài nguyên quan trọng. Mặt khác các nguồn nước khoáng cùng một lúc có thể đáp ứng nhiều mục đích sử dụng như : an dưỡng chữa bệnh, phục vụ sức khoẻ cộng đồng và du lịch, đóng chai làm nước giải khát và chữa bệnh, khai thác nguồn năng lượng tự nhiên, nuôi trồng thuỷ sản , khai thác một số nguyên liệu trong nước, và cũng có thể sử dụng như một loại nước tinh khiết vv. Chính điều đó cho thấy đối với các nguồn nước khoáng , nước nóng cần càng sớm đưa vào khai thác càng có hiệu quả kinh tế, xã hội cao.Tuy nhiên việc khai thác nước khoáng cần phải kết hợp chặt chẽ với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường và cần kết hợp sử dụng nhiều mục đích khác nhau. Tât nhiên cần có nghiên cứu lựa chọn mục đích dử dụng cho thích hợp với từng loại và từng nguồn nước khoáng. Thí dụ đối với các nguồn nước có nhiệt độ cao ( trên 70o) giành ưu tiên khai thác nguồn nhiệt, hoặc phải kết hợp khai thác cho các mục đích khác với khai thác nguồn nhiệt. Công tác điều tra các nguồn nước khoáng nước nóng cần tập trung vào việc đánh giá chất lượng với lưu lượng tự chảy và các điều kiện khai thác sử dụng mà không cần thiết phải tập trung điều tra các thông số thấm của đất đá như đã làm trong các năm trước đây.( bảng 23 )
    7. Việc khai thác nước nước đất phải kết hợp chặt chẽ với việc bảo vệ tài nguyên và môi trường nói chung nhất là những khu vực khai thác tập trung quy mô lớn và các khu vực đông dân; kết hợp chặt chẽ với khai thác sử dụng các nguồn nước khác.
    Như đã trình bày ở các phần trên nhữngnơi có nhu cầu sử dụng nước lớn cho kinh tế dân sinh cũng là những nơi có tác động mạnh mẽ đến môi trường nới chung môi trường nước ngầm nói riêng. Chí vì vậy bảo đảm phát triển bền vững nối chung , bền vững trong khai thác sử dụng nước ngầm nói riêng việc khai thác nước ngầm phải được tiến hành đồng thời với bảo vệ nó . Chỉ có như vậy nước ngầm mới không bị cạn kiệt và ô nhiễm hoặc nhiễm bẩn. Trong thực tế chúng ta đã có các bài học do khai thác nước thiếu tính toán bảo vệ nước ngầm nên nhiều nơi nước ngầm đã bị nhiễm mặn hoặc đã có dấu hiệu nước ngầm bị ô nhiễm một số thành phần.
    8. Xã  hội hoá khai thác và bảo vệ nước ngầm:
    Nhu cầu sử dụng nước sạch của đất nước hiện nay và trong các năm tới là rất lớn. Hiện nay ngay cả ở các thành phố lớn cũng vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng nước của cộng đồng. Ở nông thôn , việc thay thế kiểu cấp nước riêng lẻ bằng các công trình cấp nước tập trung đang là đòi hỏi cấp bách . Vì vậy khuyến khích các cá nhân các tổ chức sản xuất và kinh doanh nước sạch, khai thác nước khoáng, nước nóng phục vụ an dưỡng chữa bệnh, đóng chai làm nước giải khát trên cơ sở các quy hoạch khai thác đã được nhà nước hoạch định và tuân thủ các luật tài nguyên, luật nước luật doanh nghiệp  và các quy định chung cần được quan tâm đẩy mạnh trong các năm tới..
    9. Tăng cường công tác quản lý : bao gồm  sửa đổi các luật liên quan, xây dựng các văn bản pháp quy, xây dựng các hướng dẫn, các quy trình, quy phạm trong trong việc điều tra, thăm dò khai thác, kinh doanh sản xuất nướíạch từ nước  ngầm ; tăng cường năng lực các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, quản lý  tài nguyên nước ngầm . Tăng cường công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng và triẻn khai công nghệ trong điều tra, tìm kiếm thăm dò,khai thác,sử dụng tái sử dụng, bảo vệ tài nguyên nước ngầm; tăng cường quan hệ hợp tác với các ngành , các lĩnh vực liên quan , quan hệ quốc tế trong các công việc trên.
    10 tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục , nâng cao ý thức khai thác, sử dụng tiết kiệm và bảo vệ tài nguyên và môi trường nước ngầm cho cộng đồng.
    V.5.CHIẾN LƯỢC BẢO VỆ TÀI NGUYÊN,MÔI TRƯỜNG NƯỚC NGẦM
      Khả năng  bảo vệ tự nhiên của các bồn chứa nước
    Những vấn đề chung về khả năng  bảo vệ tự nhiên của các tầng chứa nước.
    Một trong những vấn đề quan trọng nhất khi nghiên cứu suy thoái nước ngầm nói chung, ô nhiễm nước trong những tầng đang khai thác nói riêng là đánh giá khả năng  bảo vệ tự nhiên của chúng. Khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước, hoặc các bồn chứa nước trước tiên phụ thuộc vào tầng ngăn cách giữa tầng chứa nước với các yếu tố bên ngoài. Phần ngăn cách giống như tấm áo giáp ngăn chặn sự tấn công từ bên ngoài vào. Vì vậy bề dày và tính chất của tầng  chắn là các yếu tố quan trong hơn cả.  tiếp đó là bề dầy, độ sâu phân bố, tính chất , mức độ lưu thông nước của các tầng chứa nước . Đó chính là cấu trúc ĐCTV.
    1. Cấu trúc ĐCTV      
    Trên quan điển ĐCTV cần phân ra.
    1. Tầng nước ngầm ( tầng nước trên cùng không có áp lực )                      
      Tầng chắn hay áo giáp cho tầng nước ngầm chính là đới không khí . Nước bẩn, hoặc nước mưa hoà tan các chất bẩn ở các thải , phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật ngấm xuống bổ xung cho nước ngầm đều phải qua đới thông khí . Bề dày đới thông khí càng lớn, khả năng thâm nhập của nước bẩn từ trên xuống càng khó và khả năng ô nhiễm nước ngầm càng ít , cũng có nghĩa là khả năng bảo vệ tự nhiên của tầng chứa nước càng tốt.
    Tính chất của đới thông khí - đặc trung quan trọng là tính thấm. Đới thông khí càng khó thấm, càng ngăn ngừa có hiệu quả sự xâm nhập của các chất bẩn ở trên mặt vào nước ngầm.
    Thành phần của đới thông khí có ý nghĩa rất quan trọng. Đới thông khí được cấu tạo bởi các đất đá hạt mịn không những làm cho đới có tính thấm kém mà còn có khả năng hấp thụ các thành phần gây bẩn di chuyển cùng với nước qua đới thông khí.
    Các nhà nghiên cứu nước ngoài đã quan tâm và tập trung nhiều công sức vào việc đánh giá vai trò bảo vệ của đới thông khí trong nghiên cứu nhiễm bẩn của nước dưới đất.
    Ngưới ta đã tìm cách định lượng hoá vai trò của từng yếu tố : Bề dày, tính chất, thành phần của đới thông khí. Đồng thời đã xác định mức độ ngăn ngừa, chống lại khả năng xâm nhập của các chất bẩn vào nước ngầm theo các điểm đánh giá của từng yếu tố và mức độ quan trọng của chúng.
    2. Tầng chứa nước có áp hay nước actezi
    Như ta đã biết nước có áp được ngăn cách với nước ngầm bởi các lớp thấm nước  rất yếu hay hoàn toàn cách ngăn. Sự xâm nhập của nước thải chỉ xảy ra trực tiếp ở miền cung cấp của nó. Còn ở miền phân bố áp lực thì việc xâm nhập của nứớc  ở phía trên trong điều kiện tự nhiên xảy ra rất khó khăn hay không thể xảy ra. Hay nói cách khác, ở miền phân bố áp lực, trong điều kiện  tự nhiên nước trong tầng chứa nước có áp được hoàn toàn bảo vệ. Khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nước có áp tổng quát là rất tốt.
    Trong thực tế,  người ta lại khai thác nước ở các tầng chứa nước có  áp là chủ yếu. Việc khai thác  tạo nên một phiễu hạ thấp mực nước trong tầng chứa nước đã tạo điều kiện cho nước ở các  nơi chảy đến công trình khai thác và do vậy cũng tạo cho nước bị xâm nhập của chất bẩn theo các dòng nước đến cung cấp cho lỗ khoan khai thác.
    Khả năng xâm nhập của nước và các chất  gây bẩn đến các công trình khai thác phân bố ở miền phân bố áp lực có thể xẩy ra theo các con đường sau:
    1- Tầng cách nước không liên tục, tạo nên các cửa sổ đctv trong khu vực phễu hạ thấp  các chất bẩn có thể theo nước của tầng chứa nước ngầm xâm nhập xuống tầng chứa nước có áp  qua các của số đctv và di chuyển vào công trình khai thác.
    2- Nước tầng trên thấm xuống qua các lớp thầm nước yếu. Khi khai thác nước ở tầng có áp lâu dài và mực nước hạ thấp lớn, nứơc ở tầng  chứa nước trên thấm xuyên qua tấng thấm nước yếu xuồng bổ sung cho nước của tầng chứa nước có áp. Các chất gây bẩn có thể thấm xuyên cùng với nước tầng trên.  Khi mực nước tầng chứa nước có áp hạ sâu lớn nước ở tầng trên cũng bị hạ thấp và có thể làm cho nước bẩn từ trên mặt thấm trực tiếp đến tầng chứa nước có áp
    Khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nước còn phụ thuộc vào chính bản thân tầng chứa nước.
    Tình chất thấm và thành phần thạch học của đất đá trong tầng chứa nước có vai trò quan trọng trong viêc ngăn ngừa sự lan truyền của chất bẩn trong tầng chứa nước. Các nghiên cứu quá trình khuếch tán của các vật chất trong môi trường lỗ hổng xác lập biểu thức của quá trình đó :
    Trong đó : J - vectơ khuếch tán
    D - Hệ số khuếch tán
    dc /dx - gradian khuếch tán
    (dc = c1-c2),   (dx = x1-x2)
    c1,c2 là nồng độ của chất nghiên cứu tại vị trí tương đương ứng x1-x2
    v - tôc độ vận động của nước
    Từ biểu thức trên cho thấy
    Khi nước không vận động, các vật chất di chuyển theo quy  luật khuyếch tán, tức là di chuyển cho sự chênh lệch nồng độ của vật chất trong môi trường. Điều đó cũng có nghĩa là nếu trong nước có mặt một trung tâm gây bẩn thì nó có thể khuyếch tán ra xung quanh.
    Khi nước vận động, nếu hường vận động  ngược với hường chênh lệch nồng độ thì quá trình lan truyền của trung tâm gây bẩn sẽ chậm lại còn nếu hướng vận động cùng chiều với hướng  chênh lệch nồng độ thì tốc độ lan truyền của chất bẩn tăng lên  rất nhiều. trường hợp sau thường gặp trong thực tế. Khi khai thác nước ở gần các hồ chứa hoặc kênh dẫn nước thải, đã đẩy nhanh tốc độ nhiễm bẩn nước trong công trình khai thác vì  đã tạo ra hường vận động của nước trong tầng chứa nước cùng chiều với hướng của trình khuếch tán. Tính thấm nước của đất đá càng tốt thì tốc độ lan truyền càng nhanh, khả năng tự bảo vệ càng kém.
    2. Nguồn gây bẩn.
    Khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nước còn phụ thuộc vào nguồn gây bẩn. Vì khả năng che chắn của lớp bảo vệ vẫn mang tính chất thụ động, phòng ngự nên không thể ngăn chặn được mọi loại chất bẩn. Cũng như chiếc áo giáp không thể ngăn chặn mọi ngăn vũ khí tấn công, cường độ và phương thức tấn công. Các chất gây bẩn khác nhau có khả năng xâm nhập khác nhau. Những chất có khả năng bị hấp thụ mạnh sẽ bị hấp thụ ngăn chặn trước. Những chất không bị hấp thụ có thể xâm nhập sâu vào tầng  chứa nước. Thí dụ những vật chất cơ học bị giữ lại trên mặt nhưng nhiệt lại truyền theo tính chất dẫn nhiệt của đất. Một số cation dễ bị các hạt sét hấp thụ. Một số thành phần di chuyển tốt trong điều kiện oxy hoá khi xuống sâu chuyển sang môi trường khử sẽ không lan truyền xa.
    Nguồn gây bẩn còn bao hàm cả cường độ và phương thức gây bẩn. Thời gian tiếp xúc, nồng độ cao của chất bẩn trong nước thải, mật độ ion của thành phần gây bẩn cao cũng làm giảm khả năng tự vệ của tầng chứa nước. Mặt khác phương thức thải nước thải cũng biến đổi khả năng ngăn chặn của các màng bảo vệ.
    Đối với số vùng gần các hồ chứa nước thải, lớp ngăn cách có thể hoàn toàn hết khả năng hấp thụ các vật chất hoà tan trong nước thải. Khi đó người ta hoàn toàn có thể sử dụng các phương trình thuỷ động lực để tính toàn sự vận động của nước thải trong môi trường lỗ hổng. Còn khi nước bẩn đã xâm nhập vào tầng chứa nước chúng có thể hoà trộn với nhau theo kiểu hỗn hợp các loại nước. trừ một số nguyên tố bị biến đổi khi chuyển sang môi trườngđịa hoá khác.  Còn đa số các thành phần trong nước bẩn khi đã xâm nhập vào tầng chứa nước có thể áp dụng quy luật của O ghinvi để nghiên cứu. (Quy luật nghiên cứu sự hỗn hợp cua các loại nước.)          
    Nhiều nhà nghiên cứu còn quan tâm đến yếu tố địa hình trong đánh giá khả năng tự bảo vệ của các tầng chứa nước. Thực chất yếu tố này chỉ thể hiện một phần của yếu tố phương thức gây bẩn đã nêu. Bởi vì địa hình dốc làm cho nước thải thoát nhanh không gây ứ đọng nước thải. Điều đó có nghĩa là nước thải tác động không thường xuyên.
    Tổng quát lại thấy khả năng tự bảo vệ thức vật tự thuộc vào 2 yếu tố cơ bản  là cấu trúc địa chất thuỷ văn và nguồn gây bẩn.
    V.6.ĐỊNH HƯỚNG CHIẾN LƯỢC KHAI THÁC, SỬ DỤNG VÀ BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC NGẦM CÁC VÙNG LÃNH THỔ
    Đất nước ta đang thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá, nên các nhu cầu  sử dụng nước cho dân sinh kinh tế ngày càng cao cả về chất và lượng, và do vậy các tác động đến môi trường nước nói chung, nước dưới đất nói riêng ngày càng mạnh mẽ. Trong hơn mười năm gần đây chúng ta đã phát hiện nhiều nơi nước ngầm có các biểu hiện suy thoái về chất và lượng. Điều đó đòi hỏi phải có các chiến lược trong khai thác nước nói chung , nước ngầm nói riêng nhằm đáp ứng lâu dài các nhu cầu sử dụng nước.
    6.1.Bản đồ định hướng chiến lược khai thác sử dụng và bảo vệ nước ngầm Việt nam đến năm 2020
    I. Khái niệm về bản đồ định hướng chiến lược khai thác sử dụng và bảo vệ nước ngầm( ĐHCLKHX&BVNN)
    Bản đồ định hướng chiến lược khai thác sử dụng và bảo vệ nước ngầm là loại bản đồ được xây dựng trên cơ sở từ kết quả nghiên cứu về đặc điểm ĐCTV, tiềm năng nước ngầm ( chất và lượng ), nhu cầu sử dụng nước trong tương lai từ đó phản ảnh mức độ đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cùng số lượng cho phép khai thác bằng những loại công trình phù hợp, với độ hạ thấp mực nước tương ứng không làm xấu chất lượng môi trường nước và và ảnh hưởng đến các môi trường trong giới hạn chấp nhận được.
    1. Mục tiêu của chiến lược chung :
    Khai thác sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên nước ngầm phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước một các lâu bền.
    2. Mục tiêu cụ thể :
    1. Tận dụng các nguồn ngầm phục vụ phát triển kinh tế xã hội ở các vùng kinh tế trọng điểm của đất nước đồng thời đảm bảo các tác động tiêu cực của việc khai thác đến nước ngầm đến môi trường là nhỏ nhất có thể chấp nhận được.
    2. Tận dụng các nguồn nước ngầm nhằm thoả mãn các nhu cầu sử dụng nước sinh hoạt của cộng đồng trên phạm vi toàn quốc.
    3. Khai thác, sử dụng đạt hiệu quả xã hội - kinh tế cao các nguồn nước khoáng phục phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
    II. Các tài liệu cơ bản và bản đồ cơ sở để xây dựng bản đồ ĐHCLXD&BVNN
    1. Bản đồ địa hình
    2. Bản đồ ĐCTV (thành lập theo nguyên tắc thành hệ và theo lưu vực sông);
    3. Bản đồ hiện trạng khai thác nước ngầm;
    4. Bản đồ tiềm năng ngầm ( chất lượng và trữ lượng ) ;
    5. Bản đồ nhu cầu sử dụng nước đến năm 2020;
    6. Bản đồ mức độ điều tra ĐCTV. Tìm kiếm thăm dò ngầm;
    7. Bản đồ các nguồn nước khoáng;
    8. Bản đồ quy hoạch các hồ chứa nước, quy hoạch tưới;
    Các tài liệu về : trữ lượng chất lượng NDĐ ở các khu đã thăm dò, thành phần, lưu lượng nhiệt độ các nguồn nước khoáng tài liệu về nhu cầu sử dụng nước, quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, tài liệu dự định xây dựng các hồ chứa nước đến năm 2010 và 2020.  Quy hoạch các khu dân cư và một số tài liệu liên quan khác.
    III. Nội dung của bản đồ :
    Với các mục tiêu nêu trên nội dung bản đồ định hướng chiến lược khai thác nước ngầm cần phản ảnh các yếu tố sau :
    1. Các đối tượng cần được tập trung khai thác từ nay đến 2020 : khi lựa chọn  thứ tự ưu tiên các đối tượng này cần phải dựa vào các tiêu chí sau :
    a. Tiềm năng của đối tượng đó  tức là chất và lượng của nước trong đối tượng đó
    b. Nhu cầu sử dụng nước của các vùng thuộc đối tượng đó từ nay đến 2020
    Theo các tiêu chí đó căn cứ vào điều kiện ĐCTV của Việt Nam có thể xác lập cácđối tượng đó theo thứ tự ưu tiên gồm :
    + Các thành tạo bở rời
    + Các thành tạo Bazan
    + Các thành tạo cácbonát
    + Các thành tạo khác
    2. Các khu vực có nhu cầu cấp thiết  theo thứ tự ưu tiên :
    + Đồng bằng Đông Nam Bộ , khu Kinh Tế trọng điểm Sài Gòn - Đồng Nai – Vũng Tầu
    + Đồng bằng Bắc Bộ, khu kinh tế trọng điểm  Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long
    + Miền Trung , khu kinh tế trọng điểm  Đà Nẵng - Quảng Nam - Quảng Ngãi
    + Tây Nguyên Đắc Lắc- Gia Lai
    + Đồng bằng sông Cửu Long
    3. Các khu vực có thể đáp ứng cấp nước cho các vùng trọng điểm  (các khu vực này có tiềm năng có thể đáp ứng  trên 70% , 3070% , < 30% nhu cầu sử dụng nước của vùng kinh tế trọng điểm đến năm 2020 và cách khu kinh tế trọng điểm không quá xa < 100km )
    4. Chiều sâu khai thác  của các vùng có triển vọng
    5. Mực nước hạ thấp được phép  khi thác chú ý chiều sâu này được tính toán để khi hạ thấp mực nước không gây tác động xấu đến môi trường quá mức cho phép .
    6. Tổng lượng khai thác cho phép và tỷ lệ đáp ứng nhu cầu.
    7. Loại và mật độ công trình khai thác.
    8. Các khu vực đã có tài liệu tin cậy (có tài liệu thăm dò được đánh giá trữ lượng A+B và C1)
    9. Những khu vực có triển vọng cần đầu tư tham dò để làm nguồn cấp nước
    10. Những cụm công trình khai thác tập trung quy mô lớn đang khai thác (> 50.000m3/ng).
    11. Những nguồn nước khoáng cần được khai thác và sử dụng với các mục đích khác nhau (An dưỡng, đóng chai, khai thác năng lượng, du lịch và sử dụng khác)
    Ngoài ra trên bản đồ còn phản ảnh một số yếu tố khác liên quan


    Theo các dự án phát triển kinh tế - xã hội của đất nước cho thấy cả nước sẽ hình thành nhiều vùng kinh tế trọng điểm, vì vậy việc khai thác nước dưới đất nói phải có trọng tâm, trọng điểm cho các khu vực khác nhau.
    Theo các đặc điểm tự nhiên của đất nước và các phương hướng phát triển kinh tế - xã hội, cũng như mức độ tập trung dân cư, cường độ tác động của con người vào tự nhiên cho thấy các vùng : Đồng bằng Bắc Bộ, Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên là những nơi có nhu cầu sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt cao và cũng là những nơi có tiềm năng nước dưới đất lớn.
    * ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ  :
    Trên đồng bằng Bắc Bộ nước dưới đất  chủ yếu chứa trong  các  thành tạo bở rời  thuộc 2 tầng chứa nước : tầng chứa nước cát cuội sỏi Pleistocen và  cát bột  sét Holocen.
    Tầng chứa nước Holocen nằm trên cùng có bề dày biến đổi từ vài mét đến 20 - 30m. Thành phần thạch học đa dạng gồm cát, cát sét, bột sét xen nhau cả trên mặt cắt và  theo phương ngang. Mức độ chứa nước  khác nhau song nhìn chung là chứa nước trung bình đến kém.  Mực nước nằm gần mặt  đất chỉ cách mặt  đất 1  - 2m. Thành phần hoá học  biến đổi phức tạp nhất là ở  phần Nam  của  đồng bằng. Nước nhạt, nước mặn  xen kẽ  nhau kiểu da báo không có quy luật rõ  ràng.  Ở phần Nam, diện phân bố nước mặn chiếm ưu thế  hơn. Phần Bắc diện phân bố nước nhạt chiếm ưu thế hơn. Tầng chứa nước này đang được sử dụng  cho cấp nước  nông thôn nhờ hàng triệu giếng  khơi  và hàng trăm  ngàn các  lỗ khoan đường kính nhỏ.
    Tầng chứa nước cát cuội sỏi Pleistocen nằm ở độ sâu 20 - 25m, ở phần Bắc 40 - 50m, ở phần Nam đôi nơi  xuống 60 - 70m. Tầng chứa nước này có mức độ chứa  nước rất tốt. Các lỗ khoan cho năng suất hàng trăm đến hàng nghìn  m3  nước mỗi ngày. Mực nước nằm gần mặt đất  có nơi nước  tự tràn khỏi mặt đất. Ở phần Bắc của đồng bằng nước  hoàn toàn nhạt, ở phần Nam chủ yếu nước bị mặn (M > 1g/l) song vẫn tồn tại các thấu kính nước  nhạt  như ở Hải Hậu (Nam Định), An Hải (Hải Phòng),  Đông Hưng, Thái Thuỵ (Thái Bình). Nước trong tầng thường có  nồng độ sắt cao  (5 - 15  mg/l)  và NH4 cao (> 10 mg/l). Hiện nay tầng chứa nước này đang được khai thác phục vụ  cấp nước cho thành phố Hà Nội (mỗi ngày khoảng  500.000 m3), thị xã Hà Đông, Sơn Tây (27.000 m3/ngày),Bắc Ninh ( khoảng 13.000m3/ng ) ngoài ra còn có hàng nghìn lỗ khoan khai thác lẻ mỗi lỗ khoan khai  thác từ 100 - 200 m3/ngày.
    Với dân số hơn 17.000.000 và có thể đạt đến 20.000.000 vào năm 2020, đồng bằng Bắc Bộ là nơi có mật độ dân cư lớn nhất đất nước. Trong tương lai sẽ hình thành nhiều khu đô thị, các trung tâm dân cư, kinh tế như :  Hà Nội (3.500.00 dân) ; Hải Phòng (1.500.000 dân) ; Nam Định (300.000 dân) ; Hải Dương (120.000 dân) ; Hà Đông (100.000 dân) ; Thái Bình (100.000 dân) ; Ninh Bình (100.000 dân) ; Hưng Yên, Hà Nam, Bắc Ninh (xấp xỉ 100.000 dân cho mỗi thị xã). Thêm vào đó các trung tâm dân cư ở vùng lân cận như Hạ Long (500.000 dân) ; Việt Trì (200.000 dân) ; Bắc Giang (110.000 dân) ; Vĩnh Yên, Sơn Tây cũng xấp xỉ 100.000 dân. Đa số các thành phố, thị xã sử dụng nước ngầm làm nguồn cấp nước. Trên phạm vi đồng bằng lại có hơn 20 khu chế xuất (chiếm diện tích 1.407 ha, diện tích lúa còn 1.050.000 ha). Chính vì vậy, khai thác  nước ngầm ở Đồng bằng Bắc Bộ được ưu tiên hàng đầu. Trong đó, khu trọng điểm kinh tế : Hà Nội - Hải Phòng - Hạ Long phải được coi là dự án ưu tiên số 1.
    Như vậy từ nay đến năm 2020  nhu cầu sử dụng nước cho đô thị cũng như nông thôn rất lớn ( xem phần …). Mặt khác các hoạt động kinh tế lại vô cùng sôi động các tác động tiêu cực đến nước ngầm rất mạnh cả trên diện rộng cả về cường độ nên chiến lược khai thác , bảo vệ nguồn nước ngầm ở đây phải đặc biệt chú ý.
    Về chiến lược khai thác
    * Về đối tượng khai thác nước ngầm ở đây tập trung vào tầng chứa nước Pleixtocen với khai thác tập trung quy mô lớn .
    * Về phương khai thác : Khai thác bằng các giếng khoan, các giếng cần bố trí thành các tuyến song songvới sông Hồng , sông Đuống  và càng gần sông càng tốt  và nhóm thành các bãi giếng với công suất của mỗi bãi trên 30.000m3/ng .
    Nghiên cứu và triển khai phương thức khai thác bằng các hành lang thu nước hoặc các công trình thu nước nằm ngang bố trí dọc các bãi bồi của sông Hồng, sông Đuống và cả các sông khác.
    Có thể xây dựng các nhà máy nước ở khu vực phía bắc và dẫn nước để cấp cho các thành phố Hà Nội –Hải Dương – Hải Phòng.
    Đối với cấp nước nông thôn cần thay thế kiểu cấp nước bằng các lỗ khoan nhỏ sang cấp nước tập trung quy mô làng xã có xử lý và dẫn nước theo đường ống.
    Để đảm bảo lâu bền khai thác nước ở vùng này cần thực hiện tố việc kiểm soát ô nhiễm .
    Về bảo vệ tài nguyên nước ngầm
    * Các nguồn gây bẩn
    Trên phạm vi ĐBBB có thể phân chia thành 2 nhóm nguồn gây bẩn cơ bản là :
    a - Nguồn gây bẩn do các hoạt động nông nghiệp ở khu vực nông thôn
    b - Nguồn gây bẩn do các hoạt động ở các đô thị  (công nghiệp sinh hoạt...)
    Do vậy khi nghiên cứu  khả năng tự bảo vệ của các bồn chứa nước nói chung của bồn chứa nước ĐBBB nói riêng cần phải phân chia thành các vùng khác nhau để đánh giá riêng cho từng tầng chứa nước với các đối tượng gây bẩn khác nhau.
    Về diện tích phân bố của loại thứ nhất bao gồm những cánh đồng trồng lúa, hoa màu và cánh đồng trồng cây thực phẩm như rau, đậu; cây công nghiệp như thuốc lá.v.v.  Nguồn gây bẩn chủ yếu là các loại phân bón và thuốc trừ sâu. Đất đai trên đồng bằng, chủ yếu là canh tác nông nghiệp khoảng 1.031.980 ha; diện tích đất ở khoảng 83000 ha. Diện tích lúa nước chiếm trên 60% diện tích. Chế độ tưới ngập là chủ yếu. Phân bón đa dạng,vô cơ, hữu cơ, thuốc trừ sâu đang được sử dụng rộng rãi.
    Còn loại thứ hai tập trung ở các khu vực thành phố, khu công nghiệp như Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Việt Trì, Thái Nguyên v.v ... Các thành phần gây bẩn đa dạng gồm hoá học, nhiệt, sinh học, v.v... Cường độ gây bẩn cũng rất khác nhau và cách thức gây bẩn cũng khác nhau.
    Các thành phần, tính chất của các nguồn gây bẩn đã trình bày trong phần trên.
    1. Đối với tầng chứa nước thứ I (Qc) - chủ yếu là gây bẩn do các hoạt động nông nghiệp và phân bón. Ở các vùng ven đô  như ngoại thành Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định ... nhiễm bẩn do nước thải công nghiệp rất mạnh nhiễm bẩn do các hoạt động nông nghiệp cũng rất đáng kể.
    Trên cơ sở phân tích các đặc điểm tổng quát đã nêu, và từ các bản  đồ đẳng chiều sâu mực nước ngầm (bề dày đới thông khí), phân bố và bề dày các lớp khó thấm nước trong tầng chứa nước Qc trên đồng bằng, tính thấm của đới thông khí. Vận dụng phương pháp cho điểm các chỉ tiêu các tác giả đã xây dựng bản đồ tính nhậy cảm của nước trong tầng chứa nước Qc (ngược lại với khả năng tự bảo vệ của tầng chứa nước) . Từ bản đồ cho thấy phần lớn diện tích đồng bằng thuộc loại có khả năng tự bảo vệ rất kém đến kém. Chỉ ở phân đông nam (vùng Hải Hậu) có khả năng bảo vệ rất tốt có nghĩa là khả năng xâm nhập của các chất gây bẩn từ trên xuống rất khó khăn. Tuy vậy ở các vùng này khả năng nhiễm mặn lại khá lớn,do nước nhạt ở các vùng trữ lượng không lớn. Vì vậy nguy cơ suy thoái về chất vẫn cao.
    2. Đối với tầng chứa nước Q II-III (Qa, qp )  
    Như đã nêu, tầng chứa nước Qa nằm dưới cùng của các thành tạo bở rời Đệ Tứ. Chúng lộ ra ở vùng ven rìa và cùng với đới phong hoá của đá gốc tạo nên miến cung cấp của tầng chứa nước. Đánh giá khả năng tự bảo vệ của phần này có thể sử dụng cách đánh giá cho nước ngầm. Các tài liệu khảo sát cho thấy ở vùng lộ của các tầng chứa nước Qa chiều sâu mực nước thường gặp 4-6 m. Thành phần thạch học phổ biến là cuội sỏi lẫn sét nên tính thấm kém, độ dốc địa hình nhỏ song dốc hơn các vùng trung tâm của đồng bằng. Ở vùng này công nghiệp chưa phát triển. Nông nghiệp cũng chưa  phát triển bằng các vùng trung tâm của đồng bằng. Các cây công nghiệp, cây ăn qủa  mới được quan tâm. Từ các đặc điểm đó cho thấy vùng này có mức độ từ bảo vệ vào loại trung bình.
    Phần trung tâm và ĐBBB, tầng chứa nước Qa là tầng chứa nước có áp. Mực nước xấp xỉ mực nước của tầng chứa nước trên đó.  Nhiều nơi còn gặp nước tự phun. Mặt khác như đã nêu, đối với tầng chứa nước Qc, ở phần này ngay cả tầng chứa nước Qc cũng có mức độ bảo vệ từ trung bình đến rất tốt. Như vậy có thể kết luận chắc chắn rằng, trong điều kiện tự nhiên  (không có tác động thiếu tính toán của con người), tầng chứa nước Qa ở đây có khả năng tự bảo vệ rất tốt. Điều đó chỉ có nghĩa là các chất gây bẩn từ trêt mặt hầu như không có khả năng xâm nhập và tầng chứa nước. Tuy nhiên như đã nêu, nước nhạt ở phần này tầng chứa nước có lẽ chủ yếu tồn tại ở dạng các thấu kính như vậy nguy cơ xâm nhập của nước mặn vào các công trình khai thác nước vẫn rất lớn. Điều đó cũng có nghĩa là nguy cơ làm suy thoái chất lượng nước của tầng  ở phần này vẫn tồn tại và phải có các biện pháp đề phòng, theo dõi và ngăn chặn khi cần thiết.
    Vùng Hà Nội, do nhiều nguyên nhân khác, tầng thấm nước kém Qb dọc sông Hồng đoạn Sơn Tây - Hà Nội bị bóc mòn, thay  vào các đất đá khó  thấm là các đất dễ thấm hơn và đã tạo các cửa sổ ĐCTV làm cho nước của tầng chứa nước Qa có quan hệ thuỷ lực với nước trên mặt. Nhiều tài liệu nghiên cứu ĐCTV đã xác nhận sông Hồng có quan hệ thuỷ lực với nước dưới đất tầng của tầng Qa. Các lỗ khoan khai thác ven sông  của nhà  máy nước Lương Yên có trữ lượng cuốn theo tới 70-80% trữ lượng khai thác. Còn các lỗ khoan khai thác ở Gia Lâm có 60% trữ lượng được hình thành do cuốn theo nước từ sông Hồng. Các kết quả nghiên cứu ĐCTV trước đây cũng đã xác nhận tại khu vực Hà Nội do khai thác nước với mực nước hạ thấp lớn và kéo dài dẫn đến phát sinh thấm xuyên từ tầng chứa nước Qc xuống không chỉ qua các cửa sổ ĐCTV mà qua các tập thấm nước yếu.. Phần lớn diện tích khu nội thành đã bị che phủ nước trên mặt không dễ dàng ngầm xuống cung cấp cho nước ngầm. Vì vậy khả năng xâm nhập  của các thành phần gây  bẩn lại chính ở vành đai ngoại thành. Nước thải công nghiệp, sinh hoạt trong thành phố đều được dẫn ra theo các kênh, mương rồi chứa vào các đầm hồ ao và các cánh đồng ở ngoại thành. Thêm vào đó lượng HCBVTV được sử dụng ở khu vực ngoại thành lại rất lớn  (lớn hơn các vùng nông thôn hàng chục lần). Địa hình lại rất phẳng. Các yếu tố trên đã làm cho khả năng chống đỡ với sự tấn công  của các thành phần gây bẩn thấp.
    Từ các vấn đề nêu trên cho thấy ở ĐBBB khả năng tự bảo vệ ở ven rìa và khu vực Hà Nội của tầng chứa nước Qa là kém nhất. Các phần từ nam Hà Nội trở xuống tuy có khả năng bảo vệ tốt và rất tốt song lại có nguy cơ nhiễm mặn các công trình khai thác nước. Tầng Qc nửa Bắc và ven các sông đặc biệt là sông Hồng có mức độ tự bảo vệ rất kém và kém. Khu vực Hà Nội là nơi có nguy cơ nhiễm bẩn lớn nhất và cũng là nơi có nguy cơ thoái hoá về lượng rõ ràng nhất .      
    Về kiểm soát suy thoái môi trường nước ngầm
    Nhiệm vụ kiểm soát ô nhiễm ở vùng này không chỉ bao gồm kiểm soát biến động chất lượng nước do các yếu tố tự nhiên , ô nhiễm do khai thác nước dưới đất mà quan trọng hơn là kiểm soát ô nhiễm do các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp và các hoạt động xây dựng do quá trình đô thị hoá trong đó kiểm soát ô nhiễm nước ngầm ở Hà Nội và tam giác kinh tế Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh phải được ưu tiên hàng đầu. Kiểm soát ô nhiễm nước ngầm ở khu vực Hà Đông-Xuân mai- Sơn Tây – Bắc Ninh cũng phải được quan tâm đặc biệt.
    Các phân tích trên cho thấy ở nửa bắc của đồng bằng sông Hồng nước ngầm có thể đáp ứng hoàn toàn nhu cầu sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt ở nông thôn và đô thị đến năm 2020 và cả các năm sau nữa.  Ở một số vùng như Hải Dương , Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình nếu chỉ sử dụng nước ngầm tại cỗ thì lượng nước ngầm chỉ có thể đáp ứng được khoảng dưới 30% nhu cầu trong trường hợp này phải sử dụng nước mặt làm nguồn cấp chính.Những vùng còn lại nước ngầm có thể đáp ứng 30-70% . tuy nhiên nếu mạnh dạn áp dụng các công nghệ mới trong khai thác và dấn nước xa 50-100km thì các vùng khoa khăn như Hải Dương, Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình vẫn có thể sử dụng nước ngầm làm nguồn cấp.
    * VÙNG ĐÔNG NAM BỘ
    Vùng Đông Nam Bộ với nhiều đô thị lớn, khu công nghiệp và khu chế xuất tập trung, lại có nguồn nước ngầm quý giá nên việc khai thác nước dưới đất cũng phải được ưu tiên số 1. Thành phố Hồ Chí Minh với dân số dự kiến khoảng 7.000.000 dân vào năm 2010 và 12.000.000 dân vào năm 2020 - là trung tâm dân cư, kinh tế lớn nhất đất nước ; thành phố Biên Hoà với 600.000 đến dân vào năm 2010 và khoảng 1.000.000 dân vào năm 2020 ; Vũng Tàu với 350.000 dân vào năm 2010 và 500.000 vào năm 2020 ; Phan Rang, Phan Thiết, Tây Ninh, Thủ Dầu Một cũng với số dân từ 150.000 - 300.000 dân cho mỗi thành phố, thị xã sẽ làm cho vùng Đông Nam Bộ có mật độ dân chỉ thua đồng bằng Bắc Bộ.
    Nước dưới đất ở đông  Nam Bộ nhìn chung có chất lượng tốt, nước nhạt là chủ yếu, nồng độ sắt ít hơn so  với Bắc Bộ. Tuy nhiên nhiều nơi pH lại thấp (5,5 - 6,5) không thuận lợi cho cung cấp nước. Trên phạm vi Đông Nam Bộ cũng đã có nhiều cụm khai thác như thị  xã Thủ Dầu Một, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, vùng Bến Cát... Tổng lượng khai thác cũng  đạt hàng  trăm ngàn m3/ngày. Ngoài  ra còn có  hàng vạn lỗ khoan khai  thác nhỏ cấp nước cho  nông thôn cũng đang khai thác nưóc từ các  thành tạo  bở rời này. Trên phạm vi Đông Nam Bộ đã hình thành hàng chục khu công nghiệp và chế xuất với tổng diện tích lên đến 8.263 ha.  Và chắc chăn đén 2020 số lượng các khu công nghiệp cũng như diện tích cho các khu công nghiệp tăng lên nhiều .
    Đông Nam Bộ cũng là nơi có thuận lợi cho phát triển cây lương thực, cây công nghiệp. Trên miền Đông Nam Bộ sử dụng phân bón, các HCBVTV ngày một tăng đặc biệt các vùng ven đô. Mặt khác ở Đông Nam Bộ có các điều kiện cho chăn nuôi gia súc lớn kiểu công nghiệp nên khi nghiên cứu bảo vệ nước dưới đất ở ĐNB cũng cần quan tâm đến nguồn gây bẩn từ các hoạt động nông nghiệp.
    Nguồn gây bẩn do các hoạt động nông nghiệp và sinh hoạt tập trung ở các khu vực thành phố và khu công nghiệp. Lượng nước thải và chất thải công nghiệp, sinh hoạt hàng ngày tăng lên, thành phần chất thải, nước thải đa dạng và phức tạp và làm cho khả năng chống đỡ của các tầng chứa nước với các chất bẩn gây khó khăn hơn, mức độ tự bảo vệ của các tầng chứa nước dần dần bị suy yếu. Những vùng ngoại vi các thành  phố lớn, nước dưới đất không những chịu tác động của các chất bẩn do các hoạt nông nghiệp do chính những người dân ở đó gây ra mà còn phải chịu tác động của các chất thải và nước thải của khu vực nội thành gây ra.
    Mặt khác ở các khu đô thị do đô thị hoá nhanh nên số lượng các lỗ khoan khảo sát điạ kỹ thuật, số lượng các lỗ khoan, các hố đào gia cố nền móng rất lớn. Các công trình này không chỉ tạo các con đường cho các nước bẩn trên mặt có điền kiện thuận lợi xâm nhập vào các tầng chứa nước phía dưới mà còn làm biến đổi môi trường của các tầng chứa nước cũng góp phần không nhỏ gây ô nhiễm nước dưới đất ở các khu vực đô thị.
    Về chiến lược khai thác: Khai thác nước  dưới đất ở đây cần tập trung vào các tầng chứa nước Pleixtocen, Mioxen. Phương thức khai thác tập trung quy mô lớn và vừa. Các bãi giếng cũng nên bố trí gần các dòng sông nơi không bị ảnh hưởng của thuỷ triều. Đới với cấp nước nông thôn cũng tiến hành cấp nước tập trung quy mô làng xã. Mặt khác do nhu cầu sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt và sản xuất công nghiệp lớn  vì vậy cần ưu tiên khai thác nước dưới đất để làm nguỗn sản xuất nước sạch., hạn chế sử dụng để tưới. Nước tưới chủ yếu dùng nước mặt và cố gắng tái sử dụng nguồn nước thải sau xử lý. Việc khai thác nước dưới đất phải kết hợp chặt chẽ với việc kiểm soát ô nhiẽm nước ngầm. Nhìn chung toàn Đông Nam Bộ nước ngầm có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng nước trên 70% .Tuy nhiên đối với khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh- Biên Hoà - Vũng Tầu do nhu cầu sử dụng nước rất lớn nên nước ngầm cũng chỉ có khả năng đáp ứng từ 30-50%. Như vậy chắc chăn phải sử dụng kết hợp cả nước mặt và nước ngầm để đáp ứng nhu cầu sử dụng nước.
    Về bảo vệ nước ngầm  nhìn chung khả năng bảo vệ tự nhiên cử các tầng nước ngầm  Đông Nam Bộ không cao , khả năng xâm nhập của nước bẩn từ trên mặt vào các tầng chứa nước là rất lớn vì vậy chiến lược bảo vệ nước ngầm ở đây là tập trung kiểm soát ô nhiễm do các hoạt động kinh tế gây , cả các hoạt nông nghiệp, công nghiệp . Kiểm soát ô nhiễm nước dưới đất không chỉ phải  đầu tư cho kiểm soát  ô nhiễm do các yếu tố tự nhiên, mà còn phải kiểm soát ô nhiễm do khai thác nước ngầm , do các hoạt động công nghiệp, thải nước thải, chất thải, ngoài ra còn phải kiểm soát ô nhiễm do các hoạt động nông nghiệp, phải đặc biệt chú ý quản lý việc xây dựng các baĩ chôn lấp chất thải.
    Trong vùng  này thì kiểm soát ô nhiễm nước dưới đất ở, Biên Hoà, thành phố Hồ Chí Minh là cấp bách hơn cả.
    *ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
    Nước trong  các thành tạo bở rời ở phần trên hầu hết  bị mặn  không  thể sử  dụng cho sinh hoạt ăn uống được. Nước nhạt ở vùng  giữa  sông Tiền và sông Hậu nằm khá sâu, thường  gặp ở độ sâu trên 300m, nhiều nơi đến 500m. Trong khi đó ở phần Nam sông Hậu nhất  là vùng Cà Mau nước nhạt  được gặp ở các  độ sâu nhỏ hơn nhiều, thường  từ 80 - 120m đôi nơi còn gặp tầng nước nhạt ở độ sâu khoảng  200m. Tại đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đang có hàng trăm lỗ khoan khai thác nước ngầm
    Về chiến lược khai thác sử dụng nước ngầm
    Ở đồng bằng sông Cửu Long, tuỳ từng khu vực mà đối tượng khai thác có khác nhau. Phần tây nam sông Hậu khai thác nước tập trung vào các tầng chứa nước Pleixtocen và Plĩoxen. Phương thức khai thác  chủ yếu sử dụng các khoan  công nghiệp sâu trên 80-120m, tập trung  cấp nước kiểu quy mô làng xã.
    Phần giữa hai sông khai thác tập trung ở các tầng chứa nước sâu trên 300m cũng với phương thức khai thác bằng các giếng khoan công nghiệp.
    Quy mô khai thác không nên quá lớn các bãi giếng chỉ nên khai thác với tổng lưu lượng không quá 30.000m3/ng.
    Trị số hạ thấp mực nước ở trung tâm các bãi giếng không quá 50m  nhằm tránh hiện tượng sụt lún mặt đất.
    Về sử dụng nước ngầm
    Do đặc điểm ĐCTV đồng bằng sông Cửu Long phức tạp, nước nhạt chủ yếu tồn tại ở dạng các thấu kính, nguồn cung cấp rất hạn chế hoặc chưa xác định được rõ ràng nên nước ngầm ở vùng này chủ yếu phục vụ ăn uống sinh tuyệt đối không nên sử dụng để tưới hoặc nuôi trồng thuỷ sản.
    Về bảo vệ tài nguyên nước ngầm
    1. Cấu trúc bồn chứa nước
    Cấu trúc ĐCTV Đồng Bằng Nam Bộ đã được đề cập nhiều trong các đề tài trước đây. Trên quan điểm nghiên cứu bảo vệ nước dưới đất trong báo cáo này các tác giả chủ yếu đề cập đến phần lớp phủ Kinozoi nơi có khả năng cung cấp nước nhiều nhất cho vùng ĐBNB.
    Các  kết quả nghiên cứu ĐCTV trong những năm gần đây xác nhận rằng các thành tạo Kainozoi ĐBNB phủ không chỉnh hợp trên các đá móng khác nhau. Phần ĐBNB chúng nằm trên các đá thuộc đới hoạt hoá Mezozoi Đà Lạt, Phần Tây Nam Bộ (Tây Nam sông Hậu) các thành tạo Kaiozoi nằm trên các đất đá Plaleozoi (Đới cực Tây hay đới Cacđamon). Phần trung tâm đồng bằng bị sụt lún hơn hai cánh. Tuy nhiên do tính chất phức tạp  của móng bởi nhiều đứt gãy phân cắt thành các khối nâng hạ khác nhau nên lớp phủ Kaiozoi cũng biến đổi phức tạp. Phần ĐNB và TNB các thành tạo Kaiozoi mỏng hơn phần trung tâm. Các kết quả nghiên cứu cũng đã xác nhận : trên phạm vi  đồng bằng tồn tại nhiều tầng chứa nước khác nhau mối quan hệ thuỷ lực giữa chúng khá phức tạp. Đặc điểm thuỷ địa hoá biến đổi mạnh theo chiều thẳng đứng và nằm ngang. Nguồn gốc và sự hình thành nước dưới đất trong các thành tạo bở rời cũng rất phức tạp và còn nhiều quan niệm chưa thống nhất. Tuy vậy nên tổng thể cho thấy ở ĐNB thường tồn tại kiểu mặt cắt có từ 1 tầng chứa nước đến 5 tầng chứa nước.
    Kiểu 1 tầng chứa nước phân bố hạn chế đó là tầng chứa nước khe nứt hoặc khe nứt phong hoá của các đá gốc nứt nẻ với kiểu mặt thuỷ địa hoá A (toàn mặt cắt đều nhạt).
    Kiểu 2 tầng chứa nước khá phổ biến và thường có kiểu mặt cắt TĐH A/A.
    Kiểu 3 tầng chứa nước tương đối phổ biến với các mặt cắt TĐH kiểu A/A/A khá phổ biến, Ở phần Nam của vùng như khu vực huyện Duyên Hải gặp các kiểu mặt cắt thuỷ địa hoá phức tạp trong đó hầu hết là kiểu AB/B/AB/AB.
    Phần Tây Nam sông Hậu trừ ven rìa thuộc khu vực Hà Tiên thường tồn tại các kiểu mặt cắt ĐCTVcó 3 đến  4 tầng chứa nước với các kiểu mặt cắt TĐH rất phức tạp. Tầng dưới cùng là đá móng kém nứt nẻ khả năng chứa nước kém. Tầng trên cùng là tầng chứa nước QIV với bề dày biến đổi 20-50 m đều chứa nước lợ hoặc mặn. Phần giữa là các tầng chứa  nước QI-II và N2 ( một số tác giả xếp chung là tầng chứa nước N2-Q1). Trong các tầng chứa nước này tồn tại các thấu kính nước nhạt ở các độ sâu khác nhau. Thường gặp ở các khoảng sâu 80-100 m hoặc 120-180 m và chúng tạo nên các kiểu mặt cắt TĐH phứ tạp : kiểu AB/A/AB/? : AB/AB/AB/? : AB/AB/A/? AB/A/AB/? . Các tầng chứa nước này đều là nước có áp. Nhiều nơi gặp nước trào khỏi mặt đất.
    Phần trung tâm đồng bằng các trầm tích Kaiozoi khá đầy và có mặt đầy đủ các tầng chứa nước : QIV (Holoxen), QII-III (Pleixtocen ),QI  ; N2 (Mioxen trên), N1 (Mioxen), và đá gốc. Cũng như phần Tây Nam Đồng Bằng Sông Cửu Long, tầng chứa nước trên cùng chủ yếu là nước mặn, tầng dưới cũng là đá gốc  nứt nẻ  kém và ở quá sâu  (khoảng 1000m) nên chưa được nghiên cứu. Tỗng  chứa nước QII-III  hầu hết bị mặn. Tầng chứa nước QI,N2 có nơi gặp nước nhạt ở độ sâu khá lớn trên 300m. Kiểu mặt cắt TĐH phổ biến là AB/B/AB/? : AB/B/A/?/?. AB/B/AB/A/?
    Xen kẹp giữa các tầng chứa nước đều có các tập đất khó thấm ngăn cách chúng và tạo và tạo cho chúng thành các tầng chứa nước có áp.
    2 . Nguồn gây  bẩn.
    Cũng như trên ĐBBB, nguồn gây bẩn ở ĐBNB cũng có hai nhóm cơ bản là : nguồn gây bẩn do  các  hoạt động công nghiệp và sinh hoạt chủ yếu diễn ra ở các vùng đô thị và nguồn gây bẩn do các hoạt động nông nghiệp.
    Trên ĐBSCL việc sử dụng phân bón còn chưa nhiều, mặt khác do các sông không có hệ thống đê nên vào mùa mưa, khi nước dâng lên toàn đồng bằng bị ngập nồng độ các chất gây bẩn sẽ giảm đi nhiều và không có điều kiện thuận lợi để tích tụ hoặc lưu trữ lại. Mặt khác do ảnh hưởng sâu sắc của thuỷ triều, khi triều lên độ mặn của các sông, các kênh rạch tăng lên khá lớn. Độ mặn 40%o tiến sâu vào đồng bằng là vấn đề cần quan tâm khi nghiên cứu và bảo vệ nước dưới đất khỏi bị suy thoái.
    Như vậy đối với đông bằng sông Cửu long việc bảo vệ nước ngầm chủ yếu là chống nhiễm mặn trong quá trình khai thác. không ở đâu việc quản lý chế độ khai thác phải quan tâm như ở đồng bằng sông Cửu Long
    * ĐỐI VỚI VÙNG TÂY NGUYÊN, nước dưới đất chủ yếu chứa trong các thành tạo bazan, nước hiện tại có chất lượng tốt. Các thành tạo bazan phân bố rộng rãi ở các  tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Lâm Đồng  và rải rác ở các tỉnh Nam Trung Bộ chúng tạo nên một dải cao nguyên  có độ cao khác nhau và được gọi chung là Tây Nguyên.
    Nước ngầm trong bazan có chất lượng  rất tốt, nước nhạt các thành  phần khác đều đáp ứng các yêu cầu sử dụng nước cho  các mục đích khác nhau.
    Trên các cao nguyên bazan hiện chưa có các công trình khai thác tập trung quy mô lớn song  các công trình khai thác nhỏ rất nhiều. Các công trình khai thác bao gồm khơi  dẫn các mạch nước rất phổ biến ở Đắk Lắk, giếng khơi đặt máy bơm để hút nước tưới vườn và các lỗ khoan nhỏ rất phổ biến ở các  thị xã Pleiku, thành phố Buôn Mê Thuột, hoặc khu vực Xuân Lộc.
    Các hoạt động nông nghiệp chủ yếu là trồng cây công nghiệp ; công nghiệp chưa phát triển nên kiểm soát ô nhiễm nước dưới đất ở đây trong các năm tới cần tập trung vào xác định các đặc điểm thiên nhiên tác động đến nước dưới đất. Tuy nhiên, do trong những năm chiến tranh chống Mỹ vùng đất này đã phải hứng chịu hàng triệu lít các chất độc nguy hiểm, hiện vẫn còn tồn lưu trong đất, trong nước ; ngoài ra còn nhiều khu tàng chứa các hoá chất, các chất độc chưa được khám phá. Đối với vùng Tây Nguyên khai thác nước ngầm  tập trung vào các thành tạo bazan đặc biệt là các đới huỷ hoại của các đứt gẫy kiến tạo. Khai thác nước ngầm trong các thành tạo bazan  chủ yếu theo quy mô vừa và nhỏ. Với các phương thức các lỗ khoan, giếng đào đường kính lớn  kết hợp các tia khoan ngang. Mặt khác khai thác nước ngầm ở Tây Nguyên phải kết hợp với phát triển thuỷ lợi  với hệ thống hồ chứa vừa và nhỏ   phân bố đều và rộng khắp. Hệ thống hồ không chỉ giúp cho tưới, ngăn lũ, giảm xói mòn còn góp phần quan trọng bổ sung nguồn nước cho nước ngầm và cải tạo khí hậu.Khai thác nước ngầm ở Tây Nguyên cũng phải gắn với việc kiểm soát ô nhiễm môi trường  đặc biệt nghiên cứu và theo dõi các tác động của các chất độc hoá học trong chiến tranh và các kho tàng cũ .
    Nếu chỉ sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt thì Tây Nguyên là vùng nước ngầm có khả năng thoả mãn mọi nhu cầu sử dụng nước cho đô thị và nông thôn đến năm 2020 và cả các thập kỷ sau.
    * CÁC VÙNG VEN BIỂN TỪ THANH HOÁ ĐẾN - BÌNH THUẬN :
    Ở Việt Nam các cồn  cát và dải cát ven biển rất phổ biến nhất là  ven biển miền Trung. Trong các cồn  cát và dải cát thường tồn tại các thấu kính nước nhạt  nổi trên nước mặn.  Các thấu kính này  có kích  thước phụ thuộc vào kích thước  các cồn  cát. Song nhìn chung bề dày lớp nước nhạt không lớn, nước dễ bị  mặn khi khai thác không hợp lý. Tuy nhiên, đối với  những vùng ven biển nước mặt thường bị mặn thì nước cồn cát là nguồn nước quý giá để cấp cho dân sinh. Thí dụ tại Đồng  Hới hiện đang khai thác khoảng trên 3000 m3/ngày nước từ Bầu Tró, thực chất là nước cồn cát để cấp cho sinh hoạt của thị xã. Hoặc tại Ninh Thuận trên các cồn cát hiện  đã phát hiện một hồ chứa nước nhạt với dung tích hơn 1.000.000 m3 (Bầu Trắng). Nước đó cần được khai thác để cấp cho Phan Thiết, nơi mưa ít nhất Việt Nam, nơi các  dòng sông vào mùa khô  cũng bị cạn và nước ngầm rất ít lại bị mặn.Đối với miền trung cần tập trung khai thác nước ở những cồn cát với các phương thức khai thác bằng các hành lang thu nước, các giếng tia.ếu sử dụng công nghệ khai thác bằng các hành lang thu nước thì nước các cồn cát có đủ khả năng thoả mãn các nhu cầu sử dụng nước cho ăn uống sinh hoạt cả nông thôn và các đô thị nhỏ( dưới 100.000 dân ) vùng ven biển từ Thanh Hoá đến Bình Thuận. Tuy nhiên điều đáng lưu ý là các cồn cát  rất dễ bị ô nhiễm do các hoạt động kinh tế ở trên mặt.Vì vậy cần có các điều tra quy hoạch để khai thác tốt các cồn cát. Đặc biệt cần quy hoạch và quản lý chặt chẽ việc nuôi tôm trên các cồn cát.
    Trong khu vực ven biển này có nhiều đô thị , trong đó nhà nước đã xác định khu vực kinh tế trọng điểm Đà Nẵng – Quảng Ngãi. Trên vùng kinh tế trọng điểm này  không nhiều  khu công nghiệp đã ra được thành lập và chắc chắn nhu cầu sử dụng nước trong những thập kỷ tới tăng lên rất lớn. Theo dự kiến của JICA thì khu công nghiệp Dung Quất và thành phố vạn tường đến năm 2020 yếu cầu một lượng rất lơn cho công nghiệp khoảng 1.200.000m3/ng; bên cạnh đó khu kinh tế mở Chu Lai của Quảng Nam đến năm 2020 cũng cần đến hàng trăm ngàn mét khối nước mỗi ngày.Thành phố Đà nẵng, TX. Tam Kỳ, Hội An , Quảng Ngãi nhu cầu sử dụng nước cũng rất cao. Các kết quả điều tra đến nay cho thấy  nước ngầm ở khu vực này không phong phú không thể đáp ứng nhu cầu sử dụng nước cho các đô thị lớn nếu chúng ta vẫn sử dụng các công nghẹ khai thác như hiện nay . Vì vậy việc sử dụng các công trình thu nước nằm ngang ở các bãi bồi của các sông Thu Bồn- Vu Gia, Trà Khúc và các cồn cát là một trong các dự án cần sớm được nghiên cứu, triển khai để có thể đáp ứng được một phần nhu cầu sử dụng nước ở khu vực kinh tế trọng điểm này.
    * CÁC  VÙNG NÚI
       Nước ngầm ở miền núi chủ yếu tồn tại vận động trong các khe nứt, khe nứt karst của các đá  cứng và các thành tạo carbonát. Đối với miền núi phía bắc thì khai thác nước từ các thành tạo carbonát phải được coi trọng. Có thể khai thác với các quy mô vừa và lớn. Tuy nhiên khai thác nước ở các vùng như vậy phải đặc biệt chú ý khả năng ô nhiễm do các hoạt động kinh tế ở các vùng phát triển đá vôi. Phải kiểm soát chặt chẽ và nghiêm cẩm đổ các chất thải trong các vùng phát triển karst. Nước trong vùng có thể dùng nước cho sản xuất công nghiệp thông thường vì nước trong các thành tạo này có độ cứng cao không đáp ứng nhu cầu của các ngành công nghiệp sử dụng các nồi hơi áp suất cao .
    Ở những nơi không phổ biến các thành tạo carbonat khai thác nước phải tập trung trong các đới huỷ hoại kiến tạo tuy nhiên chủ yếu khai thác với quy mô nhỏ các lỗ khoan khai thác đơn  lẻ với  công suất một vài trăm m3 mỗi ngày cho mỗi lỗ khoan.
    Đối với miền trung du và miền núi cần tận dụng nước trong các baĩ bồi ven các sông với công nghệ khai thác nước bằng các công trình thu nước nằm ngang.
    KẾT LUẬN
    1. Nước ta có nguồn tài nguyên nước ngầm khá phong phú song phân bố không đều. Nước ngầm có chất lượng có thể đáp ứng nhu cầu cấp nước cho ăn uống sinh hoạt chủ yếu ở miền núi nơi có nhu cầu sử dụng nước không cao; ở các đồng bằng lớn dân cư tập trung đông đúc, kinh tế phát triển phân bố nước ngầm có chất lượng tốt lại rất phức tạp. Trong tương lai nhu cầu sử dụng nước càng tăng, các tác động tiêu cự đến nước ngầm càng mạnh điều đó đòi hỏi phải có định hướng khai thác, sử dụng và bảo vệ nước ngầm một cách có hiệu quả để phục vụ phát triển lâu bền.
    2. Nước ngầm ở nước ta khá phong phú song không phải vô tận và là nguồn tài nguyên quý giá nên ưu tiên số một là sử dụng nước ngầm làm nguồn sản xuất nước sạch  hạn chế sử dụng cho các mục đích khác trừ các nguồn nước khoáng và trong các điều kiện đặc biệt.
    3. Trong những năm tới do nhu cầu sử dụng nước tăng nên việc khai thác nước trước hết tập trung vào các đối tượng chứa nước chủ yếu là các thành tạo bở rời, cácbonta và bazan.Trong đó tuỳ từng vùng hoặc địa phương cụ thể mà thứ tự ưu tiên khác nhau. Trong các thành tạo bở rời ở các đồng bằng bắc bộ cần tập trung vào tầng chứa nước Pleixtocen, đồng bằng Nam Bộ thì tập trung vào các tầng Pleixtocen giữ-muộn, Pleixtcen hạ, plĩoxen và mioxen, cần đặc biệt quan tâm các bãi bồi ven sông. Ở ven biển cần tận dụng nước trong các cồn cát. Đối với tây nguyên tập trung khai thác nước trong các thành tạo Bazan; đối với các tỉnh miền núi phía bắc và Bắc Trung Bộ cần tập trung vào các thành tạo cacbonát
    4. Khai thác nước ngầm phải đi đôi với việc bảo vệ và tái tạo nguồn nước và bảo vệ môi trường. Đối với phần bắc đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng Đông nam Bộ đặc biệt quan tâm đến ô nhiễm nước ngầm do các hoạt động kinh tế gây nên. Đối với phần nam đồng bằng Bắc Bộ, đồng bằng sông Cửu Long  và các vùng ven biển cần đặc biệt quan tâm nhiễm mặn do khai thác nước
    5. Các nguồn nước khoáng là các tài nguyên quý giá cần sớm đưa vào khai thác sử dụng và phải kết hợp sử dụng với nhiều mục đích khác nhau; trong khai thác sử dụng cần đặc biệt chú ý xử lý môi trường.
    6. Đa dạng hoá các giải pháp khai thác và xã hội hoá việc khai thác, bảo vệ nước ngầm, tăng cường công tác nghiên cứu áp dụng, triển khai các công nghệ mới, tổ chức, quan lý trong điều tra, thăm dò, khai thác, sử dụng và bảo vệ nước ngầm, tăng cường tuyên truyền giáo dục cho cộng đồng phải được coi là các chiến lược trong khai thác sử dụng bảo vệ nước ngầm.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Phùng Văn Bảng, 1984
    Nước dưới đất đồng bằng Bắc Bộ
    Luận án PTS, lưu trữ  Đại học Mỏ Địa chất
    2. Hồ Vương Bính và nnk. ,1996
    Địa chất đô thị Đà Nẵng-Hội An
    Lưu trữ sở Cục ĐC&KS Hà Nội
    3.Nguyên Kim Cương,1986
    Origin of groundwater in the Mekong plain and uotstandingproblem
    Proceding CGI vol 2
    4. Nguyễn Kim Cương, 1988
    Nước dưới đất phần cực nam lãnh thổ Việt Nam và những tín hiệu SOS
    Tuyển tập các công trình KHKT Mỏ-Địa chất XIII
    5.Nguyễn Kim Cương ,1988
    Bảo vệ tài nguyên nước dưới đất
    Thông tin Địa chất 6
    6. Nguyễn Kim Cương, 1989
    Groundwater supply for Hanoi capitaland groundwater protection against pollution
    Sem.Quarter .Geol.Hum.Survial
    7. Nguyễn Kim Cương ,1992
    Nhiễm bẩn , nhiễm mặn và phương pháp nghiên cứu
    Bài giảng cho lớp chủ phương án ĐCTV
    8. Cao Thế Dũng và nnk. , 1985
    Nước khoáng CHXHCNVN Tổng kết đề tài 44-04-01-05
    Lưu Trữ Cục Địa Chất
    9. Bùi Học, 1986
    The results of isotopic hydrogeology research in the Mekong delta
    Proc.CGI
    10.Bùi Học, 1988
    Phương pháp đồng vị nghiên cứu vận động và tuổi của nướcdưới đất ở các đồng bằng châu thổ.
    Thông tin địa chất 4+5
    11. Buì Học và nnk 1997
    Điều tra đánh giá và xây dựng phương án xử lý môi trường nghĩa trang Văn Điển
    Lưu trữ sở KHCNvà MT Hà Nội
    12 .Nguyễn Thượng Hùng , 1968
    Điều kiện ĐCTV bắc Việt nam và khả năng ứng dụng phương pháp thuỷ địa hoá tìm kiếm các mỏ sunphua kim loại trong điều kiện nhiệt đới ẩm
    Luận án PTS.Lưu trữ Đại học Mỏ Địa chất
    13. Nguyễn Thượng Hùng ,1968
    ĐCTV Tây Nguyên
    14. Hoàng Văn Hưng, 1990
    Sự hình thành thành phần hoá học nước dưới đất châu thổ sông Mekong và triển vọng sử dụng nó trong khinh tế quốc dân .
    Luận án PTS. Lưu trữ Đại học Mỏ Địa chất
    15. Hoàng Văn Hưng và nnk. 1995
    Hoàn thiện hệ thống xử lý sắt phục vụ cung cấp nước quy mô nhỏ và áp dụng các giải pháp kỹ thuật ddể giải quyết vấn đề cấp nước cho một số vùng nông thôn
    Lưu trữ Bộ GD&ĐT
    16. Đỗ Tiến Hùng, 1997
    Sự hình thành phần hoá học của nước dưới đất đồng bằng Nam Bộ
    Luận án PTS.Lưu trữ Đai học Mỏ Địa chất
    17.Vũ Ngọc Kỷ , Nguyễn Kim Ngọc, 1980,
    Đặc điểm thuỷ địa hoá phần nam rìa Đông bắc đồng bằng Bắc Bộ
    Tuyển tập các công trình KHKT Mỏ Địa chất 1977-1978
    18.Vũ Ngọc Kỷ và nnk., 1985
    Nước dưới đất CHXHCNVN
    Lưu trữ Cục Địa chất
    19.Vũ Ngọc Kỷ và nnk, 1990
    Luận chứng cơ sở khoa học khai thác sử dụng hợp lý nước dưới đất ở các vùng kinh tế trọng điểm đến năm 2000
    Lưu trữ Bộ KHCN và MT
    20.Nguyễn văn Lâm, 1996
    Sự nhiễm bẩn và bảo vệ nước dưới đất tầng chứa nước Qa vùng đồng bằng Bắc Bộ.
    Luận án PTS. Lưu trữ Đạị học Mỏ Địa chất
    21.Nguyễn Kim Ngọc và nnk. ,1983
    Đặc điểm TĐH và sự hình thành phần hoá học nước dưới đất trong trầm tích Q vùng đồng bằng Bắc Bộ
    Địa chất 160
    22.Nguyễn Kim Ngọc , 1988
    Nghiên cứu thuỷ địa hoá đồng bằng châu thổ
    Thông tin Địa Chất 4+5
    23.Nguyễn Kim Ngọc và nnk. , 1995
    Luận chứng bảo vệ các bồn chứa nước chính lãnh thổ việt nam và quy hoạch khai thác nước dưới đất ỏ các vùng ven biển và hải đảo
    Lưu trữ Bộ KHCN&MT
    24.Nguyễn Kim Ngọc và nnk , 1995
    Địa chất thuỷ văn thành phố Hạ Long
    Lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản
    25.Nguyễn Kim Ngọc và nnk., 1997
    Điều tra đánh giá bảo vệ nước dưới đất thành phố Hà Nội khỏi bị cạn kiệt và ô nhiễm.
    Lưu trữ sở KHCN&MT Hà Nội
    26. Nguyễn Kim Ngọc , Nguyễn văn Lâm  và nnk , 1998
    Điều tra đánh giá môi trường nước sinh hoạt nông thôn thành phố Hải Phòng
    Lưu trữ sở KHCN và MT Hải Phòng
    27.Nguyễn Kim Ngọc, Nguyễn văn Lâm và nnk, 1998,
    Nghiên cứu diễn biến môi trường nước dưới đất đồng bằng sông Hồng do phát triển kinh tế xã hội
    Lưu trữ Bộ KHCNvà MT
    28.Võ Công Nghiệp,1986
    Đánh giá tài nguyên địa nhiệt làm cơ sở thực tế  khai thác sửu dụng thí nghiệm vào mục đích năng lượng ở một số vùng có triển vọng
    Lưu trữ Cục Địa chất
    29.Võ Công Nghiệp và nnk, 1998
    Danh bạ các nguồn nước khoáng nước nóng Việt Nam
    Cục Địa chất và khoáng sản
    30. Trần Hiếu Nhuệ và nnk, 1996
    Quá trình vi sinh vật trong công trình cấp thoát nước
    Nhà xuất bản KH và KT, Hà Nội
    31. Phạm Quý Nhân và nnk, 1998
    Cân bằng nitơ trong nước dưới đất Hà Nội
    HNKH lần thứ 13 Đại học Mỏ Địa Chất
    32.Đặng Hữu Ơn và nnk. , 1993
    Đánh giá khả năng suy giảm chất lượng nước trong quá trình làm việc của các giếng khai thác ở Hà Nội
    Lưu trữ sở Giao thông Công chính Hà Nội
    33.Châu văn Quỳnh , 1996
    Nước khoáng và nước nóng miền Bắc Việt Nam
    Luận án PTS, Lưu trữ đại học Mỏ địa chất
    34. Đỗ Trọng Sự- Nguyễn Kim Ngọc và nnk , 1985
    Điều kiện ĐCTV-ĐCCT đòng bằng Bắc Bộ
    Lưu trữ Cục Địa chất và Khoáng sản
    35. Đỗ Trọng Sự và nnk. , 1993
    Đánh giá độ nhiễm  bẩn và đề xuất các giải pháp bảo vệ nguồn nước dưới đất ở một số khu vực trọng điểm thuộc đồng bằng Bắc Bộ
    Lưu trữ Cục Địa Chất
    36. Lê Trình, 1997
    Quan trắc và kiểm soát ô nhiễm môi trường nước
    Nhà xuất bản KH và KT , Hà Nội
    37.Vũ Kim Tuyến, 1995
    Phương pháp đồng vị nghiên cứu tuổi và nguồn gốc nước dưới đất trầm tích Đệ Tứ đồng bằng Bắc Bộ
    Luận án PTS , Lưu trữ Đại học Mỏ Địa chất
    - PGS.TS Nguyễn Kim Ngọc,
      PGS.TS Nguyễn Văn Lâm_Bộ môn Địa chất thủy văn

    #6 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 28 November 2009 - 12:44 AM

    Tạp chí Bộ môn Địa chất thủy văn
    VÀI  NÉT VỀ ĐẶC ĐIỂM THUỶ HOÁ CỦA NƯỚC DƯỚI ĐẤT LƯU VỰC SÔNG NHUỆ VÀ SÔNG ĐÁY
                                                           LÊ THỊ THANH TÂM, Viện Địa lý

    1. Đặt vấn đề:
    Lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy nằm trong đồng bằng sông Hồng, phần lớn diện tích lưu vực chịu ảnh hưởng của biển nên vấn đề thuỷ hoá của nước dưới đất (NDĐ) rất phức tạp, nước nhạt, nước mặn xen lẫn nhau gây khó khăn cho việc khai thác và sử dụng. Vì vậy, việc tìm hiểu đặc điểm thuỷ hoá của các tầng chứa NDĐ trong khu vực là vấn đề rất có ý nghĩa đối với việc định hướng khai thác và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên này. Vùng nghiên cứu có 7 tầng chứa NDĐ, tuy nhiên, chỉ có hai tầng chứa nước trong trầm tích Holocen (qh) và Pleistocen (qp)  là có ý nghĩa nhất đối với việc cung cấp nước cho nhân dân trong vùng, do đó, chúng tôi tập trung nghiên cứu cho hai tầng chứa nước này. Trên cơ sở tài liệu thu thập chúng tôi trình bày đặc điểm thuỷ hoá của tầng chứa nước (qh) và (qp) thông qua việc đánh giá trị số của độ tổng khoáng hoá (M) của NDĐ.
    2. Thang phân chia độ tổng khoáng hoá và cách thể hiện trên bản đồ
    Chúng ta biết, độ tổng khoáng hoá (M) là một chỉ tiêu quan trọng dùng để phân loại NDĐ, Thực tế dùng nước cho thấy, khi nước có M > 1g/l thường gây khó khăn cho việc sử dụng, đặc biệt trong sinh hoạt. Theo TCVN 5944-1995 do Bộ KHCNMT ban hành ngày 25-6-2002 giới hạn cho phép của M là < 1g/l. Vì vậy, trên bản đồ phân vùng thủy hoá NDĐ ở vùng nghiên cứu chúng tôi thành lập các đường đẳng M có giá trị = 1g/l của hai tầng chứa nước (qh) và (qp), từ đó khoanh ra các khu vực có NDĐ nhạt hoặc mặn để tiện cho việc sử dụng nước sau này.    
    2.1. Đặc điểm thuỷ hoá của tầng chứa nước Holocen (qh)
    Tầng chứa nước trong trầm tích Holocen là tầng chứa nước không áp, đôi chỗ có áp lực cục bộ và có tuổi trẻ nhất, chúng phân bố khá rộng trên toàn vùng (chiếm 2/3 diện tích của vùng). Nhìn chung, đặc điểm thuỷ hoá của NDĐ trong tầng (qh) ở vùng nghiên cứu biến đổi phức tạp, đặc biệt ở khu vực phía Nam. Dựa vào kết quả phân tích các mẫu nước của tầng (qh) có thể chia vùng thành các khu vực có đặc điểm  thuỷ hoá như sau:
    * Khu vực phía Bắc và phía Tây vùng nghiên cứu: Bao gồm diện tích tầng (qh) nằm ở phía Nam Hà Nội và hầu hết tỉnh Hà Tây (trừ một khoảnh nhỏ thuộc phía Nam huyện Phú Xuyên với diện tích khoảng 4km2), kéo xuống huyện Duy Tiên và một phần Kim Bảng của tỉnh Hà Nam rồi xuống một diện tích nhỏ của huyện Gia Viễn- Ninh Bình. NDĐ ở khu vực này có M biển đổi trong phạm vi từ < 0,1 đến <1g/l, nước hoàn toàn nhạt. Loại hình hoá học chủ yếu là  HCO3-- Ca+2 - Mg+2, hoặc HCO3  Ca+2- Mg+2-Na+, đôi khi là Cl-- HCO3-- Na+. Theo kết quả phân tích các mẫu nước cho thấy hàm lượng ion Cl- trong nước ở các khu vực này hầu hết nhỏ hơn 150g/l. Nguồn cung cấp của tầng chủ yếu là nước mưa, nước mặt ngấm xuống, vì vậy, quá trình rửa lũa là quá trình quyết định sự hình thành lên thành phần hoá học của tầng chứa nước ở đây.
    Khu vực này nước của tầng (qh) là nước nhạt nên thuận lợi cho việc cấp nước cho ăn uống và sinh hoạt. Trên thực tế nhân dân trong các khu vực này thường khai thác nước từ tầng (qh) thông qua các giếng khoan đường kính nhỏ.
    * Khu vực phía Nam vùng nghiên cứu: Gồm hầu hết các huyện của tỉnh Hà Nam, Nam Định và một phần tỉnh Ninh Bình, phía trên chúng nằm tiếp giáp với khu vực nước nhạt kể trên, phía dưới nằm giáp với biển. Đây là khu vực đồng bằng ven biển nên điều kiện thuỷ hoá của tầng chứa nước rất phức tạp, các khu vực nước nhạt xen lẫn với khu vực nước lợ và nước mặn. Dựa vào ranh giới của đường M =1g/l trên bản đồ có thể thấy, ở phía Nam của vùng có thể chia thành các khoảnh mặn, nhạt của tầng (qh) như sau:
    + Khoảnh nước lợ đến mặn: Đây là khoảnh có diện tích khá lớn nằm chủ yếu ở tỉnh Hà Nam gồm các xã của huyện Bình Lục, một phần huyện Thanh Liêm, ngoài ra còn có các xã của huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định kéo dài xuống các xã thuộc huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. Trong các khoảnh này tầng (qh) bị mặn là chủ yếu, đôi chỗ nước của tầng là nước nhạt, song diện tích nước nhạt này thường nhỏ nằm đan xen với các khoảnh nước mặn, do mức độ nghiên cứu nên trên bản đồ không thể hiện rõ vị trí của các khoảnh nước nhạt ở khu vực này. Loại hình hoá học của nước ở khu vực này chủ yếu là Cl-- Na+, hoặc Cl--  HCO-3 - Na+- Mg+2, đôi khi là Cl-- SO-24. Hàm lượng ion Cl- trong nước phổ biến từ 600 đến lớn hơn 1000, có khi hơn 4000mg/l. Giá trị M của nước phổ biến từ >1 đến 4g/l.
    + Khoảnh nước nhạt: Chúng nằm tiếp ngay bên dưới của khoảnh trên, với diện tích nhỏ chạy dài từ huyện Trực Ninh của Nam Định đến các xã phía Nam huyện Vụ Bản và về gần đến huyện Kim Sơn của Ninh Bình. Nước có M < 1g/l, tuy nhiên, với diện tích nhỏ, hẹp lại nằm rất gần với khoảnh nước mặn nên việc khai thác nước ở đây nếu không tuân thủ đúng những quy định thì rất dễ đưa đến tình trạng mặn hoá. Loại hình hoá học chủ yếu của nước là HCO3-- Ca+2 - Mg+2, hoặc HCO3¬- Ca+2- Mg+2-Na+, đôi khi là Cl-- HCO3-- Na+.
    + Khoảnh nước mặn: Nằm ở phía Nam vùng nghiên cứu, có diện tích nhỏ, gồm các xã ven biển thuộc huyện Trực Ninh - Nam Định, kéo vào một số xã của huyện Nam Trực qua Nghĩa Hưng và xuống đến huyện Kim Sơn của tỉnh Ninh Bình. Độ tổng khoáng hoá thường có giá trị từ 1,5 đến lớn hơn 2,5g/l.
    + Khoảnh nước nhạt: Khoảnh này có diện tích nhỏ nằm ở phía Nam huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định.
    Qua kết quả trên ta thấy, tỉnh Hà Nam là tỉnh có nước của tầng (qh) bị mặn nhiều nhất, có tới hơn 50% diện tích của tỉnh có nước tầng qh bị mặn (đặc biệt tại huyện Kim Bảng nước hầu như bị mặn hoàn toàn) [4]. Tuy nhiên, do diện tích nước mặn đan xen lẫn với diện tích nước nhạt, nên ở những khu vực này nếu không có chế độ khai thác hợp lý thì phần diện tích nước nhạt hiện có rất dễ bị nhiễm mặn.
    2.2. Đặc điểm thuỷ hoá của tầng chứa nước pleistocen (qp).
    Đây là tầng chứa nước có áp, phân bố rộng rãi trong vùng nghiên cứu nhưng chủ yếu bị tầng (qh) phủ lên trên. Tương tự như tầng (qh), tầng chứa nước (qp) có đặc điểm thuỷ hoá khá phức tạp. Từ kết quả phân tích mẫu có thể phân chia vùng nghiên cứu thành các khu vực như sau:
    * Khu vực phía Bắc vùng nghiên cứu: Đây là khu vực nước nhạt hoàn toàn, khu vực này chạy dài từ Hà Nội, Hà Tây sau đó men theo rìa phía Tây của vùng qua các tỉnh Hoà Bình đến Nho Quan (Ninh Bình). Loại hình hoá học của nước chủ yếu là HCO3-- Ca+2, M thường < 1g/l. Đây là khu vực có diện tích khá rộng lớn, vì vậy, rất thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng NDĐ. Đặc biệt, trong khu vực có Thủ đô Hà Nội- nơi có nhu cầu sử dụng nước lớn nhất vùng, tại đây đã và đang khai thác NDĐ để phục vụ cho mọi nhu cầu sinh hoạt và sản xuất từ gần 100 năm nay .
    * Khu vực trung tâm vùng nghiên cứu: Đây là nơi nước của tầng (qp) bị lợ đến mặn, chúng bắt đầu từ Phú Xuyên (Hà Tây) đi qua hầu hết các huyện của tỉnh Hà Nam, kéo xuống một phần huyện Vụ Bản( Nam Định) rồi xuống Gia Viễn, Kim sơn của Ninh Bình. Loại hình hoá học chủ yếu là Cl-- Na+ với M biến đổi từ 1,2 đến > 4g/l, hàm lượng ion clo phổ biến từ >700 đến 2000mg/l.
    * Khu vực phía Nam vùng nghiên cứu: Khu vực này nước của tầng (qp) không bị mặn. Loại hình hoá học phổ biến là HCO3-- Ca+2 - Mg+2, hoặc HCO3- Ca+2- Mg+2-Na+, đôi khi là Cl-- HCO3-- Na+. Nước có M biến đổi từ 0,2 đến <1g/l. Khu vực này có diện tích không lớn, gồm các xã của huyện Nam Trực, Nghĩa Hưng (Nam Định) và một số xã của huyện Kim Sơn (Ninh Bình).
    3. Kết luận
    Qua những nét chủ yếu về đặc điểm thuỷ hoá của hai tầng chứa nước kể trên, chúng ta thấy, vùng nghiên cứu có đặc tính thuỷ hoá khá phức tạp, cả hai tầng chứa nước đều có đặc điểm thuỷ hoá biến đổi từ nhạt đến lợ rồi đến mặn. Tuy nhiên, ranh giới giữa các khu vực nước nhạt và nước mặn rất phức tạp, chúng đan xen lẫn nhau. Từ bản đồ phân vùng thuỷ hoá nước có thể chia ra các khu vực cụ thể sau:
    * Khu vực có cả hai tầng đều là nước nhạt: Nằm ở phía Bắc vùng (gồm phía Nam sông Hồng tại Hà Nội, phần lớn tỉnh Hà Tây và một dải nhỏ ở Gia Viễn, Nho Quan của Ninh Bình). Đây là khu vực được xem là có nhiều thuận lợi cho việc khai thác và sử dụng NDĐ ở  vùng  nghiên cứu.
    * Khu vực có một tầng chứa nước bị mặn: Gồm các khoảnh sau:
    + Khoảnh có tầng trên (tức là tầng qh) bị mặn: Nằm ở phía Nam vùng, thuộc các xã của huyện Nam Trực và Nghĩa Hưng (Nam Định). Tại đây cần phải lưu ý khi gia công các công trình khai thác nước và chế độ khai thác của tầng sản phẩm bên dưới, nếu không đảm bảo đúng kỹ thuật sẽ dễ đưa đến hiện tượng nước mặn ở tầng trên chảy vào tầng bên dưới và làm mặn hoá tầng dưới.
    + Khu vực có tầng dưới (qp) bị mặn: Hiện tượng này xảy ra tại khu vực trung tâm vùng nghiên cứu, chúng có diện tích khá lớn chạy dài từ huyện Phú Xuyên (Hà Tây) qua các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, một phần của Phủ Lý và Thanh Liêm rồi xuống đến Gia Viễn, Kim Sơn (Ninh Bình).
    + Khu vực có cả hai tầng đều bị mặn: Nằm ở trung tâm của vùng nghiên cứu, chúng bao gồm một phần của các huyện Bình Lục, Thanh Liêm, Phủ Lý (Hà Nam) kéo qua Gia Viễn xuống tới Kim Sơn (Ninh Bình). Đây là khu vực khó khăn nhất trong vùng về nước sạch, dân ở đây thường phải dùng nước mặt cho sinh hoạt, có nơi còn phải dùng nước có độ khoáng hoá lên tới 1,5g/l...  
    Tóm lại: NDĐ ở vùng nghiên cứu có tiềm năng khá phong phú nhưng chế độ thuỷ hoá của chúng rất phức tạp gây nhiều khó khăn cho người dân khi khai thác và sử dụng. Vì vậy, từ bản đồ phân vùng thuỷ hoá ở vùng nghiên cứu cần đưa ra chế độ khai thác hợp lý cho từng khu vực nhằm bảo vệ được NDĐ trong vùng trước nguy cơ bị nhiễm  mặn.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    1. Lê Văn Hiển &nnk, 2000. Nước dưới đất đồng bằng Bắc bộ, Cục Địa chất và khoáng sản Việt Nam, Hà Nội.
    2. Bùi Học &nnk, 2000. Điều tra thực trạng khai thác nước ngầm, khối lượng, chất lượng nước ngầm ở đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long và một số vùng trọng điểm, trong đó có Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Hà Nội.
    3. Trần Minh, Nguyễn Văn Đản, 1993. Báo cáo đánh giá nguồn nước dưới đất vùng Hà Nội, Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
    4. Phạm Quý Nhân, 2000. Sự hình thành và trữ lượng nước dưới đất các trầm tích Đệ Tứ đồng bằng Sông Hồng và ý nghĩa của nó trong nền kinh tế quốc dân. Luận án Tiến sỹ địa chất, Bộ Giáo dục và đào tạo, Trường đại học Mỏ - Địa chất, Hà Nội.
    5. Đỗ Trọng Sự &nnk, 2001. Đặc điểm thuỷ địa hoá nước dưới đất vùng ven biển Bắc bộ và Bắc trung bộ. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
    6. Lê Thị Thanh Tâm &nnk,  2004. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, dự báo sự biến đổi môi trường tài nguyên nước dưới đất lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy và đề xuất các biện pháp bảo vệ môi trường. Viện Địa lý, Hà Nội.        
    SUMMARY
    Some characteristics of hydrogeology - chemistry in Nhue and Day river basin
                                                    Le Thi Thanh Tam, Institute of Geography
    Nhue and Day River basin in the plan of Hong River, are divided into seven aquifers, but there are two aquifers which are very important for water supply: Holocene porous aquifer (qh) and Pleistocene porous aquifer (qp). In the littoral zone and estuarine areas, the aquifers suffers the influence of the sea. Total dissolved solids of groundwater changes from  <1 g/l to 3 g/l. However, the fress aquifer mix up with salt aquifer, that is difficult for using groundwater in Nhue and Day river basin.

    #7 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 28 November 2009 - 01:03 AM

    LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC

    Nước là tài nguyên đặc biệt quan trọng, là thành phần thiết yếu của sự sống và môi trường, quyết định sự tồn tại, phát triển bền vững của đất nước; mặt khác nước cũng có thể gây ra tai họa cho con người và môi trường;
    Để tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nâng cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;
    Căn cứ vào Hiến pháp nước  Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;
    Luật này quy định việc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.

    Chương I
    NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

    Điều 1. Sở hữu tài nguyên nước
    1. Tài nguyên nước thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý.
    2. Tổ chức, cá nhân được quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho đời sống và sản xuất, đồng thời có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra theo quy định của pháp luật. Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
    Điều 2. Đối tượng và phạm vi áp dụng
    1. Tài nguyên nước quy định trong Luật này bao gồm các nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nước biển thuộc lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nước biển, nước dưới đất thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa được quy định tại các văn bản pháp luật khác. Nước khoáng, nước nóng thiên nhiên do Luật khoáng sản quy định.
    2. Luật này áp dụng đối với việc quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.
    Điều 3. Giải thích từ ngữ
    Trong Luật này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
    1. "Nguồn nước" chỉ các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng được, bao gồm sông, suối, kênh, rạch; biển, hồ, đầm, ao; các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác.
    2. "Nước mặt" là nước tồn tại trên mặt đất liền hoặc hải đảo.
    3. "Nước dưới đất" là nước tồn tại trong các tầng chứa nước dưới mặt đất.
    4. "Nước sinh hoạt" là nước dùng cho ăn uống, vệ sinh của con người.
    "Nước sạch" là nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng nước sạch của Tiêu chuẩn Việt Nam.
    5. "Nguồn nước sinh hoạt" là nguồn có thể cung cấp nước sinh hoạt hoặc nước có thể xử lý thành nước sạch một cách kinh tế.
    6. "Nguồn nước quốc tế" là nguồn nước từ lãnh thổ Việt Nam chảy sang lãnh thổ các nước khác, từ lãnh thổ các nước khác chảy vào lãnh thổ Việt Nam hoặc nằm trên biên giới giữa Việt Nam và nước láng giềng.
    7. "Phát triển tài nguyên nước" là biện pháp nhằm nâng cao khả năng khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên nước và nâng cao giá trị của tài nguyên nước.
    8. "Bảo vệ tài nguyên nước" là biện pháp phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, bảo đảm an toàn nguồn nước và bảo vệ khả năng phát triển tài nguyên nước.
    9. "Khai thác nguồn nước" là hoạt động nhằm mang lại lợi ích từ nguồn nước.
    10. "Sử dụng tổng hợp nguồn nước” là sử dụng hợp lý, phát triển tiềm năng của một nguồn nước và hạn chế tác hại do nước gây ra để phục vụ tổng hợp cho nhiều mục đích.
    11. "Vùng bảo hộ vệ sinh khu vực lấy nước" là vùng phụ cận khu vực lấy nước từ nguồn nước được quy định phải bảo vệ để phòng, chống ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt.
    12. "Ô nhiễm nguồn nước" là sự thay đổi tính chất vật lý, tính chất hoá học, thành phần sinh học của nước vi phạm tiêu chuẩn cho phép.
    13. "Giấy phép về tài nguyên nước" bao gồm giấy phép thăm dò nước dưới đất; giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và giấy phép về các hoạt động phải xin phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi.
    14. "Suy thoái, cạn kiệt nguồn nước" là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của nguồn nước.
    15. "Lưu vực sông” là vùng địa lý mà trong phạm vi đó nước mặt, nước dưới đất chảy tự nhiên vào sông.
    16. "Quy hoạch lưu vực sông" là quy hoạch về bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước, phát triển tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong lưu vực sông.
    17. "Công trình thuỷ lợi" là công trình khai thác mặt lợi của nước; phòng, chống tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường và cân bằng sinh thái.
    18. "Phân lũ, chậm lũ" là việc chủ động chuyển một phần dòng nước lũ theo hướng chảy khác, tạm chứa nước lại ở một khu vực để giảm mức nước lũ.
    19. "Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn" là địa bàn vùng dân tộc thiểu số, miền núi, vùng có kết cấu hạ tầng chưa phát triển, vùng có điều kiện tự nhiên không thuận lợi.
    20. "Địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn" là địa bàn vùng dân tộc thiểu số ở miền núi cao, hải đảo, vùng có kết cấu hạ tầng yếu kém, vùng có điều kiện tự nhiên rất không thuận lợi.
    Điều 4. Quản lý tài nguyên nước
    1. Nhà nước có chính sách quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra nhằm bảo đảm nước cho sinh hoạt của nhân dân, cho các ngành kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và phục vụ sự phát triển bền vững của đất nước.
    2. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên nước và mọi hoạt động bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trong phạm vi cả nước.
    3. Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện các biện pháp quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; giám sát, kiểm tra việc thi hành pháp luật về tài nguyên nước tại địa phương.
    4. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện và giám sát việc thi hành pháp luật về tài nguyên nước.
    5. Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có trách nhiệm thi hành pháp luật về tài nguyên nước.
    Điều 5. Bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra
    1. Việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải tuân theo quy hoạch lưu vực sông đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; bảo đảm tính hệ thống của lưu vực sông, không chia cắt theo địa giới hành chính.
    2. Việc bảo vệ tài nguyên nước, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước phải gắn với việc bảo vệ, phát triển rừng và khả năng tái tạo nguồn nước; xây dựng và bảo vệ công trình thủy lợi; phòng, chống ô nhiễm nguồn nước; thực hiện khai thác, sử dụng tổng hợp, tiết kiệm, an toàn và có hiệu quả nguồn nước.
    3. Trong việc phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải có kế hoạch và biện pháp chủ động phòng, tránh, giảm nhẹ, hạn chế tác hại do nước gây ra; bảo đảm kết hợp hài hòa giữa lợi ích của cả nước với các vùng, các ngành; giữa khoa học, công nghệ hiện đại với kinh nghiệm truyền thống của nhân dân và phù hợp với khả năng của nền kinh tế.
    4. Các dự án bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra phải góp phần phát triển kinh tế - xã hội và phải có các biện pháp bảo đảm đời sống dân cư, quốc phòng, an ninh; bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và môi trường.
    Điều 6. Chính sách đầu tư phát triển tài nguyên nước
    1. Nhà nước đầu tư cho việc điều tra cơ bản về tài nguyên nước, xây dựng hệ thống quan trắc, hệ thống thông tin dữ liệu, nâng cao khả năng dự báo lũ, lụt, hạn hán, xâm nhập mặn, nước biển dâng, tràn và các tác hại khác do nước gây ra.
    2. Nhà nước có kế hoạch ưu tiên đầu tư để giải quyết nước sinh hoạt cho dân cư các vùng đặc biệt khan hiếm nước; đầu tư, hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng về tài nguyên nước.
    3. Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân ngoài nước đầu tư vốn vào việc phát triển tài nguyên nước; nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến để  phát triển tài nguyên nước và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ.
    Điều 7. Chính sách tài chính về tài nguyên nước                
    1. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước có nghĩa vụ tài chính và đóng góp công sức, kinh phí cho việc xây dựng công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.
    2. Nhà nước thực hiện chính sách miễn, giảm thuế tài nguyên nước, phí tài nguyên nước đối với địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
    Điều 8. Quan hệ quốc tế về tài nguyên nước
    Nhà nước khuyến khích mở rộng quan hệ quốc tế và hợp tác quốc tế về điều tra cơ bản, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra nhằm phát triển tài nguyên nước theo nguyên tắc bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, các bên cùng có lợi và phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.
    Điều 9. Các hành vi bị nghiêm cấm
    Nghiêm cấm mọi hành vi làm suy thoái, cạn kiệt nghiêm trọng nguồn nước; ngăn cản trái phép sự lưu thông của nước; phá hoại công trình bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra và cản trở quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp pháp của mọi tổ chức, cá nhân.

    Chương II
    BẢO VỆ TÀI NGUYÊN NƯỚC

    Điều 10. Trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước
    1. Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước.
    2. Chính quyền địa phương các cấp có trách nhiệm bảo vệ tài nguyên nước tại địa phương.
    3. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thường xuyên bảo vệ nguồn nước do mình trực tiếp khai thác, sử dụng.
    4. Người phát hiện hành vi, hiện tượng gây tổn hại hoặc đe dọa đến an toàn nguồn nước có trách nhiệm ngăn chặn, khắc phục hoặc báo ngay cho chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức gần nhất để kịp thời xử lý.
    Điều 11. Phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước
    1. Nhà nước có kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ đầu nguồn và các loại rừng khác, xây dựng công trình thuỷ lợi, khôi phục nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt; khuyến khích tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm để bảo vệ tài nguyên nước.
    2. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nguồn nước phải tuân theo các quy định về phòng, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước.
    Điều 12. Bảo vệ nước dưới đất
    1. Tổ chức, cá nhân khoan thăm dò địa chất, khoan thăm dò nước dưới đất, xử lý nền móng công trình phải thực hiện các biện pháp để bảo vệ tài nguyên nước dưới đất theo quy định của pháp luật.
    2. Tổ chức, cá nhân khai thác nước dưới đất phải tuân theo các quy trình, quy phạm về an toàn kỹ thuật và chống sụt lún; về bảo vệ các tầng chứa nước và môi trường liên quan; về san, lấp sau khi khai thác.
    3. Tổ chức, cá nhân khai khoáng, xây dựng công trình ngầm dưới đất, thi công công trình khai thác nước dưới đất phải tuân theo quy trình, quy phạm về an toàn kỹ thuật, chống suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất và gây sụt lún nghiêm trọng mặt đất.
    Điều 13. Bảo vệ chất lượng nước
    1. Trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và từng địa phương phải có kế hoạch phòng, chống ô nhiễm nguồn nước và khôi phục chất lượng nguồn nước bị ô nhiễm.
    2. Việc quy hoạch và quản lý các khu công nghiệp, khu du lịch, khu dân cư tập trung, bệnh viện, khu chăn nuôi và giết mổ gia súc có quy mô lớn, bãi chứa chất thải, khu chôn cất chất phóng xạ, rác thải, khu nghĩa trang phải tuân theo các quy định của Luật này và pháp luật về bảo vệ môi trường, bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước.
    3. Nghiêm cấm việc đưa vào nguồn nước các chất thải độc hại, nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn cho phép theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường.
    Điều 14. Bảo vệ chất lượng nguồn nước sinh hoạt
    1. Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thực hiện các biện pháp vệ sinh môi trường để  bảo vệ nguồn nước sinh hoạt.
    2. Cấm xả nước thải, đưa các chất thải gây ô nhiễm vào vùng bảo hộ vệ sinh của khu vực lấy nước sinh hoạt.
    Uỷ ban nhân dân các cấp quy định vùng bảo hộ vệ sinh của khu vực lấy nước sinh hoạt trong phạm vi địa phương.
    Điều 15. Bảo vệ chất lượng nước trong sản xuất nông nghiệp, nuôi,  trồng thuỷ, hải sản, sản xuất công nghiệp, khai khoáng
    1. Tổ chức, cá nhân sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp; nuôi trồng thuỷ, hải sản không được gây ô nhiễm nguồn nước.
    2. Các cơ sở sản xuất công nghiệp, khai khoáng không được xả khí thải, nước thải chưa xử lý hoặc xử lý chưa đạt tiêu chuẩn cho phép vào không khí, nguồn nước dẫn đến gây ô nhiễm nguồn nước.
    Điều 16. Bảo vệ chất lượng nước trong các hoạt động khác
    Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích giao thông vận tải thuỷ, thể thao, giải trí, du lịch, y tế, an dưỡng, nghiên cứu khoa học và các mục đích khác không được gây ô nhiễm nguồn nước; nếu vi phạm thì phải bị xử lý theo quy định của Luật này và pháp luật về bảo vệ môi trường.
    Điều 17. Bảo vệ nguồn nước ở đô thị, khu dân cư tập trung
    1. Uỷ ban nhân dân các cấp có kế hoạch và tổ chức thực hiện việc xử lý nước thải ở đô thị, khu dân cư tập trung trong phạm vi địa phương, bảo đảm tiêu chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn nước.
    2. Nghiêm cấm các hành vi gây bồi lấp lòng dẫn, san lấp ao, hồ công cộng trái phép.
    Điều 18. Xả nước thải vào nguồn nước
    1. Tổ chức, cá nhân sử dụng nước trong sản xuất, kinh doanh và các hoạt động khác nếu xả nước thải vào nguồn nước thì phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    2. Việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước phải căn cứ vào khả năng tiếp nhận nước thải của nguồn nước, bảo đảm không gây ô nhiễm nguồn nước và việc bảo vệ tài nguyên nước.
    Chính phủ quy định cụ thể việc cấp phép xả nước thải vào nguồn nước.
    Điều 19. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân được phép xả nước thải  
    1. Tổ chức, cá nhân được phép xả nước thải vào nguồn nước có những quyền sau đây:
    a) Được đền bù thiệt hại theo quy định của pháp luật trong trường hợp cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép xả nước thải thay đổi vị trí hoặc rút ngắn thời hạn cho phép xả nước thải;
    B) Khiếu nại, khởi kiện về hành vi vi phạm quyền xả nước thải và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật.
    2. Tổ chức, cá nhân được phép xả nước thải vào nguồn nước có những nghĩa vụ sau đây:
    a) Thực hiện việc xử lý nước thải để đạt tiêu chuẩn cho phép trước khi xả vào nguồn nước; nếu vi phạm những quy định về việc xả nước thải mà gây thiệt hại thì phải bồi thường;
    B) Nộp lệ phí cấp phép, phí xả nước thải vào nguồn nước theo quy định của pháp luật.

    Chương III
    KHAI THÁC, SỬ DỤNG TÀI NGUYÊN NƯỚC

    Điều 20. Điều hòa, phân phối tài nguyên nước
    1. Việc điều hoà, phân phối tài nguyên nước cho các mục đích sử dụng phải căn cứ vào quy hoạch lưu vực sông, tiềm năng thực tế của nguồn nước, bảo đảm nguyên tắc công bằng, hợp lý và ưu tiên về số lượng, chất lượng cho nước sinh hoạt.
    2. Trong trường hợp thiếu nước, việc điều hoà, phân phối phải ưu tiên cho mục đích sinh hoạt; các mục đích sử dụng khác được điều hòa, phân phối theo tỷ lệ quy định trong quy hoạch lưu vực sông và bảo đảm nguyên tắc công bằng, hợp lý.
    Chính phủ quy định cụ thể việc điều hoà, phân phối tài nguyên nước.
    Điều 21. Chuyển nước từ lưu vực sông này sang lưu vực sông khác
    1. Việc xây dựng dự án chuyển nước từ lưu vực sông này sang lưu vực sông khác phải căn cứ vào chiến lược quốc gia về tài nguyên nước, quy hoạch lưu vực các sông có liên quan, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương trong lưu vực sông có liên quan và phải tính toán đầy đủ khả năng của các nguồn nước, nhu cầu dùng nước và tác động môi trường.
    2. Thẩm quyền phê duyệt dự án chuyển nước từ lưu vực sông này sang lưu vực sông khác được thực hiện theo quy định tại Điều 59 của Luật này; trường hợp có liên quan đến nguồn nước quốc tế thì việc phê duyệt dự án còn phải thực hiện theo các quy định tại Điều 53 của Luật này.
    Điều 22. Quyền của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước
    Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước có những quyền sau đây:
    1. Được quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích sinh hoạt, sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, khai khoáng, phát điện, giao thông thủy, nuôi trồng thủy, hải sản, sản xuất muối, thể thao, giải trí, du lịch, y tế, an dưỡng, nghiên cứu khoa học và các mục đích khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;
    2. Được hưởng lợi từ việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước; được chuyển nhượng, cho thuê, để thừa kế, thế chấp tài sản đầu tư vào việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phát triển tài nguyên nước theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;
    3. Được bồi thường thiệt hại trong trường hợp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước bị thu hồi trước thời hạn vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;
    4. Khiếu nại, khởi kiện tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền về các hành vi vi phạm quyền khai thác, sử dụng tài nguyên nước và các lợi ích hợp pháp khác;
    5. Được Nhà nước bảo hộ quyền lợi hợp pháp trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước.
    Điều 23. Nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước
    1. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước có những nghĩa vụ sau đây:
    a) Chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về tài nguyên  nước;
    B) Sử dụng nước đúng mục đích, tiết kiệm, an toàn và có hiệu quả;
    c) Cung cấp thông tin để kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước khi có yêu cầu;
    d) Không gây cản trở hoặc làm thiệt hại đến việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;
    đ) Bảo vệ tài nguyên nước đang được khai thác, sử dụng;
    e) Thực hiện nghĩa vụ tài chính; bồi thường thiệt hại do mình gây ra trong khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo quy định của pháp luật.
    2. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước trong các trường hợp phải có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì ngoài việc thực hiện các quy định tại khoản 1 Điều này, còn phải thực hiện các quy định ghi trong giấy phép.
    Điều 24. Cấp phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước
    1. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
    2. Các trường hợp không phải xin phép:
    a) Khai thác, sử dụng nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình cho sinh hoạt;
    B) Khai thác, sử dụng nguồn nước mặt, nguồn nước dưới đất với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình cho sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thủy điện và cho các mục đích khác;
    c) Khai thác, sử dụng nguồn nước biển với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình cho sản xuất muối và nuôi trồng hải sản;
    d) Khai thác, sử dụng nước mưa, nước mặt, nước biển trên đất đã được giao, được thuê theo quy định của pháp luật về đất đai, quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật;
    đ) Các trường hợp khác do Chính phủ quy định.
    Chính phủ quy định việc cấp phép và việc khai thác, sử dụng nguồn nước với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình nói tại Điều này.
    Điều 25. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sinh hoạt
    1. Nhà nước ưu tiên việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho mục đích sinh hoạt bằng các biện pháp sau đây:
    a) Đầu tư, hỗ trợ các dự án cấp nước sinh hoạt, nước sạch, ưu tiên đối với vùng đặc biệt khan hiếm nước, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và địa bàn có nguồn nước bị ô nhiễm nặng;
    B) Khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân ngoài nước đầu tư khai thác nguồn nước sinh hoạt.
    2. Uỷ ban nhân dân các cấp, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, dự án cấp nước sinh hoạt, nước sạch; thực hiện biện pháp khẩn cấp để bảo đảm nước sinh hoạt trong trường hợp có thiên tai hoặc sự cố gây ra thiếu nước.
    3. Tổ chức, cá nhân được cấp nước sinh hoạt, nước sạch có trách nhiệm tham gia đóng góp công sức, tài chính cho việc khai thác, xử lý nước sinh hoạt, nước sạch theo quy định của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
    Điều 26. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sản xuất nông nghiệp
    1. Nhà nước đầu tư, hỗ trợ cho việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước để sản xuất nông nghiệp.
    2. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước để sản xuất nông nghiệp phải có biện pháp tiết kiệm nước, phòng, chống chua mặn, lầy thụt, xói mòn đất và không gây ô nhiễm nguồn nước.
    3. Tổ chức, cá nhân chỉ được khai thác, sử dụng nước thải khi đã bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng nước theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền để sản xuất nông nghiệp.
    Điều 27. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sản xuất muối  và  nuôi trồng thuỷ, hải sản
    1. Nhà nước khuyến khích đầu tư khai thác, sử dụng nước biển để sản xuất muối. Tổ chức, cá nhân sử dụng nước biển để sản xuất muối không được gây xâm nhập mặn và làm ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp và môi trường.
    2. Tổ chức, cá nhân chỉ  được sử dụng nước thải khi đã bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng nước theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho nuôi trồng thủy, hải sản. Việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho khai thác, nuôi trồng thuỷ, hải sản không được làm suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, cản trở dòng chảy, hư hại công trình thuỷ lợi, gây trở ngại cho giao thông thuỷ, gây nhiễm mặn nguồn nước và đất  nông nghiệp.
    Điều 28. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sản xuất công nghiệp, khai khoáng
    1. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho sản xuất công nghiệp phải tiết kiệm nước, được khuyến khích sử dụng nước tuần hoàn, dùng lại nước và không được gây ô nhiễm nguồn nước.
    2. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho khai khoáng sau khi sử dụng nước phải có biện pháp xử lý và đưa nước vào nguồn theo quy hoạch.
    Điều 29. Khai thác, sử dụng nguồn nước cho thuỷ điện
    1. Nhà nước khuyến khích việc khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện.
    2. Việc xây dựng các công trình thủy điện phải tuân theo quy hoạch lưu vực sông và quy định về bảo vệ môi trường.
    3. Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng nguồn nước cho thuỷ điện phải tuân theo quy trình vận hành điều tiết nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, bảo đảm sử dụng tổng hợp nguồn nước, trừ trường hợp khai thác, sử dụng nguồn nước cho thủy điện với quy mô nhỏ trong phạm vi gia đình.
    Điều 30. Khai thác, sử dụng nguồn nước cho giao thông thuỷ
    1. Nhà nước khuyến khích khai thác, sử dụng nguồn nước để phát triển giao thông thủy.
    2. Hoạt động giao thông thuỷ không được gây ô nhiễm nguồn nước, cản trở dòng chảy, gây hư hại lòng, bờ nguồn nước và các công trình trên nguồn nước; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    3. Việc xây dựng công trình, quy hoạch tuyến giao thông thuỷ phải tuân theo quy hoạch lưu vực sông và quy hoạch phát triển các vùng ven biển.
    4. Việc xây dựng và quản lý các công trình khác liên quan đến nguồn nước phải bảo đảm an toàn và hoạt động bình thường cho các phương tiện giao thông thuỷ và không gây ảnh hưởng xấu đến môi trường.
    Điều 31. Khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho các mục đích khác
    Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước cho nghiên cứu khoa học, y tế, an dưỡng, thể thao, giải trí, du lịch, làm nhà trên mặt nước và cho các mục đích khác phải sử dụng nước hợp lý, tiết kiệm; không được gây suy thoái, cạn kiệt nguồn nước, cản trở dòng chảy, xâm nhập mặn và các ảnh hưởng xấu khác đến nguồn nước.
    Điều 32. Gây mưa nhân tạo
    Việc gây mưa nhân tạo phải căn cứ vào nhu cầu về nước của vùng thiếu nước và điều kiện cho phép để quyết định biện pháp, quy mô hợp lý và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    Điều 33. Quyền dẫn nước chảy qua  
    Tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước và xả nước thải vào nguồn nước hợp pháp được quyền dẫn nước chảy qua đất hoặc bất động sản liền kề thuộc quyền quản lý, sử dụng của tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật này và của Bộ Luật Dân sự.
    Điều 34. Thăm dò, khai thác nước dưới đất
    1. Tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác nước dưới đất phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều 24 của Luật này.
    2. Việc cấp phép khai thác nước dưới đất phải căn cứ vào kết quả điều tra cơ bản, thăm dò nước dưới đất và tiềm năng, trữ lượng nước dưới đất.
    3. Tổ chức, cá nhân thực hiện việc khoan điều tra, khảo sát địa chất, thăm dò, thi công công trình khai thác nước dưới đất phải có giấy phép hành nghề.
    Điều 35. Bổ sung, thay đổi mục đích, quy mô khai thác, sử dụng tài nguyên nước
    Tổ chức, cá nhân được phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước khi bổ sung, thay đổi mục đích, quy mô khai thác, sử dụng thì phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Chương IV
    PHÒNG, CHỐNG, KHẮC PHỤC HẬU QUẢ LŨ, LỤT
    VÀ TÁC HẠI KHÁC DO NƯỚC GÂY RA

    Điều 36. Trách nhiệm, nghĩa vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác hại khác do nước gây ra
    1. Cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân có nghĩa vụ tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác hại khác do nước gây ra.
    2. Chính phủ quyết định và chỉ đạo các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác hại khác do nước gây ra.
    3. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt và tác hại khác do nước gây ra.
    Điều 37. Lập tiêu chuẩn và phương án phòng, chống lũ, lụt
    1. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước có trách nhiệm lập tiêu chuẩn phòng, chống lũ, lụt cho từng vùng của lưu vực sông để làm cơ sở cho việc lập quy hoạch, xây dựng công trình và phương án phòng, chống lũ, lụt của lưu vực sông.
    2. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp căn cứ vào tiêu chuẩn phòng, chống lũ, lụt cho từng vùng của lưu vực sông và quy hoạch phòng, chống lũ, lụt của lưu vực sông để xây dựng phương án phòng, chống lũ, lụt của Bộ, ngành và địa phương.
    3. Căn cứ vào phương án phòng, chống lũ, lụt, các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp xây dựng kế hoạch chuẩn bị lực lượng, vật tư, phương tiện và các điều kiện cần thiết khác để xử lý khi lũ, lụt xảy ra.
    4. Cơ quan quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn có trách nhiệm tổ chức quan trắc, dự báo và thông báo kịp thời về mưa, lũ và nước biển dâng trong phạm vi cả nước.
    Điều 38. Quy hoạch bố trí dân cư, bố trí sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng ngập lũ
    Việc quy hoạch bố trí dân cư, bố trí sản xuất và xây dựng cơ sở hạ tầng trong vùng ngập lũ phải tuân theo quy hoạch phòng, chống lũ, lụt của lưu vực sông và phù hợp với đặc điểm lũ, lụt của từng vùng.
    Việc xây dựng các kho chứa lương thực, chất độc hại, chất nổ, nhiên liệu, vật tư thiết yếu và tài sản quan trọng khác trong vùng phân lũ, chậm lũ, vùng thường bị ngập lũ phải tuân theo quy hoạch phòng, chống lũ, lụt của lưu vực sông và phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    Điều 39.  Hồ chứa nước và phòng, chống lũ, lụt
    1. Việc xây dựng hồ chứa nước phải tuân theo quy định tại Điều 5 của Luật này và bảo đảm tiêu chuẩn phòng, chống lũ.
    2. Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác và bảo vệ hồ chứa nước phải có phương án bảo đảm an toàn công trình, phòng, chống lũ, lụt cho hạ lưu phù hợp với quy hoạch phòng, chống lũ, lụt của lưu vực sông và phải thực hiện đúng quy trình vận hành hồ chứa nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
    Chính phủ quy định việc phân công, phân cấp điều hành các hồ chứa nước lớn.
    Điều 40. Quyết định phân lũ, chậm lũ
    1. Trong tình huống khẩn cấp khi hệ thống đê bị uy hiếp nghiêm trọng, Thủ tướng Chính phủ quyết định biện pháp phân lũ, chậm lũ có liên quan đến hai tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trở lên theo phương án đã được Chính phủ phê duyệt;  Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định biện pháp phân lũ, chậm lũ trong địa phương theo phương án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
    2. Chính phủ quy định cụ thể các tình huống khẩn cấp cần phân lũ, chậm lũ, các biện pháp di dân an toàn, bảo đảm sản xuất và đời sống của nhân dân, khắc phục hậu quả ngập lụt, trợ cấp cho nhân dân vùng bị ảnh hưởng phân lũ, chậm lũ.
    Điều 41. Huy động lực lượng, phương tiện cho việc phòng, chống và khắc phục hậu quả lũ, lụt
    1. Trong tình huống khẩn cấp, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân các cấp có quyền huy động lực lượng, vật tư, phương tiện của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào để cứu hộ người, cứu hộ công trình và tài sản bị lũ, lụt uy hiếp hoặc gây hư hại và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.
    2. Tổ chức, cá nhân được huy động phải chấp hành các quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    3. Tổ chức, cá nhân có vật tư, phương tiện được huy động theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nếu bị thiệt hại thì được bồi thường theo quy định của pháp luật.
    4. Trong trường hợp đê điều, công trình phòng, chống lũ, lụt hoặc công trình có liên quan đến phòng, chống lũ, lụt đang bị sự cố hoặc có nguy cơ xảy ra sự cố thì chính quyền địa phương phải huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để bảo vệ và cứu hộ theo quy định tại Điều 51 của Luật này, đồng thời báo cáo cơ quan quản lý công trình và chính quyền cấp trên.
    5. Chính phủ quyết định và chỉ đạo các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân  các cấp thực hiện việc khắc phục hậu quả lũ, lụt.
    6. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả lũ, lụt.
    Điều 42. Tiêu nước cho vùng ngập úng
    1. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có vùng thường bị ngập úng phải xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch tiêu úng phù hợp với quy hoạch lưu vực sông, yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường.
    2. Các Bộ, ngành, Uỷ ban nhân dân các cấp và tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm phối hợp thực hiện việc tiêu úng theo sự phân công trong quy hoạch tiêu úng của địa phương.
    3. Nhà nước đầu tư, hỗ trợ cho việc xây dựng, khai thác, bảo vệ công trình tiêu úng, ưu tiên cho các vùng đặc biệt quan trọng.
    Điều 43. Phòng, chống và khắc phục hậu quả hạn hán
    1. Nhà nước đầu tư, hỗ trợ cho việc xây dựng các công trình thủy lợi ở các vùng thường xuyên xảy ra hạn hán để có nguồn nước cho sinh hoạt, sản xuất và phòng, chống cháy rừng.
    2. Tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ tham gia phòng, chống và khắc phục hậu quả hạn hán.
    3. Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước, Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm lập phương án và tổ chức, chỉ đạo có hiệu quả việc phòng, chống và khắc phục hậu quả hạn hán.
    4. Cơ quan quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn có trách nhiệm cung cấp kịp thời thông tin, dự báo về khí tượng thủy văn để phục vụ phòng, chống hạn hán.
    Điều 44. Phòng, chống xâm nhập mặn, nước biển dâng, tràn
    1. Nhà nước đầu tư, hỗ trợ cho việc xây dựng đê biển, cống ngăn mặn, giữ ngọt, bảo vệ và phát triển rừng phòng hộ chắn sóng để phòng, chống xâm nhập mặn và nước biển dâng, tràn.
    2. Việc quản lý, vận hành các cống ngăn mặn, giữ ngọt và các hồ chứa nước, công trình điều tiết dòng chảy phải tuân theo quy trình, quy phạm bảo đảm phòng, chống xâm nhập mặn.
    3. Việc thăm dò, khai thác nước dưới đất vùng ven biển phải bảo đảm phòng, chống xâm nhập mặn cho các tầng chứa nước dưới đất.
    Điều 45. Phòng, chống mưa đá, mưa axít
    1. Cơ quan quản lý nhà nước về khí tượng thủy văn có trách nhiệm cung cấp kịp thời thông tin, dự báo về khả năng xuất hiện mưa đá và thông báo kịp thời cho nhân dân biết để có biện pháp phòng, chống và giảm nhẹ thiệt hại.
    2. Tổ chức, cá nhân phải có biện pháp xử lý khí thải theo quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường để tránh gây mưa axít; trường hợp khí thải chưa xử lý tạo ra mưa axít gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    Điều 46. Nguồn tài chính để phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt, hạn hán và các tác hại nghiêm trọng khác do nước gây ra
    Nguồn tài chính để phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại nghiêm trọng do nước gây ra bao gồm:
    1. Ngân sách nhà nước để xây dựng, tu bổ đê điều, công trình phòng, chống lũ, lụt, hạn hán và các tác hại nghiêm trọng khác do nước gây ra;
    2. Ngân sách nhà nước dự phòng chi cho việc khắc phục hậu quả lũ, lụt, hạn hán và các tác hại nghiêm trọng khác do nước gây ra;
    3. Quỹ phòng, chống lụt, bão của địa phương do nhân dân đóng góp theo quy định của Chính phủ;
    4. Các khoản tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước; của các Chính phủ; của tổ chức, cá nhân ngoài nước và tổ chức quốc tế.

    Chương V
    KHAI THÁC VÀ BẢO VỆ CÔNG TRÌNH THỦY LỢI

    Điều 47. Khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi
    1. Mỗi công trình thủy lợi phải do một tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý khai thác và bảo vệ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định.
    2. Tổ chức, cá nhân khai thác công trình thủy lợi phải thực hiện theo quy hoạch, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định về khai thác công trình của dự án đầu tư đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
    3. Tổ chức, cá nhân khai thác và hưởng lợi từ công trình thủy lợi phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật .
    Điều 48. Trách nhiệm bảo vệ công trình thuỷ lợi
    1. Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ công trình thủy lợi.
    2. Chính phủ quyết định và chỉ đạo các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc bảo vệ công trình thủy lợi.
    3. Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm bảo vệ công trình thủy lợi thuộc phạm vi địa phương.
    4. Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác công trình thuỷ lợi chịu trách nhiệm trực tiếp bảo vệ công trình.
    5. Người phát hiện hành vi, hiện tượng gây tổn hại hoặc đe dọa đến an toàn công trình thủy lợi có trách nhiệm ngăn chặn, khắc phục hoặc báo ngay cho chính quyền địa phương, đơn vị quản lý công trình, cơ quan, tổ chức gần nhất để kịp thời xử lý.
    Điều 49. Phương án bảo vệ công trình thuỷ lợi
    1. Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác công trình thủy lợi phải xây dựng phương án bảo vệ công trình.
    2. Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền phê duyệt và phân cấp  thực hiện phương án bảo vệ công trình thủy lợi.
    Điều 50. Phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi
    1. Phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi bao gồm công trình và vùng phụ cận.
    Việc quy định phạm vi vùng phụ cận phải căn cứ vào đặc điểm công trình, tiêu chuẩn thiết kế và phải bảo đảm an toàn công trình, thuận lợi cho việc vận hành, duy tu, bảo dưỡng và quản lý công trình.
    2. Tổ chức, cá nhân quản lý, khai thác công trình thủy lợi phải xác định phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi và lập phương án sử dụng đất của vùng phụ cận theo quy định của Chính phủ trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
    3. Tổ chức, cá nhân tiến hành các hoạt động trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi có thể gây mất an toàn cho công trình thì phải được phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
    Chính phủ quy định cụ thể phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi, thẩm quyền phê duyệt phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi và các hoạt động phải có phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi.
    Điều 51. Bảo vệ đê điều
    1. Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm thường xuyên bảo vệ đê và các công trình có liên quan.
    2. Hộ đê phải được tiến hành thường xuyên trong mùa lũ, bão và phải bảo đảm cứu hộ đê kịp thời khi đê bị lũ, bão uy hiếp hoặc có nguy cơ bị lũ, bão uy hiếp.
    3. Chính phủ quyết định và chỉ đạo các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện việc bảo đảm an toàn đê.
    4. Các Bộ, ngành và Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có nhiệm vụ tổ chức thực hiện việc tu bổ đê, hộ đê, cứu hộ đê để bảo đảm an toàn đê.
    Căn cứ vào quy định của Luật này và pháp luật về đê điều, Chính phủ quy định cụ thể việc phân công, phân cấp nhiệm vụ bảo vệ đê.
    Điều 52. Các hành vi bị nghiêm cấm trong quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi
    Nghiêm cấm các hành vi sau đây:
    1. Lấn chiếm, sử dụng đất trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình thuỷ lợi; các hoạt động gây cản trở đến việc quản lý, sửa chữa và xử lý công trình khi có sự cố;
    2. Các hoạt động trái phép gây mất an toàn công trình thuỷ lợi trong phạm vi bảo vệ công trình gồm:
    a) Khoan, đào đất đá, xây dựng công trình trái phép trong phạm vi bảo vệ công trình thủy lợi và lòng sông, bãi sông; gây mất an toàn cho công trình và ảnh hưởng đến thoát  lũ nhanh;
    B) Sử dụng đê, kè, cống vào mục đích giao thông vận tải gây mất an toàn cho đê điều;
    c) Sử dụng chất nổ gây hại; tự ý dỡ bỏ hoặc lấp công trình thủy lợi phục vụ lợi ích công cộng;
    d) Xây dựng bổ sung công trình thuỷ lợi mới vào hệ thống công trình thuỷ lợi đã có khi chưa được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt;
    3. Vận hành công trình thuỷ lợi trái với quy trình, quy phạm kỹ thuật đã được quy định;
    4.  Các hành vi khác gây mất an toàn công trình thủy lợi.

    Chương VI
    QUAN HỆ QUỐC TẾ VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

    Điều 53. Nguyên tắc áp dụng trong quan hệ quốc tế về tài nguyên nước
    Nhà nước Việt Nam áp dụng những nguyên tắc sau đây trong việc điều tra cơ bản, bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước quốc tế; phòng, chống, khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; hợp tác quốc tế và giải quyết tranh chấp về nguồn nước quốc tế:
    1. Tôn trọng chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích của các nước có chung nguồn nước;
    2. Bảo đảm công bằng, hợp lý, các bên cùng có lợi và phát triển bền vững trong khai thác, sử dụng nguồn nước quốc tế;
    3. Không làm phương hại tới quyền và lợi ích của các nước có chung nguồn nước phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã  hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia;
    4. Tuân theo pháp luật Việt Nam và thực hiện điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia; tôn trọng pháp luật quốc tế.
    Điều 54. Trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích của Việt Nam đối với nguồn nước quốc tế
    1. Mọi tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ chủ quyền lãnh thổ quốc gia theo đường biên giới trên biển, sông, suối giữa Việt Nam và các nước láng giềng hoặc vùng biển quốc tế.
    2.  Tổ chức, cá nhân có trách nhiệm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước Việt Nam trong việc điều tra cơ bản, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra, bảo vệ môi trường liên quan đến nguồn nước quốc tế theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật Việt Nam.
    Điều 55. Hợp tác quốc tế trong quản lý và phát triển tài nguyên nước
    1. Nhà nước Việt Nam mở rộng hợp tác với các nước, các tổ chức, cá nhân nước ngoài trong việc điều tra cơ bản, bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước; đào tạo cán bộ, nghiên cứu khoa học về tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra.
    2. Nhà nước Việt Nam khuyến khích việc trao đổi các thông tin có liên quan đến nguồn nước quốc tế, phối hợp nghiên cứu và lập quy hoạch bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước quốc tế; phối hợp kế hoạch phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra theo quy định của pháp luật; tạo thuận lợi cho việc quản lý, lập và thực hiện các dự án làm tăng lợi ích chung và hạn chế thiệt hại cho dân cư của các nước có chung nguồn nước.
    Điều 56. Giải quyết tranh chấp về nguồn nước quốc tế
    Khi giải quyết tranh chấp về nguồn nước quốc tế có liên quan đến các nước trong lưu vực sông, ngoài việc áp dụng những nguyên tắc quy định tại Điều 53 của Luật này, còn phải tuân theo những quy định sau đây:
    1. Mọi tranh chấp về chủ quyền trong việc điều tra cơ bản, bảo vệ, khai thác, sử dụng nguồn nước quốc tế; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra giữa các nước có chung nguồn nước trong đó có Việt Nam do Nhà nước Việt Nam và các Nhà nước liên quan giải quyết trên cơ sở thương lượng, phù hợp với điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia và thông lệ quốc tế;  
    2. Mọi tranh chấp về nguồn nước quốc tế xảy ra trong lưu vực sông có tổ chức lưu vực sông quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam tham gia do Nhà nước Việt Nam và các Nhà nước liên quan giải quyết trong khuôn khổ tổ chức lưu vực sông quốc tế theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia.

    Chương VII
    QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

    Điều 57. Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước
    Nội dung quản lý nhà nước về tài nguyên nước bao gồm:
    1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách về bảo vệ, khai thác, sử dụng, phát triển tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;
    2. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật, quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn về tài nguyên nước;
    3. Quản lý công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước; dự báo khí tượng thủy văn, cảnh báo lũ, lụt, hạn hán và các tác hại khác do nước gây ra; tổ chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, lưu trữ tài liệu về tài nguyên nước;
    4. Cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước;
    5. Quyết định biện pháp, huy động lực lượng, vật tư, phương tiện để phòng, chống, khắc phục hậu quả lũ, lụt, hạn hán, xử lý sự cố công trình thuỷ lợi và các tác hại khác do nước gây ra;
    6. Kiểm tra, thanh tra việc chấp hành và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên nước; giải quyết tranh chấp, khiếu nại và tố cáo về các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên nước;  
    7. Quan hệ quốc tế trong lĩnh vực tài nguyên nước; thực hiện điều ước quốc tế về tài nguyên nước mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia;
    8. Tổ chức bộ máy quản lý, đào tạo cán bộ; tuyên truyền, phổ biến pháp luật về tài nguyên nước.
    Điều 58. Thẩm quyền quản lý nhà nước về tài nguyên nước
    1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về tài nguyên nước.
    2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước.
    3. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên nước theo sự phân công của Chính phủ.
    4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về tài nguyên nước trong phạm vi địa phương theo quy định của Luật này, các quy định khác của pháp luật và sự phân cấp của Chính phủ.
    5. Hệ thống tổ chức, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Uỷ ban nhân dân các cấp do Chính phủ quy định.
    Điều 59. Thẩm quyền phê duyệt quy hoạch, dự án về tài nguyên nước
    1. Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư đối với các công trình quan trọng quốc gia về tài nguyên nước.
    2. Chính phủ phê duyệt danh mục, quy hoạch các lưu vực sông lớn và các dự án công trình quan trọng về tài nguyên nước.
    3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt các quy hoạch lưu vực sông, quy hoạch hệ thống công trình thủy lợi theo sự uỷ quyền của Chính phủ.
    4. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, căn cứ vào quy hoạch về tài nguyên nước phê duyệt các dự án công trình về tài nguyên nước theo sự uỷ quyền và phân cấp của Chính phủ.
    5. Chính phủ quy định việc uỷ quyền và phân cấp phê duyệt các quy hoạch, dự án công trình quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều này.
    Điều 60. Điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước
    1. Chính phủ thống nhất quản lý công tác điều tra cơ bản về tài nguyên nước.
    2. Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện việc điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước theo sự phân công của Chính phủ.
    3. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổng hợp, quản lý kết quả điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước và xây dựng cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước.
    4. Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức thực hiện việc điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước tại địa phương theo sự phân cấp của Chính phủ và hướng dẫn của các Bộ, ngành liên quan.
    Chính phủ quy định cụ thể việc phân công, phân cấp và quản lý kết quả điều tra cơ bản về tài nguyên nước.
    Điều 61. Thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước
    Việc phân công, phân cấp thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước phải bảo đảm quyền quản lý tập trung thống nhất của Chính phủ và bảo hộ quyền khai thác, sử dụng hợp pháp tài nguyên nước của tổ chức, cá nhân.
    Chính phủ quy định cụ thể thẩm quyền cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước.
    Điều 62. Giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước
    1. Nhà nước khuyến khích việc hòa giải các tranh chấp về tài nguyên nước.
    Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức và cá nhân trong việc hòa giải các tranh chấp về tài nguyên nước phù hợp với quy định của pháp luật.
    2. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp loại giấy phép về tài nguyên nước nào thì có trách nhiệm giải quyết khiếu nại phát sinh từ việc thực hiện giấy phép đó. Trong trường hợp đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khiếu nại đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Toà án theo quy định của pháp luật.
    3. Những tranh chấp khác về tài nguyên nước được giải quyết theo quy định của pháp luật.
    Điều 63. Hội đồng  quốc gia về tài nguyên nước
    1. Chính phủ thành lập Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước để tư vấn cho Chính phủ trong những quyết định quan trọng về tài nguyên nước thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ.
    2. Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước gồm Chủ tịch Hội đồng là một Phó Thủ tướng Chính phủ, ủy viên thường trực là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các ủy viên khác là đại diện của một số Bộ, ngành, địa phương và một số nhà khoa học, chuyên gia.
    3. Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng quốc gia về tài nguyên nước do Chính phủ quy định.
    Điều 64. Nội dung quản lý quy hoạch lưu vực sông
    1. Nội dung quản lý quy hoạch lưu vực sông bao gồm:
    a) Lập, trình duyệt và theo dõi việc thực hiện quy hoạch lưu vực sông, bảo đảm quản lý thống nhất quy hoạch kết hợp với địa bàn hành chính;
    B) Thực hiện việc phối hợp với các cơ quan hữu quan của các Bộ, ngành và địa phương trong việc điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước của lưu vực sông và trong việc lập, trình duyệt và theo dõi việc thực hiện các quy hoạch lưu vực sông nhánh;
    c) Kiến nghị giải quyết tranh chấp về tài nguyên nước trong lưu vực sông.
    2. Cơ quan quản lý quy hoạch lưu vực sông là cơ quan sự nghiệp thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
    Chính phủ quy định cụ thể tổ chức, hoạt động của cơ quan quản lý quy hoạch lưu vực sông.
    Điều 65. Chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống và khắc phục hậu quả lũ, lụt
    1. Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương và Ban chỉ huy phòng, chống lụt, bão các Bộ, ngành, địa phương có trách nhiệm chỉ đạo, chỉ huy phòng, chống và khắc phục hậu quả lũ, lụt theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật.
    2. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan thường trực của Ban chỉ đạo phòng, chống lụt, bão Trung ương.

    Chương VIII
    THANH TRA CHUYÊN NGÀNH VỀ TÀI NGUYÊN NƯỚC

    Điều 66. Nhiệm vụ của Thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước
    1. Thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước có những nhiệm vụ sau đây:  
    a) Thanh tra việc lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch, phương án bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;
    B) Thanh tra việc thực hiện quy trình, quy phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật về bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra;
    c) Thanh tra việc cấp, thu hồi giấy phép về tài nguyên nước và việc thực hiện giấy phép về tài nguyên nước;
    d) Phối hợp với Thanh tra nhà nước, Thanh tra chuyên ngành của các Bộ, ngành và địa phương trong thanh tra việc tuân theo pháp luật về tài nguyên nước và các hoạt động có liên quan đến tài nguyên nước.
    2. Thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước.
    Chính phủ quy định cụ thể tổ chức và hoạt động của Thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước.
    Điều 67. Thẩm quyền của Thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước
    1. Trong quá trình thanh tra, Đoàn thanh tra và Thanh tra viên có các quyền sau đây:
    a) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp tài liệu, thông tin và trả lời những vấn đề cần thiết;
    B) Thu thập, xác minh chứng cứ, tài liệu liên quan đến nội dung thanh tra và tiến hành những biện pháp kiểm tra kỹ thuật tại hiện trường;
    c) Quyết định đình chỉ các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước không có giấy phép; tạm đình chỉ các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải và các hoạt động khác có nguy cơ gây tác hại nghiêm trọng đến nguồn nước và gây mất an toàn công trình thuỷ lợi; đồng thời báo ngay cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết;
    d) Xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên nước.
    2.  Đoàn thanh tra, Thanh tra viên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các quyết định của mình.
    Điều 68. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với hoạt động của Thanh tra chuyên ngành về tài nguyên nước
    1. Tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có nghĩa vụ thực hiện yêu cầu của Đoàn thanh tra, Thanh tra viên và chấp hành quyết định của Đoàn thanh tra, Thanh tra viên.
    2. Tổ chức, cá nhân khác có trách nhiệm tạo điều kiện cho Đoàn thanh tra, Thanh tra viên thi hành nhiệm vụ.
    Điều 69. Quyền khiếu nại, tố cáo, khởi kiện
    1. Tổ chức, cá nhân là đối tượng thanh tra có quyền khiếu nại hoặc khởi kiện về quyết định hoặc biện pháp xử lý của Đoàn thanh tra hoặc Thanh tra viên theo quy định của pháp luật.
    2. Cá nhân có quyền tố cáo với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên nước.
    3. Cơ quan nhận được khiếu nại, tố cáo, khởi kiện có trách nhiệm xem xét và giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và các quy định khác của pháp luật.

    Chương IX
    KHEN THƯỞNG VÀ XỬ LÝ VI PHẠM

    Điều 70. Khen thưởng
    Tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra; đấu tranh chống các hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên nước được khen thưởng theo quy định của pháp luật.
    Điều 71. Xử lý vi phạm
    1. Người nào có hành vi gây suy thoái, cạn kiệt nghiêm trọng nguồn nước; không tuân theo sự huy động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi có sự cố về nguồn nước; phá hoại hoặc gây mất an toàn công trình thuỷ lợi; không thực hiện các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Luật này hoặc vi phạm các quy định khác của pháp luật về tài nguyên nước thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
    2. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm hoặc bao che cho người có hành vi vi phạm các quy định đối với việc cấp giấy phép về tài nguyên nước và các quy định khác của Luật này; sử dụng trái pháp luật các khoản thu tiền nước, phí, lệ phí thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

    Chương  X
    ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

    Điều 72. Quy định đối với giấy phép về tài nguyên nước được cấp trước ngày Luật tài nguyên nước có hiệu lực
    Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép về tài nguyên nước trước ngày Luật này có hiệu lực mà giấy phép vẫn còn thời hạn và không trái với các quy định của Luật này, thì được áp dụng theo quy định của giấy phép đó, trừ trường hợp tổ chức, cá nhân tự nguyện xin được cấp giấy phép mới theo quy định của Luật này.
    Điều 73. áp dụng Luật tài nguyên nước đối với tổ chức, cá nhân nước ngoài
    Luật này được áp dụng đối với hoạt động bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước; phòng, chống và khắc phục hậu quả tác hại do nước gây ra trên lãnh thổ Việt Nam của tổ chức, cá nhân nước ngoài, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác.
    Điều 74. Hiệu lực thi hành
    Luật này có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 1999.
    Các quy định trước đây trái với Luật này đều bãi bỏ.
    Điều 75. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành
    Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật này.

    Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20  tháng 5 năm 1998.
    CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
    Nông Đức Mạ
    nh

    #8 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 29 November 2009 - 10:56 PM

    TCVN 6000 : 1995
    Hướng dẫn lấy mẫu nước ngầm
    Water quality - Sampling - Guidence on sampling of groundwaters
    1 Phạm vi áp dụng
    Tiêu chuẩn này cung cấp hướng dẫn lập các chương trình lấy mẫu, kỹ thuật lấy mẫu và xử lý mẫu nước ngầm để đánh giá vật lý, hoá học và sinh vật học. Nó không bao gồm việc lấy mẫu để kiểm tra thường xuyên việc khai thác nước ngầm làm nước uống hoặc những mục đích khác, nhưng nó liên quan tới sự điều tra chung chất lượng nước ngầm. Do sự phức tạp của các hệ nước ngầm, nhiều áp dụng lấy mẫu riêng cần đến lời khuyên của các chuyên gia địa thuỷ văn mà không thể trình bày chi tiết trong tiêu chuẩn này.
    Xác định mục đích lấy mẫu nước ngầm là cần thiết trước khi chọn nguyên tắc áp dụng cho một chương trình lấy mẫu cụ thể. Mục đích chính của các chương trình lấy mẫu nước ngầm là điều tra chất lượng cấp nước từ nước ngầm, phát hiện và đánh giá sự ô nhiễm nước ngầm, và tham gia quản lý tài nguyên nước ngầm. Những nguyên tắc trình bày trong tiêu chuẩn này cũng được áp dụng cho những mục tiêu cụ thể hơn sau đây:
    a) xác định tính thích hợp của nước ngầm để làm nguồn nước uống hoặc nước công/nông nghiệp, và giám sát chất lượng của nó khi cung cấp.
    B) để phát hiện sớm sự ô nhiễm của tầng ngậm nước gây ra bởi những hoạt động độc hại tiềm ấn ở trên hoặc dưới mặt đất (thí dụ các điểm đổ phế thải, phát triển công nghiệp, khai khoáng, hoạt động nông nghiệp, thay đổi canh tác;
    c) để hiểu và giám sát sự di chuyển của các chất ô nhiễm nhằm đánh giá tác động của chúng đến chất lượng nước ngầm và để chuẩn hoá và hiệu lực hoá những mô hình chất lượng nước ngầm thích hợp;
    d) để phát triển sự hiểu biết về những biến động của chất lượng nước ngầm, kể cả những biến động gây ra do cố ý (thí dụ thay đổi chế độ bơm nước ngầm, hiệu ứng thấm từ các dòng thải xuống nước ngầm, các hoạt động làm sạch các điểm thải), để đạt được sự quản lý tối ưu tài nguyên;
    e) để thu thấp dữ liệu cho việc tăng cường thi hành luật kiểm soát ô nhiễm.
    2 Tiêu chuẩn trích dẫn
    Những tiêu chuẩn sau đây được áp dụng cùng với tiêu chuẩn này:
    ISO 5667- 1: 1980 , Chất lượng nước, Lấy mẫu , Hướng dẫn lập các chương trình lấy mẫu
    TCVN 5992-1995 (ISO 5667 - 2: 1991), Chất lượng nước, Lấy mẫu - Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu
    TCVN 5993-1995 (ISO 5667 - 3: 1985), Chất lượng nước, Lấy mẫu - Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu
    TCVN 5981-1995 (ISO 6107 - 2: 1989), Chất lượng nước - Thuật ngữ - Phần 2
    3 định nghĩa
    Trong tiêu chuẩn này áp dụng những định nghĩa sau:
    3.1 Tầng ngậm nước: Sự kiến tạo của tầng đá, cát hoặc sỏi thấm nước (nền hoặc địa tầng) và có thể thu được lượng nước lớn.
    3.2 Tầng cách nước vững chắc: Một tầng ngậm nước gồm vật chất rắn chắc do sự xi măng hoá hoặc do sự nén.
    3.3 Nước ngầm: Nước được giữ trong một địa tầng ở dưới mặt đất và thường có thể khai thác được.
    3.4 Giếng, giếng khoan: Một lỗ sâu dưới đất dùng để lấy nước hoặc để thăm dò. Giếng thường có đường kính rộng hơn giếng khoan và thường được đào hơn là khoan. Một giếng khoan thường chỉ dùng cho mục đích giám sát và có thể được nối với ống vách và ống lọc thích hợp ở độ sâu nhất định.
    3.5 Nước mạch lộ: Nước ngầm chảy lên mặt đất một cách tự nhiên.
    3.6 Nước hốc: Nước ở các lỗ hổng ở trong hốc đá, sỏi.
    3.7 ống vách: Một ống bằng chất rắn dùng để bao tạm thời hay vĩnh viễn một giếng hoặc giếng khoan và để tránh các chất rắn của tầng ngậm nước lọt vào giếng khoan và để bảo đảm nước ngầm chỉ vào giếng khoan ở một độ sâu nhất định qua ống lọc.
    3.8 ống lọc: Một loại ống được thiết kế có nhiều lỗ dùng để cho nước chảy vào giếng và ngăn chất rắn của tầng ngậm nước hoặc những chất làm tắc lọc.
    4 Thiết bị lấy mẫu
    4.1 Vật liệu
    Thông tin chung về chọn vật liệu cho thiết bị lấy mẫu và bình được nêu ở TCVN 5992 (ISO 5667 -2). Polyetylen, polypropylen, polycacbonat và thuỷ tinh là các vật liệu nên dùng trong hầu hết các tình huống lấy mẫu.
    Nếu chất lượng sinh học của nước ngầm gây ra những thay đổi về thành phần lý hoá học của nước thì cần dùng các bình cản ánh sáng càng nhiều càng tốt.
    Khi lấy mẫu nước ngầm để phân tích các chất hữu cơ, cần hạn chế tối đa sự ô nhiễm mẫu do các chất hữu cơ dùng làm vật liệu chế tạo thiết bị lấy mẫu hoặc để xây dựng giếng khoan. điều đó đặc biệt quan trọng khi nghiên cứu vết các hợp chất hữu cơ. Trong trường hợp này nên dùng thiết bị đặc biệt bằng thuỷ tinh, thép không rỉ hoặc các vật liệu khác không tiết ra các chất hữu cơ.
    4.1.1 Vật liệu để xây dựng giếng khoan
    Vật liệu để xây dựng giếng khoan (ống vách, ống lọc) phải bảo đảm tránh gây thay đổi thành phần hoá học nước ngầm. Những chỗ nối ở ống vách phải đảm bảo keo hoặc xi măng dùng để nối sẽ không làm ô nhiễm mẫu. Có rất nhiều vật liệu để xây dựng giếng khoan. Về mặt giá thành hạ, dễ kiếm và dễ xử lý thì nên dùng polypropylen, polyetylen dày cho hầu hết mục đích lấy mẫu nước ngầm. Tuy nhiên, loại nước ngầm đã bị ô nhiễm nặng bởi các dung môi hữu cơ tổng hợp sẽ phá huỷ các ống vách và ống lọc bằng PVC. Trong trường hợp như vậy thì nên dùng thép không rỉ hoặc polytetrafloetylen làm vật liệu xây dựng giếng khoan vì chúng bền và trơ.
    4.2 Các loại thiết bị
    4.2.1 Bơm
    Có nhiều loại bơm, trong đó có nhiều loại xách tay, đều có thể dùng cho nước ngầm. Chúng khác nhau nhiều về thiết kế và dung lượng bơm và thích hợp cho những điều kiện khác nhau của cấu trúc giếng khoan và độ sâu lấy mẫu. Bơm hút đặt trên mặt đất không thể đưa nước lên quá 8m, do đó nên dùng bơm điện nhúng cho hầu hết trường hợp lấy mẫu nước ngầm mặc dầu bơm kiểu bong bóng nước có thể hữu dụng trong một số trường hợp, nhất là khi cần lấy mẫu từ giếng khoan có đường kính nhỏ ( 32mm) mà bơm nhúng không thể dùng được. Bơm hút không dùng được khi lấy mẫu để xác định các khí hoà tan trong nước ngầm.
    4.2.2 Thiết bị lấy mẫu theo chiều sâu
    Thiết bị lấy mẫu theo chiều sâu là các dụng cụ có thể được thả xuống giếng khoan và lấy mẫu ở một độ sâu đã định. Chúng khác nhau chủ yếu là cơ chế đóng nắp. Dụng cụ lấy mẫu ống mở cho phép nước đi qua và được đậy kín lại ở một độ sâu đã định bằng cơ học hoặc điện. Trong một số trường hợp, như lấy mẫu tầng chứa nước ngầm bị ô nhiễm bởi một số chất hữu cơ không trộn lẫn với nước, cần dùng thiết bị lấy mẫu được đóng kín theo chiều sâu. Thiết bị này phái có cấu tạo thế nào để bình chứa mẫu không tiếp xúc với nước cho đến khi nó được kích hoạt ở độ sâu yêu cầu. Khi các phương pháp lấy mẫu thông thường không thể dùng được, như lấy mẫu nước ngầm ở rất sâu (nghĩa là ở độ sâu lớn hơn 100m), thì phải dùng thiết bị lấy mẫu theo chiều sâu.
    Cũng có thể lấy mẫu nước ngầm bằng gầu trong khi khoan để cung cấp những số liệu sơ bộ về sự thay đổi chất lượng nước ngầm theo chiều sâu. Trong những trường hợp khác, khi không thể bơm từ giếng khoan thì có thể dùng gầu: một bình được buộc một vật nặng hoặc một bình chứa mở nắp, thả xuống giếng để lấy mẫu. Chỉ nên dùng gầu để lấy mẫu lớp nước trên bề mặt của tầng ngậm nước, và không nên dùng nếu có phương pháp khác.
    4.2.3 Thiết bị lấy mẫu tại chỗ
    Thiết bị loại này gồm những thứ như chén xốp, đục lỗ đầu áp kế đặt thường xuyên ở một độ sâu nhất định trong tầng ngậm nước, từ đó có thể lấy các mẫu riêng lẻ. Những thiết bị lấy mẫu này thường được đặt ở các độ sâu khác nhau trong một giếng khoan. Những chén sành xốp có thể dùng được ở những vùng bão hoà hoặc không bão hoà, một nguồn chân không được nối vào chén qua một ống, và lấy phần nước đi qua lỗ vào chén. Một số thiết bị khác cho nước đi qua một lưới vào một bình chứa và được lấy lên bằng áp lực của không khí nén. áp kế (một ống nhỏ được bọc lưới ở đáy, miệng hở ) có thể lấy mẫu nước ngầm từ một bơm đường kính nhỏ, hoặc bằng cách hút nếu mức nước ở sát đáy. Nhiều áp kế có thể được đóng kín ở những độ sâu khác nhau trong một giếng khoan (xem thêm 5.3.1.3).
    4.2.4 Thiết bị lấy mẫu gói
    Loại thiết bị này cung cấp một biện pháp lấy nước ở những khoảng độ sâu xác định trong một giếng khoan. Thiết bị có thể gồm một hoặc nhiều dụng cụ có khả năng dãn rộng bằng thuỷ lực hoặc khí nén khi đã ở trong vị trí dưới giếng khoan, và nhờ vậy được đóng kín lại. Mẫu nước được lấy từ phần đóng kín bằng bơm hoặc khí choán chỗ. Thiết bị loại này có nhiều kiểu, một số dùng để đặt tại chỗ thường xuyên, số khác có thể xách tay. Thiết bị loại này không thích hợp ở những giếng khoan có vỉa sỏi (xem thêm 5.3.1.1).
    4.2.5 Thiết bị lấy mẫu nước hốc
    để thu được thông tin về chất lượng nước ngầm ở các độ sâu khác nhau của vùng bão hoà hoặc không bão hoà của một tầng ngậm nước, có thể lấy những mẫu nước hốc trong khi khoan giếng. Nước hốc được lấy bằng ly tâm hoặc ép với áp lực cao. Kỹ thuật lấy mẫu này đắt và không nên dùng trong giám sát thông thường vì cần khoan nhiều lỗ.
    5 Cách lấy mẫu
    5.1 Chọn điểm lấy mẫu
    5.1.1 Qui định chung
    Khi lấy mẫu ở các giếng khoan đã có sằn, cần phải nghiên cứu chi tiết cấu trúc để xác định mẫu cần lấy từ tấng đất nào. Khi xây dựng những giếng khoan mới dành riêng để lấy mẫu, thiết kế lỗ khoan (đường kính và chiều sâu) và phương pháp xây dựng cần phải không những đáp ứng được yêu cầu lấy mẫu mà còn phải hạn chế tối đa sự ô nhiễm hoặc gây xáo trộn tầng ngậm nước. Việc sử dụng các chất tấy nhờn chất bôi trơn, bùn, dầu và bentonit trong khi khoan cần phải tránh, nhất là khi cần lấy mẫu để xác định các chất hữu cơ. Cũng cần phải lưu ý rằng đối với những lỗ khoan kết thúc ở một lớp sỏi, và dùng ống bao, lưới chắn ở một độ sâu nào đó phải làm sao không để xảy ra sự trộn lẫn nước ở các độ sâu khác nhau thông qua lớp sỏi. điều đó có thể thực hiện được bằng cách bịt kín lớp sỏi ở vị trí gần kề ống lọc. Ngoài ra, cần chú ý đặt các thiết bị khoan trên mặt đất như thế nào để giếng khoan không bị ô nhiễm bởi nước mặt.
    5.1.2 Giám sát chất lượng nước ngầm dùng để cấp nước uống
    Khi giám sát chất lượng nước ngầm dùng để cấp nước uống hoặc bất kỳ mục đích khác, cần phải lấy mẫu ở mọi giếng khoan, giếng, giếng phun để nhằm bảo vệ việc sử dụng nước. Khi sử dụng nước ngầm để cấp nước uống, cần phải nghiên cứu yêu cầu lấy mẫu nước thô của Nhà nước để biết thêm chi tiết.
    Khi chọn các điểm lấy mẫu cho giám sát cấp nước, cần chọn một số giếng khoan ở xa điểm hút nước để kiểm tra tác động của sự hút nước tới những đặc tính động học của tầng ngậm nước (thí dụ dùng nước ngầm tự nhiên, sự thay đổi chiều dày của tầng bão hoà).
    5.1.3 Giám sát chất lượng nước ngầm cho các mục đích khác
    Với những mục đích lấy mẫu khác, việc chọn được các điểm lấy mẫu tối ưu là khó và phụ thuộc vào mục đích cụ thể cũng như vào những đặc tính của tầng ngậm nước (thí dụ mạch nước trong lớp sỏi hay kẽ nứt, gradien thuỷ lực, chiều của mạch). Trong những trường hợp này nên tham khảo ý kiến của các nhà địa thuỷ văn để chọn được những điểm lấy mẫu thích hợp nhất. Không nên chọn những giếng hoặc giếng khoan có sằn trừ khi chúng tỏ ra thích hợp với mục đích lấy mẫu (trong nhiều trường hợp, các giếng và giếng khoan có sằn xuyên sâu đến hết tầng ngậm nước, để ngỏ hoặc có ống lọc suốt chiều sâu, điều đó gây khó khăn cho kiểm tra chất lượng nước theo chiều sâu).
    Tuy nhiên có thể có một số hướng dẫn chung khi mục đích lấy mẫu là kiểm soát ô nhiễm nước ngầm từ những nguồn khuyếch tán hoặc nguồn điểm.
    5.1.3.1 Sự ô nhiễm khuyếch tán của nước ngầm
    Khi thiết kế mạng lưới kiểm soát để phát hiện sự ô nhiễm khuyếch tán rộng của tầng ngậm nước thì nên chọn những điểm lấy mẫu có sằn dưới dạng những giếng khoan khai thác nước có công suất lớn vì chúng có thể cho những mẫu tổ hợp từ một thể tích lớn nước của tầng ngậm nước. Tuy nhiên, nếu ô nhiễm chỉ ở mức độ thấp với qui mô cục bộ thì việc sử dụng loại giếng khoan này có thể gây ra sự pha loãng nồng độ đến dưới giới hạn phát hiện của phân tích: khi đó nên dùng những giếng khoan được bơm công suất nhỏ. Bộ phận dễ bị ô nhiễm nhất của tầng ngậm nước là ranh giới giữa các vùng bão hoà và không bão hoà. Do đó, ít nhất cần một lỗ khoan có ống lọc ở kề bề mặt của vùng bão hoà. Những lỗ được khoan với mục đích khác sẽ phải được chắn ống lọc ở những độ sâu khác nhau của tầng ngậm nước. Các lỗ khoan cần được bố trí khắp diện tích nghiên cứu. Cần chú ý chọn vị trí đại diện ở những nơi có những điều kiện địa thuỷ văn và sử dụng đất khác nhau và nhạy với ô nhiễm khuyếch tán.
    5.1.3.2 Sự ô nhiễm nguồn điểm của nước ngầm
    Khi lấy mẫu để kiểm soát ô nhiễm gây ra do nguồn điểm, thí dụ từ một điểm thải cho phép, cần chú ý đến tương quan vị trí của nguồn điểm và hướng của mạch nước ngầm. Nếu có thể, nên đặt một lỗ khoan lấy mẫu ở gần kề nguồn điểm. Ngoài ra, ít nhất phải có một lỗ khoan có ống lọc ở độ sâu ngang mức nước nhằm lấy mẫu phát hiện những chất nhẹ hơn nước. Tiếp đó, các điểm lấy mẫu được bố trí theo độ sâu tăng dần kể từ nguồn ô nhiễm. Nên có một hoặc hai lỗ khoan ở trên gradien thuỷ lực kể từ nguồn ô nhiễm để phát hiện những vệt loang, đồng thời cung cấp thông tin về sự lan toả của các chất ô nhiễm mạnh, đặc biệt là vết các kim loại.
    5.2 Thời gian và tần số lấy mẫu
    Kết quả phân tích cần ở trong khoảng sai số cho phép được qui định bởi chương trình lấy mẫu. Nếu không qui định sai số cho phép thì không thể có một chương trình lấy mẫu dựa trên kỹ thuật thống kê. Chi tiết về áp dụng các kỹ thuật thống kê trong qui định tần số lấy mẫu nêu ở ISO 5667 - 1.
    đối với giám sát chất lượng của nguồn cấp nước uống (hoặc những hoạt động giám sát liên quan đến sử dụng nước khác), sự thay đổi chất lượng nước theo thời gian ở một điểm đơn lẻ là yếu tố quan trọng bậc nhất. Với hầu hết các chất cần xác định, tần số lấy mẫu hàng tháng hoặc thậm chí thưa hơn thường là đủ để đánh giá tính thích hợp của nước làm nguồn cấp nước uống. Tham khảo ISO 5667 - 1 và qui định của Nhà nước về hướng dẫn tần số lấy mẫu. Tần số lấy mẫu cao hơn để hạn chế tối đa các nguy cơ cho sức khoẻ cộng đồngcó thể cần khi nước ngầm được dùng làm nước uống không qua khử trùng.
    Khi giám sát những mục tiêu không phải là điều tra nguồn cấp nước uống, tần số lấy mẫu cần chọn phù hợp với sự thay đổi chất lượng nước ngầm về không gian và thời gian. Sự thay đổi chất lượng nước ngầm về không gian và thời gian thường nhỏ hơn nhiều so với nước mặt. ở một vài tầng ngậm nước có hiện tượng chất lượng nước thay đổi theo mùa. Trong một số trường hợp khác, đặc biệt là khi nguồn nước ngầm bị ô nhiễm, chất lượng nước thay đổi nhanh trong vài giờ hoặc vài ngày và thể hiện ở sự thay đổi thành phần mẫu lấy trong một chu kỳ bơm. Những thay đổi này cần được ghi nhận trước khi xác định một chương trình dài hạn.
    Kiểm tra liên tục pH, nhiệt độ, độ dẫn điện có thể rất có ích trong việc quyết định tăng hay giảm tần số lấy mẫu. Nếu kiểm tra liên tục chỉ ra rằng tốc độ thay đổi chất lượng tăng thì tần số lấy mẫu cũng phải tăng. Ngược lại, nếu tốc độ thay đổi giảm hoặc ngừng thì tần số lấy mẫu cần giảm.
    Nếu có sự thay đổi lớn về một chất được kiểm soát thì nên kiểm tra mọi thành phần thường phân tích để đề phòng.
    Giám sát liên tục cũng là biện pháp hữu ích để xác định thời gian lấy mẫu thích hợp ở các lỗ khoan bơm thăm dò và cho những mẫu đại diện của tầng ngậm nước muốn nghiên cứu. Nếu thấy có sự thay đổi lớn về nồng độ (+ 10%)thì điều đó có thể chỉ ra sự thay đổi cục bộ trong bản thân lỗ khoan khi mới bắt đầu bơm, và mẫu sẽ không được lấy cho đến khi sự giám sát cho thấy cân bằng đã được thiết lập. Nếu không có sự thay đổi lớn nào về chất lượng thì có thể lấy mẫu sau khi bắt đầu bơm, khi lỗ khoan đã được làm sạch.
    5.3 Chọn phương pháp lấy mẫu
    5.3.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến lấy mẫu đại diện
    để lấy được mẫu đại diện cho một tầng ngậm nước, cần chọn phương pháp lấy mẫu sao cho nước hút lên có thành phần phản ánh đúng thành phần của nước ngầm cần nghiên cứu cả về không gian lẫn thời gian. Các điểm lấy mẫu nước ngầm đều là giếng hoặc giếng khoan, và chúng có thể làm xáo trộn hệ thống nước ngầm tự nhiên, nhất là khi dùng hoá chất hoặc tạo ra những gradien thuỷ lực.
    Trong một số tình huống lấy mẫu, các khoáng chất có thể tích tụ ở đáy lỗ khoan trong khi lấy mẫu, và do đó mẫu không còn đại diện cho nước của tầng ngậm nước cần nghiên cứu. Cần làm sạch lỗ khoan trước khi lấy mẫu bằng cách bơm xả đi một thể tích nước ít nhất bằng 4 đến 6 lần thể tích của lỗ. Trong một số trường hợp cần áp dụng bơm hai giai đoạn: bơm tốc độ cao trong thời gian ngắn để rửa sạch lỗ khoan, tiếp theo là bơm với tốc độ thấp để đạt đến ổn định chất lượng trước khi lấy mẫu.
    Sự phân tầng theo chiều thắng đứng trong nước ngầm có thể xảy ra do tự nhiên hoặc là hậu quả ô nhiễm. Thí dụ ô nhiễm khuyếch tán tạo ra một lớp ô nhiễm hơn ở trên đỉnh vùng bão hoà, trong khi các chất ô nhiễm có tỉ trọng nặng hơn nước thì tích tụ ở đáy của tầng ngậm nước. Do đó, các phương pháp lấy mẫu phải có khả năng phát hiện những thay đổi về chất lượng nước ngầm cả theo diện tích và chiều sâu.
    Phương pháp lấy mẫu cũng cần phản ảnh được tính phức tạp của các mạch nước ngầm, trong đó phải tính đến cơ chế mạch nước (giữa lớp sỏi hay do kẽ nứt), hướng của mạch và gradien thuỷ lực trong tầng ngậm nước, gradien này có thể tạo ra những dòng chảy tự nhiên mạnh, lên hoặc xuống trong cột nước ở trong lỗ khoan. Nói chung có hai phương pháp lấy mẫu nước ngầm: lấy mẫu bằng bơm và lấy mẫu theo chiều sâu. Cả hai phương pháp đều có ưu điểm và những hạn chế và phải cân nhắc khi dùng.
    5.3.1.1 Lấy mẫu bơm
    Mẫu bơm lấy từ các giếng khoan dùng để cung cấp nước uống hoặc cho các mục đích khác là hỗn hợp nước đi qua ống lọc của lỗ khoan từ nhiều độ sâu khác nhau. Do đó, cách lấy mẫu này chỉ nên dùng khi nước ngầm có thành phần đồng đều theo chiều thắng đứng, hoặc để lấy mẫu tổ hợp theo chiều sâu. Trong những trường hợp này mẫu nước cần được lấy ở chỗ càng gần lối ra từ giếng càng tốt để tránh vấn đề không bền của mẫu (xem 5.4).
    Khi lấy mẫu giếng khoan, cần bơm một thời gian đủ để đấy hết nước cũ trong lỗ ra ngoài và để bảo đảm nước mới vào là được rút trực tiếp từ tầng ngậm nước. Thời gian bơm phụ thuộc kích thước lỗ khoan, tốc độ bơm, vào độ dẫn thuỷ lực và có thể xác định chính xác bằng cách theo dõi sự thay đổi của oxi hoà tan, pH, nhiệt độ hoặc độ dẫn điện của nước bơm lên. Chỉ bắt đầu lấy mẫu khi sự theo dõi cho thấy không có những thay đổi lớn [  + 10% chất lượng (khối lượng/ thể tích) hoặc  + 0,2oC nhiệt độ]. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng ngoài việc đo các thông số đại diện như nhiệt độ, độ dẫn, còn thường phải đo các chất cần xác định được quan tâm trực tiếp, thí dụ các chất hữu cơ trong trường hợp nước ngầm bị ô nhiễm.
    Những phương pháp hiệu quả nhất để lấy mẫu nước ngầm có chất lượng thay đổi theo độ sâu là sử dụng những lỗ khoan thăm dò hoặc lấy mẫu từ một phần được đóng kín của các giếng khoan. Trong phương pháp đầu, dùng bơm xách tay bơm mẫu từ một loạt các lỗ khoan thăm dò ở tương đối gần nhau và đều có ống lọc để đảm bảo mẫu được lấy từ các độ sâu khác nhau của tầng ngậm nước. Trong phương pháp sau, mẫu được lấy từ một đoạn được ngăn kín của một giếng khoan bằng thiết bị bơm gói, và như vậy được một mẫu riêng lẻ ở một khoảng độ sâu nhất định của tầng ngậm nước (xem 4.2.4). Phương pháp sau chỉ dùng được ở những tầng ngậm nước vững chắc và không dùng được ở lỗ khoan có lưới chắn và sỏi bao bọc.
    5.3.1.2 Lấy mẫu theo chiều sâu
    Lấy mẫu theo chiều sâu là nhúng thiết bị lấy mẫu (xem 4.2.2) vào giếng đào hoặc giếng khoan, để cho nước ở độ sâu đã định nạp đầy thiết bị rồi kéo lên và chuyển vào bình chứa. Cách lấy mẫu này thường chỉ thích hợp với các lỗ khoan thăm dò không bơm, mặc dầu có thể dùng bơm nếu có ống nối định vị chiều sâu. Không bao giờ lấy mẫu trong ống vách của giếng khoan vì nước đó không phải có nguồn gốc từ độ sâu cần lấy và chất lượng có thể bị thay đổi do các hoạt động hoá học và vi sinh học.
    Ngay trong những giếng khoan để hở hoặc có ống lọc, lấy mẫu theo chiều sâu có giá trị rất hạn chế do các dòng chảy ở trong lỗ khoan làm cho nguồn gốc của mẫu trở nên không chắc chắn. Lấy mẫu theo chiều sâu chỉ thích hợp khi nguồn gốc của mẫu (nghĩa là chiều sâu của nước chảy vào lỗ khoan) đã biết rõ. điều đó có thể thực hiện được bằng cách xác định độ sâu của dòng nước chảy vào lỗ khoan và những dòng chảy trong cột nước ở lỗ khoan nhờ đo nhiệt độ, độ dẫn và dòng chảy dưới những điều kiện tĩnh và động (bơm).
    Khi cần làm sạch lỗ khoan để lấy mẫu theo chiều sâu, nên bơm nhẹ nhàng trước khi lấy mẫu không nên dùng thiết bị bơm thổi không khí để làm sạch lỗ khoan vì có thể gây ra những thay đổi trong cân bằng hoá học của nước ngầm do đưa thêm oxi vào.
    5.3.1.3 Những phương pháp lấy mẫu khác
    Khi các phương pháp lấy mẫu đã nêu trên không thể áp dụng được hoặc áp dụng không hoàn hảo thì nên lấy mẫu mẫu ở các điểm riêng lẻ bằng một trong các thiết bị lấy mẫu tại chỗ (in-situ). Các thiết bị này là chén có lỗ hoặc đầu áp kế, chiết lấy nước nhờ chân không hoặc khí choán chỗ. Nhiều thiết bị có thể đặt trong lỗ khoan riêng lẻ và một số khác thích hợp để lấy mẫu ở vùng không bão hoà. Các mẫu ở những chiều sâu nhất định có thể thu được bằng cách lấy mẫu hốc. Lấy mẫu hốc là chiết lấy nước (thường dùng ly tâm) từ các mẫu sỏi, đá dưới dạng thỏi khoan. Nó cung cấp phương pháp hữu hiệu nhất để đánh giá những thay đổi chất lượng theo chiều sâu, và để lấy mẫu ở những vùng không bão hoà. Tuy nhiên, để kiểm soát theo chu kỳ thì phương pháp này có nhược điểm là đòi hỏi khoan nhiều hoặc lặp lại nhiều lần và do đó rất đắt. Phương pháp này chỉ nên dùng khi có lời khuyên của các chuyên gia địa thủy văn.
    5.4 Vận chuyển, ổn định và lưu giữ mẫu
    Các mẫu nước ngầm thường được lấy ở những nơi xa phòng thí nghiệm. Do đó, biện pháp lưu giữ và xử lý mẫu trước khi phân tích là vô cùng quan trọng nếu như muốn các kết quả phân tích đại diện cho điều kiện khi lấy mẫu. Tham khảo TCVN 5992 (ISO 5667 -2) và TCVN 5993 (ISO 5667 -3) về hướng dẫn cụ thể này, ở đây nhấn mạnh thêm một số điểm.
    Vấn đề quan trọng nhất khi lấy mẫu nước ngầm là phải bảo đảm thu được những kết quả đúng đắn về chất lượng nước ở dưới mặt đất. Các vấn đề nảy sinh là do những thay đổi lý hoá học khi mẫu được lấy ra khỏi tầng ngậm nước. Vì mẫu được đưa lên môi trường có nhiệt độ và áp suất khác với khi ở dưới tầng ngậm nước nền có thể xảy ra những thay đổi về pH, độ dẫn điện, thế điện hoá, hàm lượng sunfua và các khí hoà tan (đặc biệt là oxi và CO2. Những thay đổi này đến lượt chúng lại có thể gây ra sự thay đổi của một số thành phần. Sự tiếp xúc với không khí cũng gây ra những thay đổi tương tự và sinh ra sự oxi hoá, tăng hoạt động vi sinh, kết tủa, bay hơi và những thay đổi bề ngoài (thí dụ mầu, độ đục). Khi lấy mẫu nước ngầm, điều quan trọng là phải đo tại chỗ những chỉ tiêu có thể đo được.và phân tích càng sớm càng tốt sau khi lấy mẫu. điều đó đặc biệt quan trọng về mặt nhiệt độ, pH, thế điện hoá, độ dẫn điện, độ kiềm và các khí hoà tan (đặc biệt là oxi). Kỹ thuật đo liên tục dùng hệ thống dòng chảy qua bình đo là thích hợp nhất vì nó tránh được sự tiếp xúc của mẫu với khí quyển.
    Cần lọc mẫu tại chỗ để ổn định mẫu, nhất là trong những nghiên cứu đặc biệt. Có rất nhiều loại màng lọc, gồm màng xelulozơ, màng sợi thuỷ tinh và polycabonat. Không loại màng lọc nào là vạn năng, mặc dầu màng bằng sợi thuỷ tinh có một số ưu điểm so với các màng khác cùng cỡ lỗ (thí dụ màng lọc xelulozơ) vì nó không bị bít. Cỡ lỗ của màng lọc nước ngầm nói chung là từ 0,4  m đến 0,5  m, mặc dầu có khi cần dùng cỡ lỗ khác tuỳ theo mục đích lấy mẫu và các chất cần xác định. Dù là dùng màng lọc nào cũng cần báo cáo rõ trong kết quả phân tích là chất "loc được" (ghi rõ cỡ lỗ) thay vì các chất "hoà tan". điều quan trọng là khi lọc nước ngầm kỵ khí thì phải tiến hành trong những điều kiện kỵ khí.
    Trong mọi trường hợp cần phải đảm bảo rằng các bình chứa mẫu gửi đến phòng thí nghiệm phải được đậy kín, bảo vệ khỏi tác động của ánh sáng và sức nóng. Nếu không, chất lượng mẫu có thể thay đổi nhanh chóng do trao đổi không khí, các phản ứng hoá học và sự đồng hoá của vi sinh vật. Nếu mẫu không thể được phân tích ngay trong phòng thì cần phải được ổn định hoặc bảo quản. Khi lưu giữ mẫu ngắn hạn có thể làm lạch đến 4oC; khi lưu giữ mẫu dài hạn hơn cần phải làm đông lạnh đến -20oC. Nếu đông lạnh, cần phải bảo đảm rằng mẫu tan hoàn toàn trước khi phân tích bới vì quá trình đông lạnh có thể làm tăng nồng độ của một số chất ở phần giữa của mẫu, nơi đông lạnh sau cùng.
    Có thể bảo quản mẫu bằng cách thêm hoá chất, nhưng phải bảo đảm rằng phương pháp bảo quản đã chọn không gây cản trở cho phân tích tiếp theo ở phòng thí nghiệm (xem TCVN 5993 (ISO 5667 -3) ).
    6 Chú ý an toàn
    Hướng dẫn chung về an toàn được nêu trong ISO 5667 -1, nhưng cần chú ý những mặt sau đây khi lấy mẫu nước ngầm.
    Luôn chú ý đến mặt đất xung quanh giếng hoặc giếng khoan, nhất là những giếng cũ, vì có thể có nguy cơ bị sụt. Thang và dàn giáo trong hầm giếng có thể không chắc nên phải mặc áo quần bảo hộ tốt khi xuống giếng. ít nhất phải có hai người có mặt khi lấy mẫu: một người luôn luôn ở trên mặt đất và ở vị trí sằn sàng trợ giúp nếu có sự cố hoặc rủi ro có thể xảy ra cho người đang lấy mẫu ở dưới giếng.
    Khi lấy mẫu ở trong một không gian chật hẹp (thí dụ dưới giếng đào, giếng khoan .v..v) cần thử trước không khí ở đó về sự thiếu hụt oxi, có mặt các khí dễ cháy, H2S hoặc các hơi, khí độc khác. điều đó cũng cần ngay khi lấy mẫu ở không gian không chật hẹp quá nhưng bị ô nhiễm nặng bởi những vùng xung quanh nơi có nước ngầm đang được nghiên cứu. Phải luôn mặc quần áo bảo hộ thích hợp khi lấy mẫu, và nhất định không được tiến hành công việc nếu kiểm tra an toàn cho thấy những dấu hiệu không an toàn có thể xuất hiện. Nếu nhất thiết phải lấy mẫu trong những tình huống như vậy thì phải áp dụng những biện pháp đặc biệt với sự đồng ý của những cơ quan chịu trách nhiệm về những vấn đề an toàn và sức khỏe của quốc gia hay địa phương.
    Khi làm việc với những cơ sở nước ngầm bị ô nhiễm nặng, điều quan trọng là phải kiểm tra cấn thận những thông tin về nguồn ô nhiễm để quyết định những kiểm tra an toàn cần thiết. Khi các nghiên cứu cần tiến hành ở gần nguồn ô nhiễm mạnh, các thao tác phải được làm ở phía trên gió nếu có thể, và cấm ngặt ăn, uống, hút thuốc ở khu vực nghiên cứu. để thận trọng, cần kiểm tra y tế những người nghiên cứu ngay sau công việc và sau đó kiểm tra định kỳ ở những khoảng thời gian thích hợp.
    7 Nhận dạng mẫu và ghi chép
    Các bình chứa mẫu cần được đánh dấu bền và rõ ràng. Mọi chi tiết cần cho phân tích mẫu phải được ghi rõ trên nhãn kèm với bình chứa cùng với mọi thông tin liên quan cần có trong bản báo cáo lấy mẫu. Khi cần dùng nhiều bình chứa cho một mẫu, thường chỉ dùng một số để nhận dạng tất cả các bình và ghi mọi chi tiết lấy mẫu vào báo cáo lấy mẫu. Nhãn và mọi ghi chép phải hoàn thành vào thời gian lấy mẫu.
    Những chi tiết ghi trên nhãn và báo cáo phụ thuộc vào mục tiêu lấy mẫu, nhưng trường hợp nào cũng cần ghi đủ mọi thông tin cần thiết để có thể lấy lại mẫu trong mọi điều kiện đồng nhất. Những thông tin cần ghi là:
    a) tên và địa điểm lấy mẫu;
    B) ngày tháng và thời gian lấy mẫu;
    c) bản chất của tầng ngậm nước và địa tầng sinh nước;
    d) loại điểm lấy mẫu (giếng đào, giếng khoan, giếng phun);
    e) những thông tin mô tả liên quan (thí dụ mô tả kích thước giếng);
    f) chế độ bơm và độ sâu hút và/hoặc xả;
    g) mức nước trong giếng;
    h) phương pháp lấy mẫu;
    i) độ sâu lấy mẫu;
    j) bề ngoài của mẫu khi mới lấy (thí dụ mầu, đục, mùi);
    k) các kết quả phân tích tại chỗ (thí dụ pH, oxi hoà tan);
    l) chi tiết về phương pháp bảo quản mẫu đã sử dụng;
    m) chi tiết về lọc tại chỗ (thí dụ cỡ lỗ màng lọc);
    n) chi tiết về phương pháp lưu giữ mẫu đã dùng/ và yêu cầu dùng;
    o) tên người lấy mẫu.
    Phụ lục A cho một thí dụ về báo cáo lấy mẫu có thể được sử dụng trong tình huống khi tất cả các thông tin lấy mẫu đã được thu thập.

    Phụ lục A
    (tiêu chuẩn)
    Báo cáo - Lấy mẫu nước ngầm

    Lý do lấy mẫu: ................................................................................
    ..................................
    Vị trí của điểm lấy mẫu: ................................................................................
    ...............
    Tính chất của điểm lấy mẫu: ...................................................................
    Bản chất của tầng ngậm nước: ....................................................... ...........................
    Ngày ...... tháng ......... năm ....................................................................
    đo mức nước: .................................................Thể tích: ...................................................
    Thời gian Bắt đầu.........................Kết thúc.................Lấy mẫu.................................
    Phương pháp lấy mẫu: ................................................................................
    .......................
    Chế đọ bơm/độ sâu của trạm bơm: ................................................................................
    ....
    Mức nước trong tầng ngậm nước: .........................................................................
    độ sâu lấy mẫu: ................................................................................
    ............................
    Bề ngoài của mẫu: ................................................................................
    ..................
    Chi tiết về phương pháp lưu giữ đã dùng/và yêu cầu dùng: ...............................................
    Tên hoặc tên tắt của người lấy mẫu:..........................................................................
    ...
    Những ghi chú khác: .......................... ........................................................................


    TCVN 5996 : 1995
    ISO 5667-6: 1990
    Hướng dẫn lấy mẫu ở sông và suối
    Water quality- Sampling - Guidance on sampling on rivers and Streams
    1. Phạm vi áp dụng
    Tiêu chuẩn này nêu những nguyên tắc cần áp dụng để lập các chương trình lấy mẫu, kỹ thuật lấy mẫu và xử lý các mẫu nước lấy từ sông và suối dùng để đánh giá các đặc tính lý, hoá và vi sinh. Nó không áp dụng để lấy mẫu nước ở cửa sông hoặc ven biển và áp dụng hạn chế để lấy mẫu ở các kênh đào hoặc những loại nước trong đất liền có chế độ dòng chảy hạn chế.
    Kiểm tra trầm tích và sinh vật đòi hỏi nhưng phương pháp đặc biệt và không là đối tượng của tiêu chuẩn này. Trường hợp các đập tự nhiên hay nhân tạo giữ nước vài ngày hoặc lâu hơn thì nên coi như vùng nước đứng và TCVN 5994 (ISO 5667-4) cung cấp hướng dẫn lấy mẫu trong tình huống này.
    Xác định mục đích lấy mẫu là yêu cầu cơ bản để chọn những nguyên tắc cần áp dụng vào một số vấn đề lấy mẫu nhất định. Những thí dụ về mục đích lấy mẫu ở sông và suối là như sau:
    a- Để đánh giá chất lượng nước ở một số lưu vực sông;
    b- Để xác định tính thích hợp của một sông hay suối làm nguồn nước uống;
    c- Để xác định tính thích hợp của một sông hay suối dùng cho nông nghiệp (thí dụ để tưới, dự trữ);
    d- Để xác định tính thích hợp của một sông hay suối dùng để duy trì và hoặc phát triển nghề đánh cá, nuôi cá;
    e- Để xác định tính thích hợp của một sông hay suối cho giải trí (thí dụ thể thao nước, bơi);
    f- Để nghiên cứu tác động của việc xả nước thải hoặc các sự cố chảy tràn vào nguồn nước;
    g- Để đánh giá tác động của việc sử dụng đất tới chất lượng sông hoặc suối;
    h- Để đánh giá hiệu ứng tích tụ và giải phóng các chất
    - Từ trầm tích đáy tới các loài thuỷ sinh trong nước hoặc
    - Tới trầm tính đáy;
    i- Để nghiên cứu tác động hút nước, điều khiển dòng sông và sự chuyển nước từ sông này sang sông khác tới chất lượng hoá học của sông và các loài thuỷ sinh;
    j- Để nghiên cứu tác động của các công trình ở sông tới chất lượng nước (thí dụ thêm/ di chuyển đập nước, chuyển hành kênh/ cấu trúc đáy).
    2. Tiêu chuẩn trích dẫn
    Những tiêu chuẩn sau đây áp dụng cùng tiêu chuẩn này;
    ISO 555-1: 1973, Đo dòng chảy lỏng trong kênh hở - Phương pháp pha loãng để đo dòng chảy đều - Phần 1: Phương pháp tiêm tốc độ không đổi.
    ISO 555-2: 1987. Đo dòng chảy chất lỏng trong kênh hở - Phương pháp pha loãng để đo dòng chảy đều - Phần 2: Phương pháp tích hợp.
    ISO 555-3: 1982, Đo dòng chảy trong kênh hở - Phương pháp pha loãng để đo dòng chảy đều - Phần 3: Phương pháp tiêm tốc độ không đổi và phương pháp tích hợp dùng phóng xạ đánh dấu.
    ISO 748: 1979, Đo dòng chảy chất lỏng trong kênh hở - Phương pháp tốc độ - diện tích.
    ISO 1070: 1973, Đo dòng chảy chất lỏng trong kênh hở - Phương pháp độ dốc - diện tích.
    ISO 5667-1: 1980, Chất lượng nước - Lấy mẫu - Phần 1: Hướng dẫn lập các chương trình lấy mẫu.
    TCVN 5993 -1995 (ISO 5667-2: 1982), Chất lượng nước - Lấy mẫu - Hướng dẫn kỹ thuật lấy mẫu.
    TCVN 5994- 1995 (ISO 5667-4: 1987), Chất lượng nước - Lấy mẫu - Hướng dẫn lấy mẫu ở hồ ao tự nhiên và nhân tạo.
    TCVN 5981-1995 (ISO 6107-2: 1989), Chất lượng nước - Từ vựng - Phần 2
    ISO 8363: 1986, Đo dòng chảy chất lỏng trong kênh hở - Hướng dẫn chung về chọn phương pháp.
    ISO 7882: 1985, Chất lượng nước - Phương pháp lấy mẫu sinh vật - Hướng dẫn lấy mẫu sinh vật đáy không xương sống lớn.
    ISO 8265: 1988, Chất lượng nước - Lựa chọn và sử dụng các thiết bị lấy mẫu định lượng và sinh vật đáy không xương sống lớn trên nền đá vùng nước ngọt nông.
    3. Định nghĩa
    Trong tiêu chuẩn này áp dụng những định nghĩa sau đây:
    3.1. Sông: Vùng nước tự nhiên chảy liên tục hoặc chảy theo mùa, dọc theo lối xác định, vào đại dương, biển, hồ, chỗ trũng, đầm lầy hoặc vào các dòng nước khác, TCVN 5981 (ISO 6107-2).
    3.2. Suối: Nước chảy liên tục hoặc theo mùa dọc theo một lối xác định, giống như sông, nhưng ở quy mô nhỏ hơn, TCVN 5981 (ISO 6107-2).
    3.3. Lấy mẫu tự động: Một quá trình mà ở đó các mẫu được lấy liên tục hoặc gián đoạn, không phụ thuộc vào sự can thiệp của con người, và theo một chương trình đã định trước, TCVN 5981 (ISO 6107-2)
    3.4. Lấy mẫu đẳng tốc: Một kỹ thuật, trong đó mẫu từ dòng chảy vào miệng thiết bị lấy mẫu với tốc độ bằng tốc độ của dòng nước ở ngay kề thiết bị lấy mẫu, TCVN 5981 (ISO 6107-2).
    3.5. Lấy mẫu ngẫu nhiên: Lấy mẫu mà khả năng thu được các giá trị nồng độ khác nhau của chất cần xác định tuân theo đúng phân bố xác suất của chất đó.
    3.6. Lấy mẫu hệ thống: Dạng phổ biến nhất của lấy mẫu không ngẫu nhiên, trong đó các mẫu được lấy ở những khoảng thời gian định trước,
    thường là bằng nhau.
    3.7. Nơi lấy mẫu: Diện tích chung trong một vùng nước từ đó các mẫu được lấy, TCVN 5981 (ISO 6107-2)
    3.8. Điểm lấy mẫu: Vị trí chính xác trong một địa điểm lấy mẫu mà từ đó các mẫu được lấy, TCVN 5981 (ISO 6107-2).
    4. Thiết bị lấy mẫu
    4.1. Vật liệu
    Các bình polyetylen, polyropylen, polycacbonat và thuỷ tinh là thích hợp cho hầu hết các tình huống lấy mẫu. Các bình thuỷ tinh có ưu điểm là mặt trong của chúng dễ nhìn thấy và chúng có thể được khử trùng trước khi dùng lấy mẫu vi sinh vật.
    Cần dùng bình thuỷ tinh khi muốn phân tích các chất hữu cơ, trong khi đó các bình polyetylen nên dành để đựng mẫu xác định những chất chính có trong thuỷ tinh (thí dụ natri, kali, bo, silic) và mẫu xác định vết các kim loại. Tuy nhiên các bình polyetylen có thể là không thích hợp cho một số mẫu xác định vết kim loại (như thuỷ ngân) và chỉ nên dùng chúng nếu các phép thử sơ bộ chỉ ra những mức độ ô nhiễm chấp nhận được.
    Nếu dùng bình thuỷ tinh để giữ nước được đệm yếu thì nên chọn thuỷ tinh bosilicat thay cho thuỷ tinh xôđa.
    Tham khảo các qui trình phân tích tiêu chuẩn thích hợp về hướng dẫn chi tiết chọn bình chứa mẫu. Xem TCVN 5993 (ISO 5667-3) về cách làm sạch bình chứa mẫu.
    4.2. Thiết bị
    4.2.1 Dụng cụ lấy mẫu bề mặt
    Để lấy mẫu phân tích hoá học thường chỉ cần nhúng một bình rộng miệng (thí dụ xô hoặc ca) xuống ngay dưới mặt nước. Nếu cần lấy mẫu ở một độ sâu đã định (hoặc lấy mẫu các khí hoà tan) thì nhất thiết phải dùng các thiết bị khác (xem 4.2.2 và 4.2.3).
    Khi lấy mẫu lớp nước trên mặt để phân tích vi sinh (đặc biệt là vi khuẩn), có thể dùng các bình lấy mẫu như khi lấy mẫu nước uống. Những bình này thường có dung tích ít nhất là 250 ml và có nút vặn, nứt thuỷ tinh nhám hoặc loại nút khác có thể khử trùng được và bọc trong giấy nhôm. Nếu dùng nút vặn thì gioăng cao su silicon phải chịu được nhiệt độ khử trùng ở trong nồi hấp ở 121oC hoặc 160 oC. Nếu sự ô nhiễm vi khuẩn từ tay có thể sẽ ảnh hưởng thì buộc bình vào que hoặc kẹp (xem 5.3.2).
    4.2.2. Thiết bị nhúng
    Các thiết bị này gồm những bình kín chứa không khí (hoặc khí trơ) và được nhúng xuống nước đến một độ sâu định nhờ một cây cáp. Một bộ phận mở nắp bình (thí dụ một lò xo) và nước choán chỗ không khí đến đầy bình. Nếu trong thiết bị có bình thích hợp, có thể lấy mẫu khí hoà tan. Bình Dussart [1] là một thí dụ của loại thiết bị lấy mẫu kiểu này.
    4.2.3. Thiết bị có ống hở
    Loại này chứa một ống bình trụ hở cả hai đầu và hai nắp hoặc nút vừa khít gá trên bản lề. Hai nắp được mở khi thiết bị được nhúng tới độ sâu cần thiết. Sau đó thiết bị hoạt động nhờ sức nặng của dây cáp thả xuống và lò xo được nhả ra, làm các nắp hoặc nút được đóng chặt. Các thiết bị kiểu này chỉ hoạt động được khi dòng nước có thể tự do đi qua ống mở. Thí dụ về loại thiết bị này là máy lấy mẫu Butner [2], Kemmerer [3], van Dorn [1] và Friedinger [4].
    Trong khi các thiết bị loại kể trên thích hợp cho lấy mẫu ở vùng nước đứng hoặc chảy chậm thì thiết bị lấy mẫu kiểu Zukovsky [5,6] thích hợp cho lấy mẫu ở những sông, suối chảy nhanh vì ống hở khi đó được đặt nằm ngang (không thẳng đứng) và cho phép lấy mẫu đẳng tốc dễ dàng. Mọi hoạt động khác giống như thiết bị lấy mẫu Friedinger.
    4.2.4. Bơm
    Lấy mẫu bằng bơm là phương pháp phổ biến. Bơm thường dùng là loại nhúng hút và loại nhu động. Chọn bơm phụ thuộc vào tình huống lấy mẫu.
    Mục 5.3 cho một số lời khuyên về chọn bơm.
    4.2.5. Máy lấy mẫu tự động
    Thiết bị loại này dùng tốt trong nhiều tình huống lấy mẫu ở sông và suối vì nó cho phép lấy các mẫu loạt mà không cần sự can thiệp của con người. Thiết bị loại này là rất hữu dụng trong việc lấy mẫu tổ hợp và nghiên cứu những thay đổi chất lượng nước theo thời gian.
    Cần bảo đảm rằng tính không ổn định của mẫu không dẫn đến sai số do thời gian lưu giữ mẫu quá dài (xem 5.4).
    Các thiết bị lấy mẫu tự động có thể là loại liên tục hay gián đoạn và có thể hoạt động theo thời gian hoặc theo dòng chảy. Việc chọn loại thiết bị tự động phụ thuộc vào tính huống lấy mẫu, thí dụ lấy mẫu để xác định giá trị trung bình của vết các kim loại tạo ở sông hoặc suối thì tốt nhất nên chọn thiết bị lấy mẫu liên tục theo dòng chảy và dùng hệ thống bơm nhu động. Vì các máy lẫy mẫu tự động được trang bị bằng nhiều loại bơm khác nhau nên việc chọn bơm phụ thuộc vào tình huống lấy mẫu cụ thể (xem 5.3).
    5. Phương pháp lấy mẫu
    5.1. Chọn điểm lấy mẫu
    5.1.1. Chọn nơi lấy mẫu
    Muốn chọn điểm lấy mẫu chính xác, cần chú ý hai mặt:
    a- Chọn nơi lấy mẫu (thí dụ định điểm lấy mẫu ở một lưu vực sông hoặc suối);
    b- Xác định điểm lấy mẫu chính xác ở nơi lấy mẫu đã chọn.
    Mục đích lấy mẫu thường xác định chính xác nơi lấy mẫu cần chọn (như trường hợp xác định chất lượng của một dòng thải), nhưng đôi khi mục đích đó chỉ dẫn đến một ý nghĩa chung chung về nơi lấy mẫu, như đặc tính chất lượng nước ở một lưu vực sông.
    Chọn nơi lấy mẫu cho các trạm lấy mẫu lẻ thường dễ. Thí dụ cho một trạm monitoring ghi nên của chất lượng nước có thể là một cái cầu thông thường, hoặc ở dưới một nguồn xẻ, hoặc dưới một nhánh sông để cho nước trộn đều trước khi đến trạm. Các trạm kiểm soát điểm lấy cấp nước cần được cố định trong những giới hạn hẹp (thí dụ ở ngay sát điểm hút nước).
    5.1.1.1 Tầm quan trọng của sự trộn lẫn
    Khi cần nghiên cứu tác động của dòng nhánh tới chất lượng trong một vùng của dòng chính, cần ít nhất hai nơi lấy mẫu, một ở ngay thượng lưu của chỗ rẽ nhánh và một ở dù xa về phía hạ lưu để đảm bảo sự trộn lẫn hoàn toàn.
    Các đặc điểm vật lý của các nhánh ảnh hưởng mạnh đến cự ly yêu cầu để trọn lẫn hoàn toàn vào dòng chính.
    Sự trộn lẫn là do 3 chiều:
    a- Thẳng đứng (từ mặt đến đáy);
    b- Nằm ngang (từ bờ này sang bờ kia);
    c- Dọc theo dòng (san bằng nồng độ các thành phần vì nước chảy xuôi).
    Khoảng cách mà trên đó các nhánh trộn lẫn theo 3 chiều này cần được chú ý khi chọn nơi và điểm lấy mẫu, và phụ thuộc vào tốc độ dòng nước. Kỹ thuật đánh dấu bằng phẩm là rất hữu hiệu trong nghiên cứu quá trình trộn lẫn, và đo độ dẫn điện cũng hỗ trợ rất nhiều.
    Sự trộn lẫn theo chiều thẳng đứng của các dòng thải vào hầu hết các dòng chính thương hoàn toàn trong vòng 1km. Thông thường, một dòng chỉ cần lấy mẫu ở độ sâu mặc dầu sự phân tầng có thể xảy ra ở những sông và suối chảy chậm do thiếu ứng nhiệt độ và mật độ. Trong những trường hợp này có thể phải lấy mẫu ở nhiều độ sâu và cần thử sơ bộ để đánh giá mức độ phân tầng (xem 5.1.2).
    Khoảng cách cần để trộn lẫn hoàn toàn theo chiều nằm ngang phụ thuộc vào những khúc ngoặt và thường là nhiều kilomet. Do đó, để có được các mẫu đại diện, cần lấy mẫu ở hai hoặc nhiều điểm theo chiều ngang và ở hạ lưu so với dòng nhánh.
    Xem xét khoảng cách trộn lẫn dọc theo dòng có thể là quan trọng khi quyết định tần số lấy mẫu. Để được những kết quả đại diện ngay dưới một dòng nhánh không đều cần tăng tần số lấy mẫu thì hơn là lấy mẫu ở hạ lưu, nơi mà sự trộn lẫn theo chiều dọc là đã hoàn toàn.
    Khoảng cách trộn lẫn hoàn toàn đến trong vòng 1% của sự đồng nhất hoàn toàn có thể tính gần đúng theo công thức (xem ISO 555-2):
    (thiếu công thức)
    Trong đó:
    l là chiều dài của vùng trộn lẫn, m;
    b là chiều rộng trung bình của vùng, m
    c là hệ số Chezy đối với vùng (15<c<50);
    g là gia tốc trọng trường, m/s2;
    d là chiều sâu trung bình của vùng, m.
    Cần lưu ý rằng một số phép thử cho thấy công thức trên cho giá trị thấp nơi các suối nhỏ có chiều rộng khoảng 5m và cho giá trị cao với các sông có chiều rộng khoảng 50m.
    5.1.1.2 Nghiên cứu thời gian di chuyển
    Dữ liệu về thời gian di chuyển thường rất co ích trong việc chọn địa điểm lấy mẫu. Thí dụ nơi lấy mẫu cần được chọn để có thể tìm thấy một số thành phần hoặc chất gây ô nhiễm nào đó, đặc biệt là từ những nguồn gây ô nhiễm gián đoạn. Như vậy cần biết thời gian các chất còn có mặt trong vùng nghiên cứu (nghĩa là thời gian di chuyển). Thời gian di chuyển là thông số quan trọng trong lấy mẫu để nghiên cứu tốc độ thay đổi của các thành phần không bền (thí dụ trong cách tự làm sạch của vùng nước, thời gian di chuyển có thể cung cấp thông tin về hệ số tốc độ động học).
    Để xác định thời gian di chuyển, có thể dùng một trong ba phương pháp chính: dùng vật nổi bề mặt (ISO 748), dùng tác nhân đánh dấu (ISO 555-2 và ISO 155-3), hoặc đo dòng chảy khi biết diện tích mặt cắt (ISO 1070).
    Cần đo ít nhất ở 5 lưu lượng độ dòng khác nhau và thời gian di chuyển nhận được đem vẽ lên đồ thị phụ thuộc tốc độ chảy. Ngoại suy hoặc nội suy đồ thị cho biết các thời gian di chuyển khác. Tuy nhiên, ngoại suy quá 10% tốc độ chảy đã đo có thể dẫn đến thông tin thiếu chính xác về thời gian di chuyển.
    Tham khảo ISO 5667-1 xem hướng dẫn chung về thời gian di chuyển, và ISO 8363 xem hướng dẫn đo dòng chảy của chất lỏng trong kênh hở.
    5.1.2. Chọn điểm lấy mẫu
    Chọn điểm lấy mẫu thích hợp trở nên khó khăn khi chất cần xác định phân bố không đồng đều trong vùng nước cần nghiên cứu. Nói chung, nơi lấy mẫu như vậy là nên tránh vì các mẫu lấy sẽ không đại diện cho phần lớn vùng nước, trừ trường hợp nơi láy mẫu đó là cần thiết. Nếu thấy có sự phân bố không đồng đều của chất cần xác định ở nơi đã chọn thì cần thử thực nghiệm về bản chất và mức độ không đồng đều theo ba chiều. Nếu các phép thử đó cho thấy rằng chất cần xác định phân bố đồng đều thì bất kỳ điểm lấy mẫu nào cũng có thể được. Ngược lại, cần tìm nơi lấy mẫu khác, nơi mà chất cần xác định phân bố đồng đều. Nếu không thể tìm được nơi khác thì phải lấy mẫu ở nhiều điểm để bảo đảm kết quả là đại diện. Những mẫu này thường được tổ hợp lại và tạo ra một mẫu tổ hợp đại diện cho chất lượng nước ở nơi lấy mẫu mà không cần phân tích từng mẫu riêng. Tuy nhiên, không được tạo mẫu tổ hợp như vậy khi nghiên cứu các khí hoà tan hoặc các chất dễ bay hơi.
    5.2. Tần số và thời gian lấy mẫu.
    Kết quả phân tích từ một chương trình lấy mẫu cần phải cung cấp được thông tin cần thiết với sai số chấp nhận được theo quy định của chương trình. Nếu không định nghĩa rõ mức sai số thì một chương trình lấy mẫu dựa trên thống kê là không thể chấp nhận được. Chi tiết về áp dụng thống kê vào tần số lấy mẫu tham khảo ở ISO 5667-1.
    Khi có những thay đổi chu kỳ hay thường xuyên, nên đánh giá nồng độ trung bình bằng cách lấy mẫu hệ thống thay cho lấy mẫu ngẫu nhiên (với số mẫu bất kỳ), và bảo đảm rằng khoảng cách thời gian giữa hai lần lấy mẫu liên tiếp là đủ ngắn để phát hiện những thay đổi.
    Khi lấy mẫu hệ thống cần phải bảo đảm rằng tần số lấy mẫu không trùng với bất kỳ chu kỳ tự nhiên nào của nơi nghiên cứu hoặc với những tác động theo thời gian (thí dụ một bơm đặt ngay ở thượng lưu và khởi động 1 lần trong 1 giờ, nghiên cứu tác động của nó không phải là đối tượng lấy mẫu).
    Trong các hệ thống sông, những thay đổi theo chu kỳ đều đặn về chất lượng nước có thể xảy ra, thí dụ chu kỳ một ngày, một tuần lễ và một năm. Khi đó thời gian lấy mẫu cần chọn cẩn thận để có thể đánh giá được bản chất những thay đổi này. Nếu những thay đổi này là không thường xuyên hoặc ở mức độ nhỏ hơn những biến đổi ngẫu nhiên thì nên chọn thời gian lấy mẫu ngẫu nhiên, hoặc lấy những mẫu hệ thống trong suốt chu kỳ quan tâm. Mặt khác, thời gian cần được chọn để mẫu được lấy ở những phần khác nhau của chu kỳ, trừ khi cần nghiên cứu những nồng độ đặc biệt, mẫu được lấy ở những thời gian xác định của mỗi chu kỳ. Tham khảo ISO 5567-1 về hướng dẫn chung.
    5.3. Chọn phương pháp lấy mẫu
    5.3.1. Lấy mẫu để phân tích lý hoá học
    Trường hợp lấy mẫu dưới bề mặt (thí dụ 50cm từ bề mặt) chỉ cần nhúng bình (xô, ca) vào dòng sông hoặc suối, sau đó chuyển nước vào bình chứa mẫu. Cũng có thể nhúng trực tiếp bình chứa mẫu xuống sông hoặc suối. Cần tránh lấy mẫu ở lớp bề mặt, trừ khi đó là yêu cầu.
    Khi muốn lấy mẫu ở độ sâu đã định, cần dùng thiết bị lấy mẫu đặc biệt (xem 4.2.2 và 4.2.3).
    Hệ thống lấy mẫu ở sông cần chọn và lắp đặt cẩn thận để tránh tắc ống vào do các hạt rắn ở trong nước. Cần bảo vệ lối vào bằng cách quấn lưới thô và lưới tinh, thường xuyên kiểm tra và loại bỏ các mảnh tích tụ, và những yếu tố này cần được chú ý tới khi chọn điểm lấy mẫu. Lôi vào của thiết bị lấy mẫu cũng phải đảm bảo cản trở dòng chảy không đáng kể.
    Cần bảo vệ hệ thống lấy mẫu ở nơi đặt (thí dụ bờ sông) khỏi bị phá hoại và những tác động khác như nhiệt độ cao. Khi yêu cầu dùng bơm thì nên dùng bơm nhúng hơn là bơm hút trong tình huống lấy mẫu các khí hoà tan. Chú ý rằng các khí hoà tan bị giải phóng và kéo theo chất rắn lơ lửng lên bề mặt khi áp lực bị giảm do dùng bơm hút. Phải loại bỏ phần nước ban đầu khi dùng các hệ thống bơm. Điều này cũng có thể xảy ra khi dùng bơm nhu động như trong nhiều máy lấy mẫu tự động xách tay. Khi lấy mẫu khí hoà tan nên dùng thiết bị lấy mẫu nhúng đậy kín (4.2.2).
    Nhiễm bẩn mẫu cũng có thể bắt nguồn từ vật liệu của hệ thống, bao gồm các bộ phận của bơm. Khi đó nên dùng bơm nhu động với các ống bằng chất dẻo trơ hoặc silicon. Sự phát triển của vi khuẩn và/ hoặc tảo ở trong ống bơm có thể ảnh hưởng, do đó phải rửa bơm thường xuyên hoặc dùng các biện pháp thích hợp khác. Mức độ gây ô nhiễm mẫu bởi các chất hữu cơ của các loại ống khác nhau cần được chú ý khi chọn vật liệu ống.
    Khi tốc độ của bơm thấp, tác dụng của trọng trường có thể làm giảm nồng độ các chất rắn lơ lửng ở trong mẫu. Bởi vậy, khi cần nghiên cứu các chất lơ lửng không nên dùng bơm tốc độ chậm kể cả các bơm nhu động công suất thấp thường dùng trong các máy lấy mẫu tự động. Tốt nhất là lấy mẫu trong điều kiện đẳng tốc, nhưng nếu thực tế không cho phép thì tốc độ dòng trong ống vào không được dưới 0,5m/s và trên 3,0 m/s.
    Nồng độ của các chất cần xác định ở trong hệ thống bơm cần phải giống như ở trong nước lấy mẫu. Lấy mẫu các chất không tan cần được tiến hành trong điều kiện đẳng tốc, điều đó yêu cầu ống vào của hệ thống lấy mẫu phải hướng ngược với chiều chảy của sông hay suối.
    ở những nơi mức nước thay đổi lớn thì nên gá hệ thống lấy mẫu hoặc ống vào lên một bệ, nhưng cần chú ý bệ dễ bị hỏng. Cũng có thể dùng cách treo ống dẫn vào một phao nổi (hoặc thiết bị tương tự) và được nối vào thiết bị lấy mẫu bằng một ống mềm, ống mềm này được neo bằng một vật đặt ở đáy sông. Một loại thiết bị đắt tiền hơn bố trí hệ thống nhiều ống vào và cho phép lấy mẫu ở độ sâu thích hợp.
    5.3.2. Lấy mẫu để phân tích vi sinh
    Khi lấy mẫu để phân tích vi sinh (thí dụ vi khuẩn) cần phải dùng các bình sạch và tiệt trùng. Giữ bình kín cho đều khi nạp mẫu và sau đó đậy kín bằng mảnh giấy kim loại. Ngay khi nạp mẫu mới mở miếng giấy loại và nút ra và cầm trên tay. Chú ý tránh gây ô nhiễm nút và cổ bình do tay. Ngay sau khi nạp mẫu phải đậy nút kín. Chú ý trước khi nạp đầy không cần tráng bình bằng mẫu. Động tác lấy mẫu là nắm lấy phần đáy bình rồi cằm cổ bình thẳng vào nước đến độ sâu khoảng 0,3m dưới bề mặt, sau đó xoay bình để cổ bình hơi ngược lên và miệng bình hướng vào dòng chảy. Như vậy trong đại đa số trường hợp nước vào bình không tiếp xúc với tay, trừ khi xoáy mạnh thì ô nhiễm do tay có thể xảy ra. Nếu bị ô nhiễm do tay thì phải loại bỏ mẫu và lấy mẫu khác trong những điều kiện ít xoáy hơn, hoặc buộc bình vào que hoặc kẹp như đã nêu ở 4.2.1. Những thiết bị được khử trùng đặc biệt cũng có thể được dùng để lấy mẫu ở những độ sâu xác định.
    Tham khảo ISO 7828 và ISO 8265 về hướng dẫn chi tiết lấy mẫu vi sinh.
    5.4. Vận chuyển, ổn định và lưu giữ mẫu
    Hướng dẫn về vận chuyển, ổn định và lưu giữ mẫu đã được trình bày trong ISO 5667-3 và các tiêu chuẩn phân tích. Tuy nhiên, ở đây nhấn mạnh một số điểm.
    Khi cần phân tích các chất hoà tan (thí dụ vết các kim loại trong nước sông), cần phải tách các chất không tan ngay sau khi lấy mẫu (nghĩa là ngay ở lấy mẫu, trước khi chuyên chở đến phòng thí nghiệm). Điều đó nhằm hạn chế đến mức tối thiểu những thay đổi thành phần có thể xẩy ra sau khi lấy mẫu và trước mọi xử lý hoặc phân tích. Có nhiều kỹ thuật nhưng thông dụng nhất là lọc tại chỗ (nghĩa là ngoài phòng thí nghiệm).
    Có nhiều loại màng lọc như màng xelulô, sợi thuỷ tinh và polycacbonat. Không có loại màng lọc nào là vạn năng, nhưng màng lọc bằng sợi thuỷ tinh có một ưu điểm trội hơn các màng loại khác cùng cổ lỗ (thí dụ màng xelulozơ) là nó ít bị bít chắc bởi các hạt rắn. Cỡ lỗ thông thường nhất là 0,4 um đến 0,5um, mặc dầu có nhiều cỡ lỗ khác dùng cho những trường hợp riêng. Dù là dùng loại (màng lọc nào thì kết quả phân tích cũng nên báo cáo là "các chất lọc được" thay vì "các chất tan" (nêu rõ cỡ lỗ màng lọc đã dùng).
    Trong mọi trường hợp, bình chứa mẫu chuyển đến phòng thí nghiệm phân tích phải được đậy kín và bảo vệ khỏi sánh sáng, sức nóng, vì chất lượng mẫu có thể thay đổi nhanh chóng do trao đổi khí, phản ứng hoá học và sự đồng hoá của các sinh vật. Những mẫu không thể phân tích trong ngày cần được ổn định và bảo quản theo phương pháp phân tích tiêu chuẩn. Để lưu giữ mẫu trong thời gian ngắn (nghĩa là không quá 24 h), làm lạnh đến 4oC, để giữ mẫu trong thời gian dài (trên 1 tháng), phải để đông lạnh ở - 20oC. Nếu đông lạnh, phải đảm bảo mẫu tan hết trước khi dùng, bởi vì quá trình đông lạnh có thể lam tăng nồng độ một số chất ở phần dung dịch bị đông lạnh sau cùng. Đông lạnh còn có thể làm mất chất cần xác định do kết tủa hoặc bị hấp phụ lên các kết tủa (thí dụ canxi photphat và sulfat). Khi mẫu tan băng, sự hoà tan thường không hoàn toàn và dẫn đến những kết quả sai lạc, nhát là với các photphat, thuốc trừ sâu và các hợp chất polyclo diphenyl.
    Mẫu có thể được bảo quản bằng cách thêm hoá chất, nhưng cần chú ý không dùng các hoá chất gây cản trở cho phân tích. Khi dùng chất bảo quản, không cần tráng bình trước bằng nước sẽ lấy mẫu, nhưng bình phải rửa sạch và sấy khô trước đó. Nói chung, trong các trường hợp lấy mẫu nên tráng bình trước bằng nước sẽ lấy, trừ trường hợp đặc biệt gây hậu quả không mong muốn.
    Tất cả mọi bước bảo quản cần được ghi trong báo cáo. Các thông số lý, hoá (như nhiệt độ pH) có thể đo tại chỗ thì nên làm tức thời hoặc ngay sau khi lấy mẫu.
    5.5. Kiểm tra chất lượng
    Mọi phương pháp lấy mẫu cần được định kỳ kiểm tra chất lượng để xác định hiệu quả của chúng, đặc biệt là các mặt liên quan đến vận chuyển, ổn định và lưu giữ mẫu trước khi phân tích. Điều đó có thể thực hiện bằng mẫu thêm (mẫu thật được thêm một lượng đã biết các chất cần xác định) và mẫu kép.
    6. Chú ý an toàn
    Tham khảo hướng dẫn chung về chú ý an toàn ở ISO 5667-1. Tuy nhiên, cần lưu ý các mặt sau:
    Đi đôi nơi lấy mẫu hàng ngày trong mọi thời tiết là rất quan trọng; nếu không bảo đảm tiêu chuẩn an toàn này thì phải loại bỏ chỗ lấy mẫu mặc dù nơi lấy mẫu đó là rất cần cho chương trình lấy mẫu.
    Nếu khi lấy mẫu phải lội xuống sông hoặc suối, cần tính đến khả năng có bùn lỏng, cát lún, hố sâu và dòng chảy xiết. Nên dùng gậy hoặc dụng cụ dò để đảm bảo an toàn khi lội. Với dụng cụ đó ở phía trước, người lấy mẫu có thể biết được dòng chảy, hố, mô đất, bùn lầy hoặc cát bùn. Nếu nghi ngại, nên dùng dây bảo hiểm cột vào vật chắc ở trên bờ.
    Cảnh báo - Nếu phải lấy mẫu ở nơi xa và sát nơi nước sâu và làm việc một mình, cần mặc bảo hiểm và dùng phương tiện liên lạc thường xuyên với trung tâm.
    Cũng cần chú ý những nguy hiểm gây ra do vi khuẩn, vi trùng và thú có ở nhiều sông và suối.
    7. Nhận dạng mẫu và ghi chép
    Các bình mãu cần được đánh dấu rõ ràng. Mọi chi tiết về mẫu cần được ghi lên nhãn kèm theo bình mẫu, kèm thêm cả kết quả của những phép thử tại chỗ (thí dụ pH, oxi hoà tan, độ dẫn). Nếu cần dùng nhiều bình cho một mẫu, thường phải đánh dấu bình bằng mã số và ghi chép đầy đủ chi tiết về mẫu vào bản ghi. Nhãn và bản ghi phải luôn luôn hoàn thành ở ngay thời gian lấy mẫu.
    Bản ghi chi tiết của báo cáo lấy mẫu phụ thuộc vào đối tượng lấy mẫu và nói chung cần gồm những điểm sau:
    a- Tên sông hoặc suối;
    b- Nơi lấy mẫu (phải mô tả đầy đủ để người khác có thể tìm thấy vị trí chính xác mà không cần hướng dẫn gì thêm)
    c- Điểm lấy mẫu;
    d- Ngày tháng và giờ lấy mẫu;
    e- Tên người lấy mẫu;
    f- Điều kiện thời tiết lúc lấy mẫu (kể cả nhiệt độ không khí) và/hoặc ngay trước lúc lấy mẫu (thí dụ lượng mưa, mây, nắng);
    g- Vẻ ngoài, điều kiện và nhiệt độ của vùng nước;
    h- Điều kiện dòng chảy của vùng nước (cũng có ích nếu có thể ghi những thay đổi đáng chú ý về dòng chảy trước khi lấy mẫu);
    i- Vẻ ngoài của mẫu (thí dụ màu nước, chất rắn lơ lửng, độ trong, bản chất và lượng chất rắn lơ lửng, mùi);
    j- Loại thiết bị lấy mẫu được dùng;
    k- thông tin về kỹ thuật bảo quản được dùng;
    l- Thông tin về kỹ thuật lọc được dùng;
    m- Thông tin về yêu cầu lưu giữ mẫu.
    Phụ lục A
    (Thông tin)
    Tàu liệu tham khảo
    [1] Kingstord, M. và cộng sự. Lấy mẫu nước mặt. Technical publication No2, Vụ đất và nước, Bộ lao động và Phát triển, Wellington, Niu Zelan (1977)
    [2] Rutner, F. Cơ sở ao hồ học, Đại học tổng hợp Toronto, Toronto (19530
    [3] APH/WPCF/AWA, Các phương pháp tiêu chuẩn kiểm tra nước, nước và nước thải, (xuất bản lần thứ 14), Hiệp hội sức khoẻ quần chúng, New York (1975).
    [4] Gotter, H.L và Clym, R.S,. Các phương pháp phân tích lý, hoá học nước ngọt, International Biological Programme, Hand. Book, 8 (xuất bản lần thứ 2), Basil Blackwell, Oxtord (1978).
    [5] Zadin, W.I.., Các phương pháp nghiên cứu thuỷ sinh hoặc NXB Trường cao đẳng, Maskva (1960)
    [6] Zadin, W.I.., các phương pháp nghiên cứu thuỷ sinh học, NXB khoa học, Vacsava, (1961), trang 136.

    #9 congtrinhngam.tk

    congtrinhngam.tk

      Newbie

    • Thành viên
    • Pip
    • 1 Bài viết:
    • Joined 18-November 09
  • Reputation: 0

    Posted 30 November 2009 - 07:59 AM

    Tặng các bạn 2 cuốn giáo trình + đề cương ôn tập môn DCTV và cuốn giáo trình của thầy Nguyễn bách Thảo.Giảng viên DH Mỏ địa chất
    http://giupban.forum...f3/topic-t5.htm

    Edited by congtrinhngam.tk, 19 December 2009 - 09:33 PM.


    #10 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 30 November 2009 - 11:30 PM

    Blog của bạn thật ấn tượng
    Cảm ơn bạn rất nhiều
    Chúc bạn mọi điều tốt lành.

    #11 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 08 December 2009 - 04:05 PM

    1

    Edited by phamvancuong.dctv, 23 September 2010 - 10:28 AM.


    #12 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 10 December 2009 - 10:45 PM

    http://www.4shared.c...TapchiDCTV.html

    #13 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 10 December 2009 - 11:22 PM

    http://www.4shared.c...11/BDNamBo.html

    #14 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 15 December 2009 - 08:01 AM

    http://www.4shared.c..._giang_GWW.html

    #15 phamvancuong.dctv

    phamvancuong.dctv

      Intermediate Member

    • Thành viên
    • PipPipPip
    • 142 Bài viết:
    • Joined 19-April 09
  • Reputation: 20
    • Yahoo! Status:
    • Gender:Male
    • Đến từ:Nam Định

    Posted 15 December 2009 - 08:14 AM

    Phần mềm ĐCTV
    http://www.4shared.c...df464e/gww.html



    Bài viết tương tự Collapse